SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3 HOÀN THIỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN X
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3 HOÀN THIỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT QUỐC GIA
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ, NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang 1 MỞ ĐẦU 01
1.1 Lí do chọn đề tài 01
1.2 Mục đích nghiên cứu 03
1.3 Đối tượng nghiên cứu 04
1.4 Phương pháp nghiên cứu 04
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 05
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 05
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 06
2.2.1 Thực trạng chung 06
2.2.2 Về phía giáo viên 06
2.2.3 Về phía học sinh 07
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 07
2.3.1 Giúp các em xóa tan mặc cảm “văn nghị luận xã hội khô khan”, 07
2.3.2 Hướng dẫn học sinh hình thành kĩ năng phân tích đề 08
2.3.2.1 Kĩ năng xác định vấn đề nghị luận 09
2.3.2.2 Kĩ năng xác định phạm vi nghị luận (đối tượng nghị luận) 10
2.3.3 Kĩ năng tìm ý cho đoạn văn nghị luận 11
2.3.4 Kinh nghiệm giúp học sinh “gỡ khó” trong tìm ý và dẫn chứng 12
2.3.4.1 “Gỡ khó” trong tìm ý và dẫn chứng nhờ vào văn bản Đọc hiểu 12
2.3.4.2 “Gỡ khó” trong tìm ý và dẫn chứng nhờ vào tích lũy kiến thức 13
2.3.5 Các bước tiến hành cụ thể minh họa 16
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 20
3.1 Kết luận 20
3.2 Kiến nghị 20
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.
1.1.1 Xuất phát từ mục tiêu giáo dục.
Luật Giáo dục Việt Nam, Điều 2 đã đề rõ mục tiêu cần đạt được là “pháttriển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe,thẩm mĩ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòngyêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng caodân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” (http://luatvietnam.vn)
Gần đây nhất, trong dự thảo chiến lược được Thứ trưởng Bộ GDĐTNguyễn Văn Phúc trình bày tại phiên họp toàn thể chuyên đề “Chiến lược pháttriển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045” do Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn chủ trì vào sáng 30/12/2021thì: “Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 của giáo dục Việt Nam là phát triển toàndiện con người Việt Nam, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi
cá nhân, làm nền tảng cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc” (https://moet.gov.vn)
Để góp phần hiện thực hóa mục tiêu chung của giáo dục nước nhà, mỗigiáo viên bên cạnh việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trungtâm, người giáo viên còn phải bám sát cấu trúc đề thi THPT quốc gia được BộGiáo dục và Đào tạo đưa ra hàng năm
1.1.2 Xuất phát từ vai trò của văn nghị luận xã hội.
Trong văn nghị luận, dạng nghị luận xã hội chính là tinh hoa của các mônkhoa học xã hội Bởi biết nghị luận là con người biết phán đoán và suy luận, có
tư duy logic để trình bày và bảo vệ quan điểm của mình; biết phản bác nhữngquan điểm, nhận thức sai lệch một cách thuyết phục Năng lực trình bày quanđiểm, nhận thức cá nhân, năng lực tranh luận và bảo vệ hay bác bỏ các quanđiểm chính là thước đo chính xác sự trưởng thành của mỗi người
Thực tế cho thấy, văn nghị luận xã hội có vai trò to lớn thúc đẩy nhậnthức của học sinh về các vấn đề xã hội Từ những hiểu biết và nhận thức đúngđắn đó để các em có những hành động chuẩn mực trong ứng xử của cuộc sốngthường nhật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và lối sống của người Việt Nam
ta
1.1.2 Xuất phát từ thực tế đổi mới cấu trúc và nội dung kiểm tra; cấu trúc
và nội dung thi môn Ngữ văn hiện nay.
Trong khuôn khổ đề thi hiện nay, việc yêu cầu học sinh viết đoạn vănnghị luận bàn về một vấn đề của đời sống xã hội đã trở thành bắt buộc, khôngchỉ là quy định trong khung đề THPT quốc gia môn Ngữ văn mà còn bắt buộctrong các bài kiểm tra định kì, đề thi học sinh giỏi, Điều đó càng có ý nghĩakhẳng định tầm quan trọng của dạng nghị luận xã hội đối với học sinh bậcTHPT Việc rèn luyện cho các em học sinh tiếp cận và xử lí tốt các dạng câu hỏithường gặp trong đề thi hiện nay của dạng nghị luận này là vô cùng quan trọng
và cần thiết
Trang 4Từ năm 2017 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thay đổi cấu trúc và nộidung môn thi Ngữ văn Về mặt hình thức, không còn viết một bài văn hoànchỉnh mà chỉ cần viết một đoạn văn khoảng 200 chữ Về mặt nội dung, cũngkhông còn trình bày suy nghĩ về một vấn đề độc lập mà là một vấn đề có liênquan đến nội dung đoạn Đọc – hiểu Tuy nhiên, trong chương trình Ngữ vănTHPT, thời lượng tiết học dành cho việc rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận xãhội lại vô cùng ít ỏi (chỉ có 02 tiết học, thuộc chương trình Ngữ văn lớp 12, tập1- một tiết cho dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí; một tiết cho dạng bàinghị luận về một hiện tượng đời sống) Thực tế đó khiến học sinh không có điềukiện để rèn luyện viết văn nghị luận xã hội một cách thường xuyên dẫn tới kếtquả đạt được không cao
Không những thế, nội dung bài học trong chương trình sách giáo khoa
vẫn hướng dẫn học sinh viết bài văn nghị luận về một vấn đề độc lập (thay vì viết đoạn văn bàn về một vấn đề có liên quan đến nội dung trong đoạn văn bản phần Đọc hiểu như đề kiểm tra/đề thi hiện nay yêu cầu Sự “khập khiễng”,
“lệch pha” giữa “học” và “hành” ấy khiến cho người dạy và người học gặp phảirất nhiều những khó khăn
Thế nhưng, đến thời điểm hiện tại chúng tôi vẫn chưa thấy có tài liệu nàonghiên cứu nào bàn sâu về thực trạng và giải pháp hữu hiệu mang tính địnhhướng, chỉ dẫn cụ thể, chi tiết về cách viết đoạn văn nghị luận xã hội về một vấn
đề có liên quan đến nội dung trong đoạn văn bản phần Đọc hiểu, nhằm giúp họcsinh biết cách nghị luận xã hội sao thiết thực, hiệu quả trong những kì thi trướcmắt và trong cuộc đời lâu dài về sau Bản thân đồng nghiệp trong tổ bộ môn, nhàtrường cũng chưa có kinh nghiệm để giải quyết, khắc phục
Đó là những lí do cơ bản thôi thúc chúng tôi trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu
đề tài: “Một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh trường THPT Hoằng Hóa 3
hoàn thiện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội theo định hướng đề thi tốt nghiệp THPT quốc gia” Với mong muốn giúp học sinh trường THPT Hoằng
Hóa 3 nhuần nhuyễn hơn trong kĩ năng thực hành dạng câu hỏi nghị luận này, đểkhông còn lúng túng, “sợ” khi thực hành làm các bài kiểm tra, bài thi Và thôngqua đó các em học sinh cũng sẽ được phát triển khả năng tư duy, khả năng nhậnthức về những vấn đề trong cuộc sống một cách đúng đắn để hoàn thiện nhâncách của bản thân Từ đó mà biết ứng xử đẹp, ứng xử có văn hóa trong cuộcsống để “chung sống” hài hòa, thân thiện và hữu ích
Đồng thời, qua đề tài này, chúng tôi cũng mong muốn được trao đổi vớiđồng nghiệp một vài kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học sinh thực hành viếtđoạn văn nghị luận xã hội phù hợp với cấu trúc, nội dung trong đề thi hiện nay
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi tiến hành đề tài này với ba mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất: Giúp học sinh nắm được những phương pháp và kĩ năng cơ bản
để làm tốt một bài văn nghị luận xã hội trong các kì thi, đặc biệt là kì thi tốtnghiệp THPT quốc gia năm 2022
Thứ hai: Thông qua quá trình rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận
xã hội, giúp học sinh nâng cao khả năng trình bày quan điểm của mình; cung
Trang 5cấp cho các em vốn tri thức phong phú về các vấn đề xã hội nhằm giúp các emnâng cao nhận thức và kĩ năng sống … để các em sống tốt hơn, đẹp hơn, từngbước hoàn thiện nhân cách.
Thứ ba: Đề tài này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các giáo viênNgữ văn trường THPT Hoằng Hóa 3 khi hướng dẫn học sinh thực hành viếtđoạn văn nghị luận xã hội theo cấu trúc, nội dung đề thi hiện nay Bạn bè đồngnghiệp các trường bạn cũng có thể tham khảo, góp ý
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghị luận xã hội có mặt trong chương trình Ngữvăn từ bậc trung học cơ sở đến bậc trung học phổ thông, tuy nhiên trong phạm vi
đề tài này, chúng tôi chỉ tìm hiểu phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội chohọc sinh trung học phổ thông đặc biệt là học sinh lớp 12 chuẩn bị tham dự kì thitốt nghiệp THPT quốc gia
Phạm vi nghiên cứu: Các dạng đề, các đề bài nghị luận xã hội được họctrong chương trình THPT đặc biệt tập trung vào 2 dạng đề cơ bản: nghị luận vềmột tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra,chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Chúng tôinghiên cứu các tài liệu liên quan về đoạn văn, về văn nghị luận xã hội, về cấutrúc và nội dung đề thi Từ đó khái quát thành những khái niệm cụ thể, quythành phương pháp dạy học của bản thân
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp: + Chúng tôi tiến hành khảo sát nội dung, cách ra đề câu nghị luận xãhội trong đề thi môn Ngữ văn - Kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia từ năm 2017 trởlại đây, để thấy sự khác biệt so với bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 (tậpmột) Từ đó tìm ra phương pháp dạy học, hướng dẫn học sinh hình thành kĩnăng viết đoạn văn nghị luận xã hội phù hợp, hiệu quả cao
+ Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát, tổng hợp, thống kê, thu thậpthông tin ở lớp 11C6 qua thực tế thực hành làm bài kiểm tra thường xuyên trước
và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm để thấy tính hiệu quả của sáng kiếnkinh nghiệm này
Trang 62 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Đầu năm 2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố cấu trúc đề thi, nộidung thi môn Ngữ văn và đề minh họa cho kì thi THPT quốc gia Trong đó, câunghị luận xã hội phải đảm bảo những yêu cầu cụ thể:
“Với phần nghị luận xã hội, các bạn học sinh cần nắm được các yếu tố cần có cho một đoạn văn nghị luận hoàn chỉnh Nội dung thường hướng đến sẽ
là những tư tưởng đạo lí, những hiện tượng xã hội để qua đó các bạn có thể nêu
ra nguyên nhân, thực trạng để từ đó đưa ra luận điểm để lấy dẫn chứng, đúc kết được giải pháp và rút kinh nghiệm cho bản thân Bên cạnh đó, đoạn văn cũng nên đảm bảo được số lượng chữ quy định” (http://sachhoc.com/cấu trúc đề thi
THPT quốc gia tất cả các môn năm 2022)
Và câu nghị luận xã hội trong Đề thi tham khảo do Bộ Giáo dục và Đàotạo công bố hồi cuối tháng 3/2022 với tỉ trọng điểm 2,0/10,0 điểm Cụ thể đềnhư sau:
“Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng
200 chữ) trình bày suy nghĩ cảu anh/chị về sự cần thiết phải trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc”.
Những định hướng trong đề thi ấy đã chỉ ra ba yêu cầu cơ bản của câunghị luận xã hội mà học sinh cần chú ý khi làm bài thi:
+ Về mặt hình thức, không còn viết một bài văn hoàn chỉnh mà chỉ cần
viết một đoạn văn khoảng 200 chữ (tương đương khoảng 20 đến 25 dòng, tùy cỡchữ học sinh viết)
+ Về mặt nội dung, cũng không còn trình bày suy nghĩ/ vai trò về một vấn
đề độc lập mà là một vấn đề có liên quan đến nội dung đoạn văn bản phần Đọchiểu
+ Về tỉ trọng điểm của câu nghị luận xã hội trong bài thi: là 2,0/10,0 điểm thay cho 3,0/10,0 điểm như trước đây
Thực tế khảo sát đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn những năm gần đây,chúng tôi nhận thấy: từ cơ sở ngữ liệu mở của phần Đọc hiểu, đề yêu cầu viếtđoạn văn nghị luận xã hội, dù hỏi thế nào thì cũng chỉ quy về hai dạng bài sau:
Một là, Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
Hai là, Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
Để hoàn thành tốt đoạn văn nghị luận xã hội trong bài thi, đòi hỏi học sinhphải biết bám sát vào những quy định trên để định hướng ôn tập Đồng thời, quanhững trải nghiệm của bản thân, học sinh biết trình bày những hiểu biết, ý kiến,quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội Từ đó, các
em rút ra được những bài học (nhận thức và hành động) cho bản thân Để làmtốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác cơ bản của bàivăn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bácbỏ ) mà còn phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội để bài viếttăng tính thuyết phục
Trang 7Vì những lẽ trên mà bản thân tôi nhận thấy cần thiết phải có những “bíquyết” hữu hiệu giúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng để hoàn thành tốt yêu cầuviết đoạn văn nghị luận xã hội trong kì thi THPT quốc gia.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thực trạng chung:
Thực trạng học và làm bài nghị luận xã hội đang là một vấn đề được quantâm trong các trường THPT nói chung và trường THPT Hoằng Hóa 3 nói riêng.Theo thống kê và theo dõi kết quả thi học kì, thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệpTHPT quốc gia của mấy năm gần đây thì chất lượng làm bài môn Ngữ văn củahọc sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt Nhưng phần điểm bị trừ trong bài lại rơi vàophần nghị luận xã hội Nguyên nhân chính là do các em chưa hiểu đúng yêu cầucủa đề thi, chưa biết cách nghị luận Trình bày vấn đề còn chung chung, chưa cụthể và rõ ràng, thiếu dẫn chứng Đặc biệt, nghị luận xã hội là kiểu nghị luận đòihỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức thực tế, dẫn chứng xác thực, tin cậy thì các em lại chưa có Nhiều em còn mắc các lỗi về dùng từ, diễn đạt có emcòn xác định sai đề, dẫn đến sai kiến thức cơ bản do suy diễn cảm tính, suy luậnchủ quan hoặc tái hiện quá máy móc dập khuôn trong tài liệu, có chỗ “râu ông
nọ cắm cằm bà kia” nhầm nghị luận về tư tưởng đạo lí sang nghị luận về sự việchiện tượng đời sống; hoặc nhầm đối tượng, phạm vi nghị luận
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định cấu trúc đề thi mới nhưng nội dungchương trình học trong sách giáo khoa thì “đã cũ”, các tiết dạy chính khóahướng học sinh cách làm bài văn nghị luận xã hội về một vấn độc lập – chẳnghạn, trong bài học “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” (Ngữ văn 12, tập một,Nxb Giáo dục 2007, tr20) yêu cầu giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, lậpdàn ý cho đề bài:
“Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu:
Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn?”
Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng
200 chữ theo yêu cầu của đề kiểm tra định kì, đề thi THPT quốc gia, thậm chí là
đề thi học sinh giỏi… hoàn toàn dựa vào việc hướng dẫn của mỗi giáo viên dạy.Chưa kể, từ cách viết một bài nghị luận chuyển thành một đoạn văn nghị văn làhoàn toàn khác nhau Tất cả là một thách thức không nhỏ đối với cả người dạy
và người học
2.2.2 Về giáo viên
Mặc dù trong những năm gần đây, hầu hết giáo viên đã nắm chắc đượccấu trúc của các đề kiểm tra định kì, đề thi học sinh giỏi, đề thi THPT quốcgia , một phần không thể thiếu là câu hỏi liên quan đến kiểu bài nghị luận xãhội, thế nhưng một số giáo viên vẫn cho rằng câu hỏi chỉ chiếm tỉ lệ điểm trongbài 20% số điểm nên chưa tập trung nhiều để hướng dẫn học sinh, khiến kĩ nănglàm câu hỏi phần nghị luận xã hội của các em chưa tốt, dẫn đến kết quả tổng thểbài thi chưa thực sự cao Tư tưởng học sinh làm bài lại chỉ chăm chú đến phầnnghị luận văn học mà không nghĩ rằng đây là phần dễ đạt điểm tối đa Chưa kể
có khá nhiều học sinh và ngay cả thầy cô cứ nghĩ rằng văn hay là câu chữ phải
“bay bổng”, phải “lung linh”, nghĩa là dùng cho nhiều phép tu từ, nhiều từ
Trang 8“sang”, nhiều thuật ngữ “oách” mà quên rằng văn hay là sự chân thực, sự giản
dị, tức là nói những điều mình nghĩ và nói bằng ngôn ngữ dung dị, không cầncao giọng, không cần uốn éo làm duyên
2.2.3 Về học sinh:
Trong những năm gần đây học sinh nói chung, học sinh trường THPTHoằng Hóa 3 nói riêng không hứng thú với bộ môn Ngữ văn, một phần vìnguyên nhân khách quan từ xã hội, nhưng phần khác là do làm văn khó, lại mấtnhiều thời gian “Công thức” làm văn cho các em lại không hình thành cụ thểnhư các môn Toán, Lí, Hóa Mặt khác, thời đại 4.0 với điện thoại thông minh,máy tính bảng đã lôi cuốn, hấp dẫn các em đam mê với những quảng cáo,games, tán gẫu, chát chít mà không sử dụng hữu ích trong cập nhật thông tin,khám phá tri thức Điều đó khiến các em nghèo nàn vốn sống thực tế, ngạigiao tiếp cũng là một nguyên nhân khiến những bài làm văn nghị luận xã hộicủa các em học sinh “thiếu chất sống”, thiếu dẫn chứng, dẫn đến nghị luậnchung chung, không “trúng” vấn đề, không “trúng” đối tượng, phạm vi nghịluận Chẳng hạn, đề yêu cầu nghị luận về tư tưởng đạo lí lại làm sang nghịluận về hiện tượng sự việc đời sống; Cùng một vấn đề nghị luận nhưng đốitượng, phạm vi hướng tới khác nhau nhưng học sinh vẫn trình bày quan điểm,nội dung nghị luận như nhau, chung chung, thậm chí không liên quan chút nàođến đối tượng, phạm vi mà đề yêu cầu
Bên cạnh đó, việc quy định dung lượng là một đoạn văn “khoảng 200chữ”, nhiều học sinh vẫn chưa “căn” được, cứ phóng bút viết, thậm chí hết nhiềuthời gian mà bài lại không cô đọng, súc tích
Việc học sinh mặc cảm văn nghị luận xã hội “khô khan”, “khó viết hay”,
“khó viết có sức hút”, nên viết “cho xong” cũng là nguyên nhân khiến bài viếtcủa các em khó lay động được tâm hồn người đọc
Vậy nên việc nâng cao, mở rộng, rèn thêm cho học sinh kĩ năng làm vănnghị luận xã hội là rất cần thiết
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giúp các em xóa tan mặc cảm “văn nghị luận xã hội khô khan”, “khó viết hay”.
“Luận” là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điềukia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềmtin của mình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tìnhcảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lậpluận Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, sosánh…
Đề thuyết phục được người đọc, người nghe tin theo những điều mìnhchia sẻ, trình bày, dù là văn nghị luận xã hội hay nghị luận văn học bao giờ cũngđòi hỏi người viết phải có đủ hai yếu tố:
- Một là, có kiến thức phong phú, sâu rộng về vấn đề mình bàn luận Bởi
khi có kiến thức phong phú đồng nghĩa với việc chúng ta nắm được lẽ phải, từ
đó đưa ra được những luận điểm chắc chắn, giàu sức thuyết phục như người xưa
đã tổng kết: “Nói phải, củ cải cũng nghe” Bởi vấn đề cốt lõi của văn nghị luận
Trang 9là làm sao để người đọc, người nghe “tâm phục, khẩu phục” chứ không phải ápđặt cách hiểu của mình cho người khác Mặt khác, kiến thức phong phú sẽ giúpcho ngòi bút chúng ta cũng dễ “tung hoành”, hành văn vì thế mà trôi chảy, sáng
rõ Trái lại, kiến thức nghèo nàn, sáo rỗng thì bài viết nhạt nhẽo, nặng nề, hôkhẩu hiệu – đây là lí do cơ bản làm văn nghị luận nói chung “khô khan”, “khóviết hay” Để viết văn nghị luận xã hội không “khô”, không “khó”, chúng ta cầntích lũy kiến thức về đời sống xã hội trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội – nhất là những sự kiện, hiện tượng đang “nóng”, đang diễn ra hàngngày quanh ta… Có những hiểu biết đó chúng ta mới bày tỏ quan điểm, thái độ,nhận định cũng như có đủ lý lẽ, dẫn chứng để thuyết phục người khác Bởi thực
tế đã chứng minh: cái gì được quan niệm rõ ràng thì diễn đạt sẽ mạch lạc
- Hai là, phải thành thạo những kĩ năng cơ bản về tạo lập đoạn văn nghị
- Nội dung: xác định đúng vấn đề cần nghị luận, tập trung bàn vào vấn đề
đó, không cần khai thác quá nhiều luận điểm sẽ khiến bài viết lan man, chungchung
- Cấu trúc đoạn văn: Nếu đề không yêu cầu cụ thể thì hình thức đoạn văn
nên sử dụng là: Tổng – phân – hợp.
Lưu ý: Đoạn văn Tổng – phân – hợp là đoạn văn phối hợp diễn dịch với
qui nạp Câu mở đầu đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo triển khai
cụ thể ý khái quát Câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao,
mở rộng Những câu triển khai ý được thực hiện bằng các thao tác giải thích,chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét, đánh giá hoặc nêu suy nghĩ… để từ
đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp, khẳng định, năng cao vấn đề
2.3.2 Hướng dẫn học sinh hình thành kĩ năng phân tích đề
“Nghị luận xã hội” là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã
hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc để sáng tỏ cái đúng – sai, tốt - xấucủa vấn đề được nêu ra Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghịluận cũng như vận dụng nó vào trong đời sống
Thực tế, có vô vàn các đề tài từ những lĩnh vực của đời sống xã hội, chínhtrị, văn hóa, đạo đức được người ra đề vận dụng đưa vào câu nghị luận xã hội
Vì thế, để viết thành công đoạn văn nghị luận xã hội như đề yêu cầu đòi hỏi họcsinh phải xác định đúng/nhận diện đúng những yêu cầu của đề bài – nghĩa làhiểu đúng câu hỏi đề ra trên ba phương diện:
- Nội dung - vấn đề nghị luận
- Các thao tác lập luận được sử dụng (giải thích, bình luận, chứng minh,phân tích )
- Đối tượng, phạm vi hướng tới của vấn đề (nội dung) nghị luận
Trang 10Có thể nói, nội dung nghị luận và phạm vi/đối tượng hướng tới khi nghịluận là cơ sở quan trọng giúp người viết hình thành các ý chính cho đoạn văn, từ
đó mà tránh được lỗi theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”; hoặc đề hỏi mộtđằng, nghị luận một nẻo
2.3.2.1 Kĩ năng xác định vấn đề nghị luận (nội dung nghị luận).
Qua thực tế khảo sát đề thi minh họa năm 2022, chúng tôi nhận thấy về cơbản, cấu trúc đề thi nói chung và câu nghị luận xã hội nói riêng giống yêu cầucủa đề thi vài năm trở lại đây Và sau đây là khảo sát cụ thể của chúng tôi về câunghị luận xã hội trong các đề thi những năm qua và đề tham khảo năm 2022:
- Đề thi môn Ngữ văn trong Kì thi THPT quốc gia năm 2017:
“Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống”.
- Đề thi môn Ngữ văn trong Kì thi THPT quốc gia năm 2018:
“Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sứ mệnh đánh thức tiềm lực đất nước của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện nay”.
- Đề thi môn Ngữ văn trong Kì thi THPT quốc gia năm 2019:
“Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về sức mạnh ý chí của con người trong cuộc sống”.
- Đề thi môn Ngữ văn, kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2020:
+ Đề thi đợt 1: “Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy
viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày”.
+ Đề thi đợt 2: “Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy
viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải có niềm tin vào cuộc sống”.
- Đề thi môn Ngữ văn, Kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2021:
“Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng
200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải biết cống hiến”.
- Đề thi tham khảo môn Ngữ văn trong Kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2022:
“Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng
200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc”.
Thực tế khảo sát ấy, chúng tôi nhận thấy câu nghị luận xã hội trong những
đề thi vài năm trở lại đây (có cả đề tham khảo năm 2022), đều yêu cầu học sinhtập trung nghị luận về một khía cạnh của vấn đề (nội dung/đề tài) nào đó rất cụ
thể qua các từ/cụm từ: “ý nghĩa”, “sứ mệnh”, “sức mạnh”; đặc biệt, câu hỏi
phần nghị luận xã hội trong đề thi từ năm 2020 (cả 2 đợt), năm 2021 và đề tham
khảo năm 2022 đều yêu cầu học sinh nghị luận về “sự cần thiết” (nghĩa là “rất cần”, “không thể không có”, “không thể không làm”) của một vấn đề được đưa
Trang 11ra Điều này là hoàn toàn phù hợp với yều cầu về hình thức: “viết một đoạn văn(khoảng 200 chữ)” chứ không phải “một bài văn” như trước đây Nghĩa là họcsinh chỉ cần “tung bút” tập trung nghị luận về một khía cạnh là “sự cần thiết”của vấn đề được đưa ra trong đề thôi, còn những khía cạnh khác như “mở rộng”,
“phê phán”, “mặt trái”, “bài học nhận thức và hành động” sự “đầu tư” của họcsinh cho những ý này là không cần thiết Bởi nó sẽ khiến cho đoạn văn vượt quayêu cầu định lượng (khoảng 200 chữ); các ý nghị luận cũng trở nên lan man,không rõ trọng tâm lại thêm mất thời gian của các câu khác trong bài thi, điểmcủa toàn bài vì thế mà không cao
2.3.2.2 Kĩ năng xác định phạm vi nghị luận (đối tượng nghị luận).
Ví dụ 1:
Đề số 1: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một
đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lời ru đối với sự trưởng thành của mỗi người.
Đề số 2: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một
đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lời ru đối với mỗi người mẹ, người bà.
Cùng nghị luận về “ý nghĩa của lời ru” nhưng đối tượng/phạm vi hướng
tới (phạm vi tác động) của lời ru ở đề số 1 là “đối với sự trưởng thành của mỗi
người” hoàn toàn khác với đề số 2 là “đối với mỗi người mẹ, người bà”
người mẹ, người bà.
Ý nghĩa của lời ru đối với sự trưởng thành của mỗi người.
1 - Lời ru là phương tiện quen
thuộc, hữu ích giúp người bà,
người mẹ truyền tải những yêu
thương, mong ước, hi vọng tới
những đứa con yêu của mình
- Là những thanh âm dịu ngọt đầuđời, chan chứa yêu thương, lắngsâu vào tâm hồn mỗi người con, để
ta cảm nhận được những tình cảm
ấm áp, yêu thương, nồng hậu vànhữn mong ước, dạy dỗ của bà, củamẹ
2 - Thông qua những câu hát ru,
người bà, người mẹ giúp những
đứa con yêu định hình ngôn ngữ/
tiếng nói dân tộc
- Qua lời ru của mẹ, tâm hồn tađược bồi đắp để trở nên phong phú,
ta hiểu được vẻ đẹp của thiênnhiên, cuộc sống con người, nhữngứng xử đẹp, truyền thống đẹp củadân tộc lời ru vì thế không chỉđịnh hình tiếng nói dân tộc mà cònđóng vai trò quan trọng định hìnhnhân cách, phẩm chất ở mỗi người
3 - Thông qua những câu hát ru,
người bà, người mẹ bồi đắp tâm
hồn, định hình nhân cách cho
các con yêu
- Hiểu được tình cảm yêu thương,mong ước của bà, của mẹ quanhững câu hát ru để ta luôn nỗ lực,phấn đấu để luôn sống đúng, sốngđẹp, sống có ý nghĩa để xứng
Trang 12đáng với những yêu thương của bà,của mẹ.
Ví dụ 2:
Đề số 1: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một
đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa về tình cảm yêu nước của người Việt Nam.
Đề số 2: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một
đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tình cảm yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay.
Cùng nghị luận về đề tài “tình cảm yêu nước” Nhưng nếu đối tượng nghịluận là “người Việt Nam” nói chung thì bài viết phải có cái nhìn tổng thể, baoquát theo chiều dài lịch sử từ xa xưa đến hiện tại, thậm chí cả tương lai; phải cócái nhìn phân tích, so sánh với bạn bè quốc tế nghĩa là bài viết quan tâm đếnnhiều đối tượng, xuyên suốt thời gian lịch sử đất nước phạm vi nghị luận vìthế rất rộng, không phù hợp với dung lượng đoạn văn (khoảng 200 chữ); còn đốitượng nghị luận là “thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay” thì bài viết chỉ tập trung nghịluận hướng đến một đối tượng cụ thể, ở một thời điểm cụ thể do đó mà ngắngọn, phù hợp với dung lượng một đoạn văn (khoảng 200 chữ)
Như vậy, việc xác định chính xác đối tượng/phạm vi nghị luận ở mỗi đề là
vô cùng quan trọng, không chỉ giúp học sinh tránh bị “lạc đề”, tránh được hiệntượng “râu ông nọ cắm cằm bà kia” mà còn giúp các em chủ động nhận thức,phân tích đề, nếu có tham khảo tài liệu trên internet, các sách tài liệu về văn nghịluận xã hội cũng vì thế mà biết chọn lọc, chứ không bê nguyên si, vừa dài dòng,vừa không “trúng” với yêu cầu nghị luận của đề
2.3.3 Kĩ năng tìm ý cho đoạn văn nghị luận xã hội.
Để tránh nghị luận lan man, thiếu trọng tâm, không dẫn chứng, chúng tôithường tạo cho học sinh thói quen tìm ý cho đoạn văn bằng bốn từ để hỏi:
- What (Là gì?)
- Why (tại sao/vì sao?)
- Who (nhân vật nào?)
- How (như thế nào để thực hiện được?)
Chúng tôi lấy đề thi tham khảo của Bộ GD và ĐT năm 2022 làm ví dụ:
Đây là đoạn trích phần Đọc hiểu:
một con sông chảy qua thời gian
chảy qua lịch sử
chảy qua triệu triệu cuộc đời
chảy qua mỗi trái tim người
khi êm đềm khi hung dữ
một con sông rì rầm sóng vỗ
trong muôn vàn trang thơ
làm nên xóm thôn, hoa trái những ngôi nhà
tạo sắc áo, màu cây và tiếng Việt
( )
Trang 13máu ta mang sắc đỏ sông Hồng
nỗi khổ và niềm vui bất tận
luôn luôn mới đến, luôn luôn ra đi
luôn mới nhất và luôn trẻ nhất
sông để lại trước khi về với biển
không phải máu đen độc ác của quân thù
không phải gươm đao ngàn năm chiến trận
không phải nghẹn ngào tiếng nấc
sau sụp lở hưng vong, sau thù hận sóng trào
là bãi mới của sông xanh ngát
là đất đai lấn dần ra biển
là tâm hồn đằm thắm phù sa
dâng yêu thương đỏ rực đôi bờ
(trích “Sông Hồng”, Lưu Quang Vũ, “gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”, NXB Hội nhà văn, 2018, tr.286-288).
Và dưới đây là câu hỏi NLXH:
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng
200 chữ), trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Với đề này, chúng tôi hướng dẫn học sinh tìm ý cho đoạn văn cụ thể nhưsau:
+ What (“văn hóa truyền thống” là gì?): “Văn hóa truyền thống” là những
giá trị tốt đẹp, ý nghĩa về mặt vật chất, tinh thần tồn tại qua hàng ngàn năm, làmnên bản sắc riêng của con người Việt Nam
+ Why (Tại sao “cần thiết phải trân trọng” những giá trị văn hóa truyền
++ Phê phán những con người không có tinh thần dân tộc, phá hoạinhững giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; ý thức trân trọng văn hóa dântộc song hành ý thức trân trọng văn hóa nhân loại
+ Who (với đề này, dẫn chứng có thể là một trong hai hình thức sau):
++ Từ tích lũy kiến thức thực tế): Bác Hồ; Bà Hiền trong tác phẩm
“Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải; Hoa hậu Doanh nhân Ninh Nguyễn đưaphở Việt Nam phát triển khắp nước Mĩ