Do đó, dạy học làm sao để học sinh có kĩ năng vận dụng tốt những kiến thức đã học để giải quyết những bài toán cụ thể, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và có thể tự đánh g
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đã xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra
và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”.
Trong dạy học ở trường phổ thông, điều quan trọng là hình thành cho học sinh những phẩm chất, kỹ năng và năng lực, đặc biệt là kỹ năng tự đánh giá, bởi chỉ khi học sinh biết tự đánh giá thì quá trình học tập mới thực sự diễn ra một cách tự giác, tích cực, chủ động và hiệu quả
Tuy nhiên, giáo dục phổ thông hiện nay thường thiên về sự đánh giá của giáo viên mà xem nhẹ việc hình thành sự tự đánh giá của học sinh Do đó, học sinh thường bị động trong đánh giá, các em ít được tham gia vào quá trình đánh giá, nên cũng ít có thói quen tự đánh giá Điều này cho thấy, học sinh chưa thực sự phát huy hết vai trò chủ động của các em nên kết quả học tập vẫn còn bị hạn chế Bởi vậy hình thành thói quen tự đánh giá kết quả học tập là việc làm cần thiết trong dạy học
Đã có một số tác giả đã đề cập đến vấn đề tự đánh giá, ý nghĩa của tự đánh giá trong học tập, hay mối quan hệ giữa đánh giá và tự đánh giá Tuy nhiên, chưa có tác giả hay công trình nào nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc về kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập khi học môn tin học
Mặt khác, bài cấu trúc lặp trong chương trình tin học 11 hiện nay là một bài học khó đối với các em học sinh bởi các em mới được làm quen với lập trình, chưa có nhiều kĩ năng vận dụng kiến thức, vận dụng thuật toán để giải quyết những bài toán
cụ thể nên thường cảm thấy rất trừu tượng, nếu các em không vận dụng tốt cấu trúc lặp trong lập trình thì sẽ rất khó để tiếp thu những kiến thức về sau, và dần dần sẽ dẫn tới chán nản với môn học Do đó, dạy học làm sao để học sinh có kĩ năng vận dụng tốt những kiến thức đã học để giải quyết những bài toán cụ thể, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và có thể tự đánh giá kết quả học tập của bản thân là một vấn đề khó mà giáo viên phải trăn trở Qua thực nghiệm tôi khẳng định hiệu quả thiết thực do tự đánh giá kết quả học tập mang lại và muốn chia sẽ cùng đồng
nghiệp Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết
Trang 2quả học tập cho học sinh trong dạy học bài cấu trúc lặp, tin học 11 - THPT” cho
sáng kiến kinh nghiệm của mình
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Giúp học sinh hình thành và có thói quen tự đánh giá kết quả học tập sau khi thực hiện một nhiệm vụ học tập, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh trong bài cấu trúc lặp, ở trường trung học phổ thông
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá ở trường trung học phổ thông
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Thực hiện điều tra, khảo sát, xử
lí thông tin thực tế tại đơn vị để tiến hành nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thực hiện điều tra, xử lí số liệu thực tế,
so sánh và đối chiếu số liệu trước và sau khi thực hiện ứng dụng đề tài
Trang 32 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Tự đánh giáo dục kết quả học tập là quá trình người học thu thập, xử lí thông tin về hoạt động học tập của chính mình, chỉ ra được các mức độ về tri thức, kĩ năng và thái độ có ở bản thân, từ đó có hành động phù hợp nhằm tự điều chỉnh hoạt động học tập để đạt thành tích học tập tốt nhất [1]
Cấu trúc của kĩ năng tự đánh giá được xác định như sau: 1) Kĩ năng thu thập,
xử lí thông tin về bản thân Nguồn thông tin phản hồi của bản thân rất đa dạng, có thể từ đánh giá của bạn học hay nhận xét của giáo viên đối với kết quả của bản thân, qua tự học với tài liệu học tập 2) Kĩ năng đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn
do bản thân hay người khác đề ra Đây là hoạt động mang đặc trưng trí tuệ, đòi hỏi phải có kĩ năng phân tích - tổng hợp Phân tích càng sâu, nhằm xác định các tiêu chí chính xác, đầy đủ để so sánh thì việc đánh giá, tự đánh giá càng hoàn thiện; 3) Tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; 4) Đề xuất các giải pháp để cải thiện kết quả học tập hiện tại [2]
Như vậy, tự đánh giá kết quả học tập là là việc người học tự nhận xét, phát biểu về kết quả học tập của chính mình, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của bản thân
để có phương hướng học tập đạt kết quả tốt hơn, điều đó giúp cho người học tự tin hơn, tích cực hơn, độc lập và linh hoạt hơn trong học tập
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở trường phổ thông, kết hợp với tìm hiểu thực trạng về rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Tin học của học sinh, tôi nhận thấy cách đánh giá kết quả học tập ở trường trung học phổ thông hiện nay cơ bản chưa có sự đổi mới, còn nặng kết quả đánh giá của giáo viên mà chưa coi trọng việc tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
Học sinh chưa có kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập, phần lớn học sinh chỉ đánh giá kiến thức của bản thân thông qua làm bài tập, bài kiểm tra, chưa có thói quen đánh giá lại quá trình tổ chức hoạt động của mình đã khoa học chưa, hợp lí chưa, cần phải bổ sung kĩ năng gì? điều chỉnh hoạt động học tập như thế nào? chưa thấy được sự cần thiết của việc tự đánh giá kết quả học tập và làm thế nào để thực hiện điều này một cách tự giác, đạt hiệu quả
Xuất phát từ thực trạng trên Tôi đã mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệm một số giải pháp để rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy được tính tự giác, tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua các nhiệm cụ thể được phân công
Trang 42.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập tôi đã sử dụng một số giải pháp sau:
2.3.1 Rèn luyện cho học sinh các thao tác cần thiết để tự đánh giá kết quả học tập.
Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hoặc một hoạt động nào đó, dựa trên vốn kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có Kĩ năng chỉ được hình thành thông qua luyện tập nhiều lần Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập, tôi thường làm mẫu đánh giá để học sinh nắm được các thao tác cơ bản sau đó tổ chức cho học sinh luyện tập quá trình này được thực hiện qua 3 giai đoạn cụ thể như sau:
2.3.1.1 Giai đoạn 1: Hình thành các thao tác của kĩ năng tự đánh giá
Khi dạy học trên lớp, trước hết tôi làm mẫu việc đánh giá kết quả học tập cho học sinh nhằm giúp học sinh thấy được sự cần thiết phải đánh giá, tự đánh giá đồng thời hình thành được các thao tác của kĩ năng tự đánh giá cho các em
Khi thực hiện đánh giá mẫu để học sinh “bắt chước tự đánh giá”, tôi thường thực hiện theo trình tự sau:
B1: Xác định mục tiêu Giao nhiệm vụ học tập
B2: Học sinh thực hiện nhiệm vụ
B3: Yêu cầu học sinh nhận xét, đánh giá bài làm của bạn
B4: Chiếu rubic hướng dẫn đánh giá, căn cứ vào rubic để phân tích, nhận xét, đánh giá bài làm của học sinh
B5: Yêu cầu học sinh tự đối chiếu với rubic, đánh giá bài làm của mình và rút kinh nghiệm
Chẳng hạn, sau khi đã giới thiệu cú pháp và hoạt động của câu lệnh for, nhằm đánh giá khả năng vận dụng câu lệnh for để giải các bài toán cụ thể, tôi giao nhiệm vụ học tập và tiến hành đánh giá mẫu theo trình tự sau:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Đưa ra mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và
thái độ cần đạt được khi kết thúc hoạt
động dạy học
Hiểu rõ mục tiêu của hoạt động
Giao nhiệm vụ học tập, yêu cầu học sinh
thực hiện theo nhóm (4 em):
- Hiểu nhiệm vụ
- Thực hiện nhiệm vụ
Trang 5Ví dụ 1: Lập trình tính:
S=1+2+3+…+N (1<=N<=100000)
Gọi 1 nhóm lên báo cáo sản phẩm học
tập
Đại diện nhóm báo cáo sản phẩm
Gọi nhóm khác nhận xét, bổ sung Đối chiếu với sản phẩm của nhóm mình
để có nhận xét bài làm của nhóm bạn:
- Về mức độ chính xác về nội dung kiến thức
- Về kĩ năng trả lời câu hỏi (kĩ năng xác định dữ liệu vào, dữ liệu ra, cách tổ chức dữ liệu, cách phân tích, tổng hợp kiến thức có liên quan để trả lời câu hỏi) Chiếu rubic định lượng hướng dẫn đánh
giá, căn cứ vào rubic để phân tích
chương trình, nhận xét, đánh giá chương
trình của học sinh
Chiếu chương trình mẫu để học sinh
quan sát
- Học cách đánh giá một chương trình
Yêu cầu học sinh tự đối chiếu, tự đánh
giá bài làm của nhóm mình, tự đánh giá
về kiến thức, về kĩ năng của nhóm và tự
rút kinh nghiệm
Dựa vào rubic, học sinh đối chiếu, đánh giá bài làm của nhóm mình, đánh giá về kiến thức, kĩ năng của nhóm Tự rút kinh nghiệm và đưa ra định hướng điều chỉnh hoạt động học tập cho phù hợp
Minh họa hướng dẫn đánh giá (Rubic) của ví dụ trên.(do các em mới làm quen với lập trình nên tôi chưa đề cập đến tiêu chí để đánh giá độ phức tạp của thuật toán)
Mức
độ
Tiêu chí
Mức tốt Mức khá Mức trung bình
Mức dưới trung bình (chưa đạt) Xác định
Input,
output của
bài toán
Xác định được Input, output của bài toán:
-Input: N
Xác định được Input, output của bài toán nhưng viết
Xác định được một trong 2 yếu tố: Input
Không xác định được Input, output của bài toán
Trang 6(1<=N<=100000) -Output: S
lệnh còn nhầm
ở một số chi tiết nhỏ
hoặc Output
Tổ chức dữ
liệu
Khai báo đúng các biến và xác định kiểu dữ liệu hợp lí
Xác định được các biến cần
nhưng còn có biến khai báo kiểu dữ liệu chưa hợp lí
Khai báo được các biến nhưng còn thiếu hoặc xác định kiểu dữ liệu cho các biến chưa hợp lí
Khai báo biến sai cú pháp hoặc không xác định được các biến cần khai báo
Tính đúng
đắn của
thuật toán
Chương trình cho dữ liệu ra chính xác với tất cả các bộ test tiêu biểu
Chương trình cho dữ liệu ra chính xác với
đa số các test tiêu biểu nhưng còn chưa chính xác ở một số trường hợp đặc biệt
Chương trình cho dữ liệu
ra chính xác với số ít các test tiêu biểu, nhưng sai sót ở những test còn lại
Chương trình cho dữ liệu ra chưa chính xác với tất cả các dữ liệu vào
Thông qua việc làm mẫu đánh giá kết quả học tập trên, học sinh sẽ hình thành được một số thao tác cơ bản như:
- Thao tác so sánh: Đó là so sánh bài làm của nhóm mình với nhóm bạn và
với chương trình mẫu; so sánh kết quả học tập của mình (nhóm mình) với mục tiêu đề ra để biết được thực trạng học tập của bản thân
- Thao tác phân tích, tổng hợp: Với bài tập trên, cần phân tích như sau:
+ Theo đề bài: Dữ liệu vào là N (N<=100000), dữ liệu ra là S
+ Với N lần lặp tương ứng các giá trị của i từ 1 đến N, ta phân tích:
Lần lặp thứ nhất (i=1):S=0+1 (do giá trị khởi tạo của S=0) Lần lặp thứ 2 (i=2): S=1+2=3
Lần lặp thứ 3 (i=3): S=3+3=6
…
Lần lặp thứ N (i=N): S bằng giá trị S hiện có cộng với i
Trang 7Như vậy: Lệnh S=S+i được lặp lại trong vòng lặp, và do đó đoạn lệnh
để tính tổng S được viết là:
S=0;
For (i=1;i<=N; i++)
S=S+i;
Đây cũng là những thao tác cơ bản không chỉ giúp các em phát triển về mặt
tư duy mà còn là cơ sở để hình thành và phát triển kĩ năng tự đánh giá Ngoài ra việc làm mẫu đánh giá còn giúp các em còn hình thành khả năng đánh giá một chương trình; khả năng rút kinh nghiệm và điều chỉnh việc tổ chức học tập cũng như tinh thần, thái độ trong học tập để đạt hiệu quả tốt hơn
2.3.1.2 Giai đoạn 2: Tổ chức học sinh luyện tập kĩ năng tự đánh giá.
Sau khi đã làm mẫu đánh giá, tôi tổ chức cho học sinh luyện tập kĩ năng tự đánh giá giúp các em thành thạo trong đánh giá, tự đánh giá tiến tới tự đánh giá độc lập Quy trình tổ chức học sinh luyện tập kĩ năng tự đánh giá được tiến hành như sau:
Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập cho học sinh
Bước 2: Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập
Bước 3: Học sinh thực hiện đánh giá và tự đánh giá
Bước 4: Giáo viên nhận xét, chính xác hóa kĩ năng
Bước 5: Học sinh tự rút kinh nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện kĩ năng
Chẳng hạn, sau khi thực hiện ví dụ 1, tôi yêu cầu học sinh thực hiện ví dụ 2 như sau:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Giao nhiệm vụ học tập cho học sinh: Em
hãy viết chương trình giải bài toán sau:
Nhập vào số nguyên dương n
(1<=n<=20) Tính S = n!
- Hiểu và thực hiện yêu cầu
Yêu cầu học sinh thử lập rubric theo
mẫu ở ví dụ 1 và tự đánh giá bài làm của
mình theo rubic vừa lập
Lập rubric và tự đánh giá theo từng tiêu chí
Gọi một số học sinh lên bảng trình bày
rubric đồng thời tự đánh giá theo rubric
Học sinh đối chiếu với rubric của mình và theo dõi phần tự đánh giá của bạn
Nhận xét về rubic và cách vận dụng các Học sinh được uốn nắn, điều chỉnh việc
Trang 8thao tác tư duy để thực hiện nhiệm vụ học
tập Chiếu rubric mẫu để học sinh điều
chỉnh rubric và phần tự đánh giá của các
em
tự đánh giá
Yêu cầu học sinh tự nhận xét về kĩ năng
thực hiện hoạt động học tập, về tinh thần
và thái độ học tập của bản thân Nêu ra
kinh nghiệm và phương hướng để đạt kết
quả học tập tốt hơn
Học sinh nhận xét về các kĩ năng thực hiện hoạt động học tập như : Kĩ năng xác định nhiệm vụ học tập, kĩ năng
so sánh, kĩ năng phân tích, tổng hợp Nhận xét về tinh thần, thái độ của bản thân khi thực hiện hoạt động học tập Nêu kinh nghiệm và phương hướng
để đạt kết quả học tập tốt hơn
Khi tiến hành tổ chức cho học sinh luyện tập tự đánh giá kết quả học tập, tôi chú ý hơn đến khả năng tự rút kinh nghiệm và đề xuất phương hướng học tập tiếp theo nhằm tạo cho các em thói quen nhìn nhận lại quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của mình, nhận ra được mặt mạnh, mặt yếu của bản thân để có những điều chỉnh cho phù hợp và hoàn thiện kĩ năng
Chẳng hạn, khi thực hiện bài toán ở ví dụ 2 như trên, học sinh thường so sánh, đối chiếu với ví dụ 1 và có rất nhiều học sinh viết chương trình như sau :
#include <bits/stdc++.h>
using namespace std;
int main()
{int S,i, N;
cin>>N;
S=0;
for (i=1;i<=N;i++)
S=S*i;
cout<<S;
return 0; }
Sau khi đã chiếu chương trình mẫu, rubic mẫu để đánh giá, tôi yêu cầu tất cả học sinh tự nhận xét về kiến thức, về kĩ năng thực hiện hoạt động học tập và về tinh thần và thái độ học tập Nêu ra kinh nghiệm và phương hướng để đạt kết quả học tập tốt
Trang 9hơn Khi đó, học sinh phải nhìn nhận lại quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của bản thân và đánh giá được :
- Về kiến thức : Đã hiểu được cú pháp và hoạt động của câu lệnh for
- Về kĩ năng vận dụng kiến thức để giải quyết bài toán, kĩ năng sử dụng các thao tác tư duy : Đã xác định được dữ liệu vào, dữ liệu ra của bài toán ; Đã biết tổ chức dữ liệu, tuy nhiên do phân tích chưa kĩ miền giá trị của biến S nên còn khai báo biến chưa đạt yêu cầu; Đã biết vận dụng câu lệnh for để giải bài toán, tuy nhiên chưa đánh giá kĩ kết quả sau khi thực hiện vòng lặp do chưa chú ý giá trị khởi tạo của biến S nên cho dữ liệu ra chưa chính xác
- Về tinh thần và thái độ học tập : Tích cực, tự giác
- Kinh nghiệm và phương hướng để đạt hiệu quả học tập tốt hơn : Cần chú ý miền giá trị của dữ liệu vào được cho ở đề bài để xác định miền giá trị của từng biến từ đó có khai báo kiêu dữ liệu phù hợp ; Cần đánh giá kĩ kết quả sau khi thực hiện vòng lặp nói
riêng và tính toán kĩ dữ liệu ra ứng với một giá trị vào cụ thể nào đó
Sau đây là phiếu học tập tôi đã sử dụng trong quá trình tổ chức cho học sinh luyện tập kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập : PHIẾU HỌC TẬP Em hãy lập trình giải bài toán sau và tự đánh giá kết quả học tập : Nhập vào số nguyên dương n (1<=n<=20) Tính S = n! Bước 1 : Chương trình :
Bước 3 : Tự đánh giá : - Kiến thức :
- Kĩ năng :
- Thái độ :
- Kinh nghiệm – Phương hướng :
Trang 10
Bước 2: lập RUBIC đánh giá Mức độ Tiêu chí Mức tốt Mức khá Mức trung bình Mức dưới trung bình (chưa đạt) 2.3.1.3 Giai đoạn 3: Giao nhiệm vụ về nhà Để học sinh thành thạo và có thói quen tự đánh giá sau khi thực hiện một nhiệm vụ học tập, tôi thường giao nhiệm vụ về nhà để các em luyện tập kĩ năng, khi các em đã thành thạo trong tự đánh giá thì có thể không cần lập rubic chi tiết mà vẫn đánh giá được khả năng thực hiện nhiệm vụ, tự rút kinh nghiệm và điều chỉnh để kết quả học tập ngày càng tốt hơn Cụ thể, bài cấu trúc lặp có 5 tiết: 3 tiết lí thuyết và 2 tiết bài tập (bao gồm cả bài tập bài cấu trúc rẽ nhánh), tôi thường giao bài tập về nhà sau các tiết học như sau : Bài tập sau tiết 1 :
Câu 1) Trong các tình huống sau, tình huống nào cần đến cấu trúc lặp để mô tả một hay một số hoạt động được lặp đi lặp lại:
A) Khi sử dụng điện thoại di động có mật khẩu đăng nhập, ta phải nhập mật khẩu một số lần nếu mật khẩu đưa vào không đúng
B) Khi sử dụng thang máy, thang máy được điều khiển đi lên hay đi xuống đến các tầng dựa trên nguyên tắc ưu tiên những khách gọi thang máy trước