1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) sử dụng hệ thống câu hỏi lý thuyết đúng sai để củng cố, khắc sâu kiến thức hóa học hữu cơ lớp 12

21 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 195 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích giúp học sinh ghi nhớ lý thuyết tốt nhất, trong quá trìnhgiảng dạy tôi đã sử dụng một số phương pháp như khắc sâu kiến thức trọng tâmcủa mỗi bài, kiểm tra bài cũ thường xuyê

Trang 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu

1.4 Phương pháp nghiên cứu

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

1418181920

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.

Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, đôi khi nó được gọi là môn khoahọc trung tâm vì nó là cầu nối các ngành khoa học như vật lý, sinh học, địa chấthọc…Là một ngành học rất thiết thực, liên quan đến cuộc sống của con ngườinhư cái ăn, cái mặc, các đồ dùng hàng ngày…nhưng hiện nay có rất nhiều họcsinh quay lưng với môn Hóa học, có rất nhiều lý do, một trong những lý do quantrọng đó là kết quả các kì thi của môn hóa, đặc biệt là kỳ thi trung học phổthông quốc gia, thường thấp làm cho học sinh “sợ hãi” môn hóa học Với hìnhthức thi trắc nghiệm thì ngoài việc học sinh không chỉ làm được bài mà còn phảilàm bài nhanh và chính xác

Một trong những xu hướng phát triển của bài tập hoá học hiện nay là tăngcường khả năng tư duy hoá học cho sinh ở cả ba phương diện: lí thuyết, thựchành và ứng dụng Tuy nhiên, với hình thức thi trắc nghiệm hiện nay, những bàitập tính toán áp dụng các định luật các công thức tính nhanh không còn là vấn

đề khó khăn đối với học sinh Kết quả của các kì thi, những bài kiểm tra cho

thấy hầu hết học sinh đều “làm sai” những bài tập lý thuyết, đặc biệt là bài tập

lý thuyết hoá hữu cơ Điều này cũng dễ hiểu , vì hoá hữu cơ là một trong nhữngmôn học mới và khó đối với học sinh THPT, phần vì lượng kiến thức rộng, phần

vì thời lượng ôn tập lăp lại trong quá trình học không nhiều, việc nắm bắt và ghinhớ của học sinh sẽ khó khăn

Với mục đích giúp học sinh ghi nhớ lý thuyết tốt nhất, trong quá trìnhgiảng dạy tôi đã sử dụng một số phương pháp như khắc sâu kiến thức trọng tâmcủa mỗi bài, kiểm tra bài cũ thường xuyên và nghiêm túc hơn, tuy nhiên kết quảthu được vẫn không cao, học sinh vẫn không nắm được tính chất của từng hợpchất, kết quả kì thi THPTQG của những em lựa chọn môn hóa học không đượcnhư mong đợi của bản thân Tôi đã trăn trở, suy nghĩ, sau đó theo dõi, quan sát,làm khảo sát…Cuối cùng, tôi phát hiện ra vấn đề là học sinh thường làm sai cácbài lý thuyết, đặc biệt loại bài tập lý thuyết phát biểu đúng sai, đếm số câu đúng,

số câu sai và xác định công thức cấu tạo của chất dựa vào tính chất của hợp chấthữu cơ

Tôi đã từng bước áp dụng và hoàn thiện ý tưởng để giải quyết vấn đề trên,bằng hệ thống câu hỏi, bài tập lý thuyết đúng sai Tôi đã thu được kết quả tươngđối hài lòng, nên tôi muốn trao đổi một số kinh nghiệm để nhân rộng kết quả

này trong các trường THPT Tôi chọn đề tài “SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI LÝ THUYẾT ĐÚNG SAI ĐỂ CỦNG CỐ, KHẮC SÂU KIẾN THỨC HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 12”

Trang 3

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Giúp học sinh nắm vững tính chất của các hợp chất hữu cơ

- Giải quyết nhanh và chính xác các bài tập lý thuyết đúng sai của hợp chất hữu

cơ Từ đó làm tốt các bài tập tính toán vận dụng và vận dung cao, lấy lại niềmtin về môn hóa học trong các thế hệ học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Một là: nghiên cứu những vấn đề lý luận về phương pháp dạy học hoá

học ở trường phổ thông

Hai là: nghiên cứu tình hình thực tế qua việc dự giờ các tiết dạy của giáo

viên cùng bộ môn để đánh giá và rút ra phương pháp giảng dạy thích hợp, đồngthời nghiên cứu hiệu quả học tập của học sinh trong suốt quá trình thực hiện giảipháp

Ba là: trên cơ sở thống kê số liệu chỉ rõ cách thực hiện và hiệu quả của

việc áp dụng

Bốn là: từng bước xây dựng, lựa chọn, sắp xếp có hệ thống câu hỏi

TNKQ về lý thuyết, đặc biệt chú trọng dạng lý thuyết đúng theo từng bài, từngchương và tổng hợp

Năm là: tiến hành thực nghiệm sư phạm ở các lớp dạy theo lộ trình, rút

kinh nghiệm sau mỗi giai đoạn: năm 2017-2018 áp dụng 1/3 tổng số lớp 12 tôidạy,

năm 2018-2019 áp dụng 2/3 tổng số lớp 12 tôi dạy, năm 2019-2020 áp dụng100% các lớp 12 tôi dạy, từ đó xác định hiệu quả của đề tài, rút ra kinh nghiệm.Năm học 2020-2021và 2021-2022 áp dụng cho toàn khối 12 trường THPTHậu Lộc 2

Sáu là: Đề xuất việc sử dụng đề tài vào các tiết học trong chương trình

hóa học bậc trung học phổ thông

1.4 Phương pháp nghiên cứu

a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài Đọc

và khái quát các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: chủ yếu là sáchgiáo khoa về bài tập hóa học lớp 12, thông qua các trang mạng chuyên môn vềhóa học

b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 4

Sử dụng hệ thống câu hỏi, phiếu điều tra nhằm thu thập số liệu để đánhgiá thực trạng và đề xuất các giải pháp.

- Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với giáo viên trong tổ chuyên môn, và thamkhảo ý kiến các giáo viên dạy giỏi về các vấn đề có liên quan đến đề tài

c Phương pháp thống kê toán học

Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tôicho học sinh kiểm tra các kiến thức đã học so sánh đối chiếu với từng năm, từ

đó rút ra tỉ lệ phần trăm, nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệuquả của của việc dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông

d Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tham khảo kinh nghiệm của đồng nghiệp trường bạn, trường mình

Từ kinh nghiệm của chính bản thân qua các năm làm công tác giảng dạy

e Phương pháp thử nghiệm

Thử nghiệm theo lộ trình qua các năm: năm 2017-2018 áp dụng 1/3 tổng

số lớp 12 tôi dạy, năm 2018-2019 áp dụng 2/3 tổng số lớp 12 tôi dạy, năm

2019-2020 áp dụng 100% các lớp 12 tôi dạy từ đó xác định hiệu quả của đề tài, rút rakinh nghiệm Năm học 2020- 2021 và 2021- 2022 áp dụng cho toàn khối 12trường THPT Hậu Lộc 2

Trang 5

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã được xácđịnh trong nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa

XI (11-2013), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2019), được cụ thể hóatrong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trong điều 30 của Luật giáo dục (2019) đã ghi:“ Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục”

Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên giáo viên cần vậndụng các phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập cho học sinh, từ đó phát huy tính tự giác tích cực của học sinh

Việc dạy học Hóa học nói chung cần đảm bảo nguyên tắc giáo dục, đây làcác luận điểm có tính chất chỉ đạo, những qui định, yêu cầu cơ bản mà ngườigiáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạyhọc Việc sử dụng hệ thống câu hỏi lý thuyết đúng sai phù hợp với nội dung kiếnthức đã học căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục (môn Hóa học)

Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy rằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi lýthuyết đúng sai để dạy chủ đề ôn tập là rất phù hợp, không những đáp ứng đượclượng kiến thức của bài học, đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức đối với họcsinh mà đối với phương pháp này còn cho thấy tính tích cực, chủ động trongviệc lĩnh hội kiến thức Từ đó học sinh có nhiều hứng thú hơn trong học tập bàihọc này nói riêng và bộ môn Hóa học nói chung

Trong thực tế hóa học để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh đặc biệt

ở bộ môn Hóa học - bộ môn mà học sinh cho rằng khô khan, khó học là mộtviệc làm tương đối khó khăn Hơn thế nữa từ trước đến nay học sinh thườngđược học theo các phương pháp truyền thống giáo viên truyền giảng, học sinh làngười lĩnh hội kiến thức Chính bởi vậy kiến thức mà học sinh nhận được là thụđộng, mau quên, khả năng vận dụng vào các dạng bài tập vận dụng không linhhoạt

Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập lý thuyết đúng sai ở mỗi chương bàivào học tập sẽ tạo điều kiện cho học sinh chủ động trong học tập, tạo cơ hội chocác em thể hiện mình, từ đó tăng hứng thú và sự tập trung cho học sinh, tạo điềukiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

Thực tế đã có nhiều đề tài của các giáo viên trường THPT đề cập đến vấn

đề tạo hứng thú học tập môn hóa học qua tranh ảnh, phim tư liệu, mô hình, một

Trang 6

số phương pháp như thảo luận nhóm, tuy nhiên vẫn còn ít đề tài khai thác sửdụng hệ thống câu hỏi lý thuyết đúng sai vào một chủ đề ôn tập Chính vì vậy tôimạnh dạn trình bày một vài ý tưởng mà tôi đã áp dụng ở trường THPT Hậu lộc

2, bước đầu đã có những biểu hiện tích cực trong thái độ học tập của học sinh vàhiệu quả của giờ học hóa học được nâng lên rõ rệt

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng biện pháp

a Thuận lợi:

- 100% giáo viên đã đạt chuẩn

- Trong quá trình giảng dạy môn hóa, giáo viên đều cố gắng thay đổiphương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinhthông qua các phương pháp như : phương pháp trực quan, phương pháp dạy học

dự án, phương pháp hoạt động nhóm, kĩ thuật bàn tay nặn bột, phương pháp lớphọc đảo ngược, phương pháp góc…

- Giáo viên đã sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học như thínghiệm, mô hình, tranh và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học

- Học sinh chú ý nghe giảng, tập trung quan sát thí nghiệm, giải thích một

số hiện tượng trong cuộc sống và tích cực thảo luận, thực hiện các yêu cầu hoạtđộng nhóm do giáo viên đặt ra

b Khó khăn:

- Đa số các em ngại học lý thuyết, đôi khi bị kiểm tra thì học nhanh, học

ẩu, ghi nhớ có tính máy móc, đối phó nên nhanh quên

- Một số em thì nhìn đáp án của bạn, khi được hỏi thì đọc đáp án chínhxác làm tôi yên tâm các em ấy đã nắm được lý thuyết, dẫn đến việc chủ quantrong công tác kiểm tra

Từ việc nhận ra thực trạng trên, tôi đã thay đổi cách kiểm tra dạng bài tậpnày bằng cách sử dụng hệ thống câu hỏi vấn đáp gợi mở khi kiểm tra và hướngdẫn học trò ghi nhớ lý thuyết , đặc biệt là dạng bài tập lý thuyết đúng sai tổnghợp hữu cơ 12, sẽ giúp học sinh ghi nhớ tích cực hơn, ghi nhớ sâu hơn và tăngthêm tình yêu môn hóa học

2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Biện pháp 1: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phương pháp dạy học

hoá học ở trường phổ thông

Biện pháp 2: Nghiên cứu tình hình thực tế qua việc dự giờ các tiết dạy

của giáo viên cùng bộ môn để đánh giá và rút ra phương pháp giảng dạy thíchhợp, đồng thời nghiên cứu hiệu quả học tập của học sinh trong suốt quá trìnhthực hiện giải pháp

Biện pháp 3: Thiết kế hệ thống câu hỏi phù hợp với đối tượng học sinh,

tạo mọi điều kiện nâng cao hoạt động nhận thức cho học sinh Phát huy khả

Trang 7

năng tư duy của học sinh từ thấp đến cao, tránh hình thức học thuộc lòng máymóc.

Học sinh yếu kém thường khả năng tiếp thu kém nên giáo viên cần chắclọc những kiến thức cơ bản và trọng tâm nhất cho các em Sau mỗi bài học giáoviên cung cấp hệ thống câu hỏi lý thuyết dạng đúng, sai để các em ôn tập

Với học sinh khá giỏi, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi nâng cao hơn,đòi hỏi tư duy logic và kiến thức vững để giải quyết vấn đề

Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng

Sau khi cho học sinh làm bài, thay vì chỉ kiểm tra đáp án A, B, C, D giáoviên sử dụng kĩ thuật hỏi đáp tích cực, gợi mở giúp học sinh hiểu sâu hơn, ghinhớ tốt hơn Quan tâm phát hiện kịp thời và giải quyết các vấn đề khó mà họcsinh thường mắc phải

Ví dụ 1: Cho các mệnh đề sau

(1) Este no, đơn chức, mạch hở có công thức phân tử CnH2nO2, với n ≥ 2

(2) Số nguyên tử hiđro trong phân tử este đơn và đa chức luôn là một số chẵn.(3) Este vinyl axetat có đồng phân hình học

(4) HCOOCH3 có nhiệt độ sôi cao hơn C2H5OH do có phân tử khối lớn hơn.(5) Có 2 este đơn chức X đều có tỉ khối hơi so với H2 bằng 30

(6) Thủy phân vinyl axetat trong môi trường kiềm thu được muối và anđehit (7) Phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm là phản ứng một chiều (8) Phản ứng thủy phân este trong môi trường axit gọi là phản ứng xà phòng

hóa

(9) Các este đều được điều chế từ axit cacboxylic và ancol

(10) Sản phẩm trùng hợp của metyl metacrylat được dùng làm thủy tinh hữu cơ

Trang 8

- Mệnh đề 2: Giải thích tại sao số nguyên tử hiđro trong phân tử este đơn và đa

chức luôn là một số chẵn? Từ đó tổng quát: tất cả các hợp chất chứa C, H hoặc

C, H, O đều có số nguyên tử H chẵn

- Mệnh đề 3: Tại sao vinylaxetat không có đồng phân hình học? điều kiện để 1

chất có đồng phân hình học là gì? Từ đó khắc sâu kiến thức phần đồng phân hình học

- Mệnh đề 4: yêu cầu hs giải thích? Nêu thứ tự nhiệt độ sôi giảm dần của cáchợp chất hữu cơ đã học? (axit > ancol> amin bậc 1,2> andehit> este vàhidrocacbon)

- Mệnh đề 5: Viết CTCT của este có tỉ khối so với H2 bằng 30? Gọi tên?

- Mệnh đề 6: Viết phương trình phản ứng? Nêu dạng tổng quát của este khi thamgia phản ứng thủy phân tạo andehit?

- Mệnh đề 7: Nêu hiện tượng khi thủy phân etylaxetat trong môi trường kiềm và

môi trường axit? Từ đó nhấn mạnh đặc điểm phản ứng một chiều và thuận nghịch của phản ứng thủy phân trong 2 môi trường.

- Mệnh đề 8: Phản ứng xà phòng hóa là phản ứng nào? Đặc điểm của phản ứng?

- Mệnh đề 9: Nêu ví dụ este không tạo ra do phản ứng giữa ancol và axit?

(ví dụ: este của phenol, vinylaxetat…) Viết phương trình phản ứng?

Ý nghĩa thực tiễn: Hệ thống câu hỏi đúng, sai trên và các câu hỏi vấn đáp của

giáo viên đã giúp học sinh:

+ Hiểu rõ các vấn đề lý thuyết bài este

+ Chủ động tư duy để nắm vững kiến thức, biết liên hệ cả những vấn đề lýthuyết liên quan khác đã học để giải quyết vấn đề

Ví dụ 2 Cho các phát biểu sau:

(1) Tất cả các chất có công thức Cn(H2O)m đều là cacbohiđrat

( 2 ) Đun nóng xenlulozơ trong dung dịch H2SO4 70%, thu được glucozơ

(3) Trong dung dịch, các α-aminoaxit chỉ tồn tại ở dạng ion lưỡng cực

(4) Các monome tham gia phản ứng trùng hợp đều chứa liên kết C=C trong phân

tử

(5) Các đipeptit phản ứng với dung dịch NaOH theo tỉ lệ mol 1:2

(6) Saccarozơ là chất kết tinh, màu trắng, có vị ngọt của đường mía

(7) Tơ nilon-6, 6 còn được gọi là poli peptit

(8) Khi rớt vài giọt dung dịch HCl vào vải sợi bông, chỗ vải mủn dần rồi mớibục ra do xenlulozơ trong vải bị oxi hóa

Số phát biểu nào sau đây luôn đúng là

Phạm vi sử dụng

Có thể sử dụng trong tiết ôn tập chương 4 – hóa học 12

Câu hỏi vấn đáp

Trang 9

- Mệnh đề 1: Lấy ví dụ một số chất không phải cacbohidrat mà có công thức

Cn(H2O)m? ( HCHO, CH3COOH) Mệnh đề này nếu sử lại cho đúng sẽ đượcphát biểu như thế nào? (Tất cả các cacbohiđrat đều có công thức là Cn(H2O)m )

- Mệnh đề 2: Ta dùng H2SO4 loãng, phản ứng có xảy ra không?

- Mệnh đề 4: giáo viên yêu cầu học sinh lấy ví dụ về monome tham gia phảnứng trùng hợp mà phân tử không chứa liên kết C=C ? ( Caprolactam)

- Mệnh đề 5: giáo viên đặt câu hỏi gợi ý: đi peptit Glu-Ala tác dụng với dungdịch NaOH theo tỉ lệ bao nhiêu? Từ đó giúp học sinh nhận ra sai lầm

- Mệnh đề 6: giáo viên có thể hỏi rộng ra: em hãy nêu màu sắc của tất cả các

chất trong chương cacbohidrat? Từ đó rút ra nhận xét: Chỉ tinh bột và xenlulozo

có màu trắng, các chất còn lại trong chương này đều không màu.

-Mệnh đề 7: giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại khái niệm liên kết peptit? Công

thức cấu tạo của monome tạo nên tơ nilon -6,6 Từ đó rút ra kết luận tơ 6,6 không phải polipeptit.

nilon Mệnh đề 8: giáo viên đặt câu hỏi: Vai trò của HCl trong thí nghiệm trên? Nếuthay bằng H2SO4 loãng, hoặc H2SO4 đặc thì hiện tượng có thay đổi không? Từ

đó khắc sâu kiến thức: vai trò của HCl là tạo môi trường axit cho phản ứng thủy phân, nếu thay bằng H 2 SO 4 loãng thì hiện tượng không thay đổi, nhưng thay bằng H 2 SO 4 đặc thì hiện tượng thay đổi do H 2 SO 4 đặc có tính háo nước và tính oxi hóa mạnh,sợi bông sẽ hóa đen rồi bục.

Nhận xét: Với kĩ thuật hỏi đáp tích cực và câu hỏi gợi mở, mở rộng vấn

đề như trên tôi nhận thấy học sinh học lý thuyết kĩ hơn, sâu hơn Đặc biệt kíchthích được trí tò mò, óc phân tích và lòng đam mê học tập của các em Những

học sinh khá giỏi thì cảm thấy vui vẻ khi trả lời được câu hỏi, học sinh kém hơn khi nghe bạn trả lời lại được hiểu rõ hơn những vấn đề một lần nữa Tôi nhậnthấy chất lượng chuẩn bị bài của các em tốt hơn, một phần do lo lắng cô sẽ hỏi

“vặn vẹo” những vấn đề liên quan khác

Biện pháp 5: Tích cực đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả

học tập của học sinh

Trong quá trình ôn tập tôi tổ chức kiểm tra chất lượng học sinh thườngxuyên nhằm phát hiện những chỗ học sinh còn yếu để có biện pháp khắc phụcđiều chỉnh kịp thời Đồng thời cũng là động lực thúc đẩy học sinh phải tự giáctìm tòi học hỏi thêm Đôi khi, trong các giờ ôn tập tôi tạo điều kiện để các em tựghép đôi, hỏi đáp tích cực, giáo viên và các bạn khác lắng nghe làm trọng tài,tạo không khí vui vẻ, hào hứng để các em ghi nhớ kiến thức tốt hơn

Sử dụng google form hoặc azota để tổ chức cho học sinh ôn tập, kiểm tra

lý thuyết Việc các em biết kết quả ngay sau khi làm bài cũng tạo được hứng thúcho việc học tập

Biện pháp 6: Vận dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học.

Trang 10

Trong những năm gần đây trường chúng tôi đã trang bị đầy đủ tivi, máychiếu ở các phòng học Công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho bản thân tôi rất nhiềutrong công tác ôn tập lý thuyết hữu cơ cho học sinh Tôi đã vận dụng như sau :

+ Sử dụng máy chiếu, tivi để truyền đạt các kiến thức khó mang tính chấtđộng như trình chiếu các thí nghiệm ảo mà học sinh khó hoặc không thể thựchiện được ở phòng thí nghiệm Có thể sử dụng để trình chiếu các bài tập, biểubảng so sánh tính chất hóa hữu cơ trong quá trình dạy để tiết kiệm thời gian ghibảng

+ Tôi sử dụng máy chiếu để chiếu hệ thống câu hỏi, dùng bảng điện tử vàbút màu để gạch chân cái chi tiết cần nhấn mạnh

+ Tôi đã sử dụng CNTT để dạy học trực tuyến thông qua mạng internet như google meet, zoom, đặc biệt phù hợp cho giai đoạn Covid bùng phát, học sinh không thể đến trường

Biện pháp 7: Từng bước xây dựng, lựa chọn, sắp xếp có hệ thống câu hỏi

trắc nghiệm khách quan về lý thuyết, đặc biệt chú trọng dạng lý thuyết đúng-saitheo từng bài, từng chương và tổng hợp

Ví dụ: Cho các mệnh đề sau

(1) Hàm lượng glucozơ hầu như không đổi trong máu người là 0,1%

(2) Trong môi trường axit, glucozơ và fructozơ có thể chuyển hoá lẫn nhau.(3) Glucozơ và fructozơ đều bị khử bởi AgNO3 trong dung dịch NH3

(4) Fructozơ và glucozơ đều có khả năng tham gia phản ứng tráng bạc

(5) Hiđro hoá hoàn toàn glucozơ tạo ra axit gluconic

(6) Trong dung dịch, glucozơ tồn tại chủ yếu dạng mạch vòng

(7) Glucozo là hợp chất đa chức, tác dụng với Cu(OH)2 tạo dung dịch xanh lam (8) Có thể dùng dung dịch Br2 để phân biệt glucozơ và fructozơ

Số mệnh đề đúng là

Phạm vi sử dụng

Có thể sử dụng trong bài “Glucozo” – hóa học 12

Lưu ý: Giáo viên không chủ quan với các câu hỏi lý thuyết tưởng chừng rất dễ,

có thể học sinh sẽ làm tốt các câu lý thuyết khó, nhưng lại làm sai các câu dễ Vậy nên trong quá trình ôn tập, cố gắng tạo điều kiện để các em được tiếp cận với hệ thống câu hỏi lý thuyết phong phú nhất

Sau mỗi chương bài tôi đều cho học sinh làm hệ thống câu hỏi đúng sai,

sau đó hướng dẫn học sinh trả lời bằng hệ thống câu hỏi vấn đáp mở rộng vấn đềliên quan, giúp học sinh khắc sâu kiến thức lý thuyết từ đó vận dụng kiến thức

để giải quyết các bài toán hóa khó hơn

* Chương este-lipit

Phát biểu nào sau đây là phát biểu đúng?

Ngày đăng: 06/06/2022, 19:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w