Để những kiến thức lý thuyết đó giải quyết được các vấn đề thực tế liên quan đến sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên nhằm giúp học sinh nâng cao hiểu biết để bảo vệ sức khoẻ cho bả
Trang 1MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
I.1 Lí do chọn đề tài 1
I.2 Mục đích nghiên cứu 1
I.3 Đối tượng nghiên cứu 1
I.4 Phương pháp nghiên cứu 1
II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2
II.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
II.1.1 Tiêu hoá 2
II.1.2 Hô hấp 6
II.1.3 Tuần hoàn……… 3
II.1.4 Cân bằng nội môi……… 3
II.1.5.Hệ thần kinh………5
II.1.6 Điều hoà sinh sản và sức khoẻ sinh sản vị thành niên………6
II.2 Thực trạng của vấn đề 7
II.3 Các giải pháp thực hiện 8
II 4 Kết quả áp dụng .16
III KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1 Lí do chọn đề tài.
Những năm gần đây Bộ Giáo Dục đã có những chủ trương đổi mới giáo dục một cách toàn diện, những đợt tập huấn từ cấp Bộ, cấp Tỉnh cho giáo viên được triển khai một cách liên tục như: Dạy học theo chủ đề, dạy học định hướng phát triển năng lực của học sinh và những năm gần đây là dạy học theo chủ đề tích hợp, liên môn, dạy học phải vận dụng được kiến thức lý thuyết vào để giải quyết các vấn đề thực tiễn Trong quá trình dạy, tôi thấy chủ trương đổi mới của Bộ Giáo Dục rất đúng đắn,
nó mang lại hiệu quả cao Đối với học sinh, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn [1]
Chính vì nhận thức ra sự quan trọng của việc dạy học gắn liền với thực tiễn là vô cùng quan trọng, cho nên các bài dạy hay các chủ đề thực hiện tôi đều cố gắng để đưa các kiến thức thực tế vào trong các bài giảng của mình
Trong những năm gần đây tôi đã thực hiện được các chủ đề và gắn với thực tiễn cho học sinh làm như vận dụng kiến thức vi sinh vật để thực hiện chủ đề làm nem chua, làm dưa cà, sữa chua và làm rượu vang, vận dụng kiến thức Enzim để làm ra kẹo mạch nha Lớp 11 tôi thực hiện thực hành trồng rau sạch trong dung dịch đấy là những hoạt động tạo ra sản phầm ứng dụng vào thực tiễn Vậy những kiến thức lí thuyết trong chương trình sinh học lớp 11 rất nhiều và liên quan đến con người? Tôi đã liên kết các kiến thức trong các bài hô hấp, hệ tuần hoàn, cân bằng nội môi, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển, điều khiển sinh sản, Để những kiến thức lý thuyết đó giải quyết được các vấn đề thực tế liên quan đến sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên nhằm giúp học sinh nâng cao hiểu biết để bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, sức khoẻ cho người thân, cho gia đình và xã hội
Vì vậy tôi xin được viết lại sáng kiến của tôi đã thực hiện trong năm qua với tên đề
tài: Tổ chức hoạt động ngoại khoá: “Tìm hiểu, bảo vệ sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản
vị thành niên” nhằm hệ thống và vận dụng kiến thức liên quan đến con người thuộc trong chương trình sinh học lớp 11 để giải quyết các vấn đề thực tiễn giúp học sinh nâng cao hiểu biết bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, gia đình và xã hội I.2 Mục đích nghiên cứu
- Giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức liên quan đến cơ thể con người như: Hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, cân bằng nội môi, các yếu tố ảnh hưởng sinh trưởng phát triển, điều hoà sinh sản ở người
- Vận dụng các kiến thức các bài hô hấp, hệ tuần hoàn, cân bằng nội môi, các yếu
tố ảnh hưởng sinh trưởng phát triển, điều hoà sinh sản ở người để giải thích các câu hỏi thực tế
- Học sinh có kiến thức bảo vệ sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Trang 3- Giúp học sinh phát triển các năng lực học tập
- Giúp học sinh vận dụng các kiến thức liên môn vào thực tiễn
I.3 Đối tượng nghiên cứu.
Lấy học sinh lớp 11 hàng năm làm nghiên cứu, kết quả phiếu thăm dò đối với học sinh, phụ huynh của từng năm được đánh giá và rút kinh nghiệm cho các năm tiếp theo
I.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Thu thập thông tin, tìm hiểu tư liệu liên quan: Tìm hiểu thông tin qua sách, báo, mạng xã hội
- Tích hợp: những điều đã biết, đã học, kiến thức liên môn với thực tế đời sống
- Phân tích, đánh giá: Phân tích cụ thể các điều kiện để tạo hứng thú trong học tập của học sinh
- Lấy phiếu thăm dò mức độ hài lòng của học sinh
II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến.
1.1 Tiêu hoá
Con người là động vật có ống tiêu hoá, thức ăn được tiêu hóa ngoại bào Thức ăn
đi qua ống tiêu hóa được biến đổi cơ học và hóa học trở thành những chất dinh dưỡng đơn giản và được hấp thụ vào máu Các chất không được tiêu hóa trong ống tiêu hóa
sẽ tạo thành phân và được thải ra ngoài Con người không tiêu hoá được xenlulozo
1.2 Hô hấp
Hô hấp là tập hợp những quá trình, trong đó cơ thể lấy ôxi từ bên ngoài vào để ôxi hóa các chất trong tế bào và giải phóng năng lượng cho các hoạt động sống, đồng thời thải CO2 ra ngoài
Nguyên tắc của quá trình hô hấp: Khuyếch tán khí từ nơi có nồng độ cao đến nơi
có nồng độ thấp
Trang 4Hô hấp bao gồm các quá trình hô hấp ngoài và hô hấp trong, vận chuyển khí.
Hô hấp ngoài: là quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài thông qua bề mặt trao đổi khí (con người là phổi) giữa cơ thể và môi trường → cung cấp oxi cho hô hấp
tế bào, thải CO2 từ hô hấp trong ra ngoài
Hô hấp trong là quá trình trao đổi khí trong tế bào và quá trình hô hấp tế bào, tế bào nhận O2, thực hiện quá trình hô hấp tế bào và thải ra khí CO2 để thực hiện các quá trình trao đổi khí trong tế bào
Hình 1: Các giai đoạn của quá trình hô hấp
PHỔI LÀ BỀ MẶT TRAO ĐỔI KHÍ Ở NGƯỜI:
+ Bề mặt trao đổi khí rộng, diện tích lớn
+ Mỏng và ẩm ướt giúp khí khuếch tán qua dễ dàng
+ Có nhiều mao mạch và máu có sắc tố hô hấp
+ Có sự lưu thông khí tạo ra sự chênh lệch nồng độ để các khí khuếch tán dễ dàng
1.3 Hệ tuần hoàn
* Chức năng của hệ tuần hoàn
- Cung cấp chất dinh dưỡng, ôxi cho tế bào hoạt động
- Đưa các chất thải đến thận, phổi, da để thải ra ngoài
→ Vận chuyển các chất từ bộ phận này đến bộ phận khác để đáp ứng cho các hoạt động sống của cơ thể
* Huyết áp : Là áp lực của máu tác động lên thành mạch
Huyết áp phụ thuộc vào: Lượng máu, sức co tim, độ đàn hồi của mạch máu
1.4 Cân bằng nội môi
* Vai trò của thận trong cân bàng áp suất thẩm thấu
- Áp suất thẩm thấu của máu phụ thuộc vào lượng nước và nồng độ các chất chất hòa tan trong máu, đặc biệt là phụ thuộc vào nồng độ Na+ (NaCl là thành phần chủ yếu tạo nên áp suất thẩm thấu của máu)
Trang 5+ Khi áp suất thẩm thấu trong máu tăng cao (do ăn mặn hoặc mất nhiều mồ hôi…), thận tăng cường tái hấp thụ nước trả về máu, đồng thời động vật uống nước vào do có cảm giác khát Điều đó giúp cân bằng áp suất thẩm thấu của máu
+ Khi áp suất thẩm thấu trong máu giảm (do uống quá nhiều nước làm dư thừa nước…), thận tăng thải nước, nhờ đó duy trì cân bằng áp suất thẩm thấu của máu
- Thận thải các chất thải (urê, crêatin…) qua đó duy trì áp suất thẩm thấu
* Vai trò của gan
- Gan có vai trò quan trọng trong điều hòa nồng độ của nhiều chất trong huyết tương, qua đó duy trì cân bằng áp suất thẩm thấu của máu
Ví dụ: Gan điều hòa nồng độ glucôzơ trong máu
- Sau bữa ăn nhiều tinh bột, nồng độ glucôzơ trong máu tăng lên, tuyến tụy tiết ra insulin Insulin làm cho gan nhận và chuyển glucôzơ thành glicôgen dự trữ, đồng thời làm cho các tế bào của cơ thể tăng nhận và sử dụng glucôzơ Nhờ đó, nồng độ glucôzơ trong máu trở lại ổn định
- Ở xa bữa ăn, sự tiêu dùng năng lượng của các cơ quan làm cho nồng độ glucôzơ trong máu giảm, tuyến tụy tiết ra hoocmôn glucagôn Glucagôn có tác dụng chuyển glicôgen ở gan thành glucôzơ đưa vào máu, kết quả là nồng độ glucôzơ trong máu tăng lên và duy trì ở mức ổn định
* Vai trò của hệ đệm
- Các tế bào trong cơ thể hoạt động trong môi trường pH nhất định Những biến động của pH nội môi đều có thể gây ra những thay đổi hoặc rối loạn hoạt động của tế bào, của cơ quan, thậm chí gây tử vong cho động vật và người
- Ở người, pH của máu bằng khoảng 7,35 – 7,45 Các hoạt động của tế bào của các cơ quan luôn sản sinh ra các chất (CO2, axit lactic…) có thể làm thay đổi pH máu Mặc dù vậy, pH của máu vẫn duy trì ở mức ổn định nhờ có hệ đệm (trong máu) và một số cơ quan khác
- Hệ đệm duy trì được pH ổn định do chúng có khả năng lấy đi H+ hoặc OH- khi các ion này xuất hiện trong máu
Trang 6- Trong máu có các hệ đệm chủ yếu sau đây:
+ Hệ đệm bicacbonat : H2CO3/NaHCO3
+ Hệ đệm phôt phat : NaH2PO4/NaHPO4
+ Hệ đệm prôtêinat (prôtêin)
Trong số các hệ đệm, hệ đệm prôtêinat là hệ đệm mạnh nhất
- Ngoài hệ đệm, phổi và thận cũng đóng vai trò quan trọng trong điều hòa cân bằng nội môi
+ Phổi tham gia điều hòa pH máu bằng cách thải CO2 , vì khi CO2 tăng lên sẽ làm tăng H+ trong máu
+ Thận tham gia điều hòa pH nhờ khả năng thải H+ , tái hấp thu Na+ , thải NH3
1.5 Hệ thần kinh
- Người có cấu trúc Hệ thần kinh dạng ống được cấu tạo từ 2 phần rõ rệt : thần kinh trung ương và thần kinh ngoại biên
+ Hệ thần kinh trung ương gồm não và tủy sống
+ Hệ thần kinh ngoại biên gồm hạch thần kinh và dây thần kinh
- Não bộ phát triển mạnh, chia thành 5 phần : bán cầu đại não, não trung gian, não giữa, tiểu não và hành não Não bộ tiếp nhận và xử lí hầu hết thông tin đưa từ bên ngoài vào, quyết định mức độ và cách phản ứng lại
Nơron là đơn vị cấu tạo của hệ thần kinh Mỗi nơron gồm một thân chứa nhân,
hình sao nhiều cạnh hoặc bầu dục và các sợi Từ thân phát đi nhiều tua (sợi) ngắn phân nhánh như cành cây gọi là sợi nhánh và một tua dài, mảnh gọi là sợi trục Dọc sợi trục
có thể có bao myelin Sợi trục nối giữa trung ương thần kinh với các cơ quan, chúng đi
chung với nhau thành từng bó gọi là dây thần kinh.
Chức năng cơ bản của nơron là cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh dưới dạng các tín hiệu hóa học Dây thần kinh là nguồn cung cấp con đường chung cho các
xung điện thần kinh được truyền dọc sợi trục thần kinh tới các cơ quan ngoại biên Xung thần kinh truyền trên sợi trục có bao Myelin khác so với không có bao
Trang 7* Sự lan truyền xung thần kinh qua chuỳ xi náp
1.6 Điều hoà sinh sản và sức khoẻ sinh sản vị thành niên
* Cơ chế điều hoà sinh tinh
– Khi có kích thích từ môi trường, vùng dưới đồi tiết ra hoocmôn GnRH kích thích tuyến yên tiết FSH và LH:
+ FSH: kích thích ống sinh tinh sản sinh tinh trùng
+ LH kích thích tế bào kẽ (tế bào lêiđich) sản xuất testostêrôn, testostêrôn kích thích sản sinh ra tinh trùng.– Khi nồng độ testosteron trong máu tăng cao gây ức chế ngược lên tuyến yên và vùng dưới đồi, làm 2 bộ phận này giảm tiết GnRH, FSH và LH dẫn đến tế bào kẽ giảm tiết testosteron
– Nồng độ testosteron giảm không gây ức chế lên vùng dưới đồi và tuyến yên nữa, nên 2 bộ phận này lại tăng tiết hocmon
Trang 82 Cơ chế điều hoà sinh trứng
– Khi có kích thích từ môi trường, vùng dưới đồi tiết ra hoocmôn GnRH kích thích tuyến yên tiết FSH và LH: FSH kích thích nang trứng phát triển và tiết ra Ơstrôgen;
LH làm trứng chín, rụng và tạo thể vàng, thể vàng tiết prôgestêrôn và ơstrôgen
+ Prôgestêrôn và ơstrôgen làm cho niêm mạc dạ con phát triển dày lên
+ Khi nồng độ prôgestêrôn và ơstrôgen trong máu tăng cao gây ức chế ngược, vùng dưới đồi và tuyến yên giảm tiết GnRh, FSH và LH
* Ảnh hưởng của thần kinh và môi trường sống đến quá trình sinh tinh và sinh trứng
– Ảnh hưởng của thần kinh: Căng thẳng thần kinh, lo âu, sợ hãi kéo dài hay đột ngột gây rối loạn quá trình trứng chín và rụng, làm giảm sản sinh tinh trùng
Trang 9– Ảnh hưởng của môi trường:
+ Điều kiện tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…ảnh hưởng đến sinh sản ở động vật
+ Chế độ ăn không hợp lí gây rối loạn quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể ảnh hưởng đến quá rình sinh tinh và sinh trứng…
+ Người nghiện thuốc lá, nghiện rượu, nghiện ma túy có quá trình sinh trứng bị rối loạn, tinh hoàn giảm khả năng sinh tinh trùng
II.2 Thực trạng của vấn đề
- Hiện nay môn Sinh là môn không được chú ý nhiều ở các trường phổ thông Một
lí do là môn Sinh thuộc tổ hợp khối B, trong khi khối B được ít trường đại học xét tuyển và không được đa dạng về ngành nghề, chủ yếu là trường Y trong khi đó trường
Y lại lấy với số điểm quá cao
- Việc dạy học của giáo viên chưa thực sự đổi mới, vẫn đang ngại tiếp cận với những vấn đề mới, bởi vì khi dạy một bài theo phương pháp mới thì cần tốn rất nhiều thời gian, sự đầu tư công sức của giáo viên
- Mục đích học môn Sinh một là lấy điểm cao để xét tuyển vào trường đại học, hai
là học thuộc để đạt điểm cao trong các bài kiểm tra Học sinh chưa thực sự chú tâm đến việc học tập để rèn luyện kĩ năng
- Học sinh trường THPT Bỉm Sơn thực tế là rất năng động, sáng tạo Ham học hỏi, nếu như giáo viên mà phân công các công việc học theo dự án các em rất hào hứng, phấn khởi và tham gia rất trách nhiệm
- Trong chương trình sinh học 11 thì có chương I là thi THPT Quốc Gia, nội dung thi gồm có 4 câu, nhưng đều chỉ là các câu nhớ trong khi chương trình sinh học lớp 11
là khối liên quan nhiều đến con người nhất nó gồm các bài: Tiêu hoá, hô hấp, tuần hoàn, xung thần kinh, điều hoà sinh sản nếu như dạy học theo kiểu dạy để thi thì hầu như các kiến thức này lại không thi đến, nên giáo viên ra đề giữa kì, hay cuối kì cũng chỉ ra kiểm tra lại kiến thức ở trong sách giáo khoa, ít kiến thức liên hệ thực tế
- Trong chương trình sinh 11 có thể có những trường đã tổ chức ngoại khoá về sức khoẻ sinh sản vị thành niên nhưng chưa có có sự liên hệ với kiến thức bảo vệ sức khoẻ chung như hô hấp, tuần hoàn, chuyển hoá chất, cân bằng nội môi, thần kinh…
II.3 Các giải pháp thực hiện
Bước 1: Lựa chọn những bài có liên quan đến kiến thức sức khoẻ của con người trong chương trình sinh học lớp 11
- Hệ thống lại toàn bộ kiến thức liên quan đến người ở các bài:
+ Hô hấp
+ Tuần hoàn
+ Cân bằng nội môi
+ Cảm ứng ở động vật,
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật
+ Điều hoà sinh sản,
Trang 10Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết
Với chủ đề “Bảo vệ sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên”, tôi xác định cần
cho học sinh giải quyết các vấn đề sau:
(1) Từ bài hô hấp, kiến thức liên quan đến hô hấp ở người tôi mong muốn học sinh xác định được: Quá trình lấy khí từ môi trường vào phổi như thế nào? Cơ chế vận chuyển O2 từ phổi vào tế bào diễn ra thế nào? Từ đó sẽ giải thích tại sao đuối nước có thể dẫn đến tử vong? Tại sao ở các vụ hoả hoạn, người trong nhà có thể bị tử vong do ngạt trước khi tử vong do lửa tấn công? Học sinh nêu được cách thoát nạn khi có đám cháy để tự cứu mình trước khi có lực lượng cứu hộ đến cứu Học sinh có thể biết cách
sơ cấp cứ khi người bị đuối nước (video trong đĩa)
(2) Từ bài tiêu hoá, kiến thức liên quan đến cơ quan tiêu hoá để học sinh giải thích được sự tiêu hoá ở người lại khác ở động vật ăn thực vật, tại sao con người không tiêu hoá được Xenlulozo? Tuy nhiên rau xanh lại rất quan trọng cho cơ thể con người? (3) Từ bài tuần hoàn học sinh có thể vận dụng để giải thích được rất nhiều kiến thúc liên quan thực tế như: tại sao khi tim co bóp nhanh, ăn mặn, lên đỉnh núi cao thì huyết áp tăng? Cách để phòng tránh bệnh cao huyết áp
(4) Từ bài cân bằng nội môi, học sinh giải thích được vì sao người bình thường lượng máu trong cơ thể luôn ổn định? Vì sao người bị bệnh tiểu đường? Cách sinh hoạt và chế độ ăn uống đối với người bị bệnh tiểu đường?
(5) Từ bài điện thế hoạt động, cấu trúc của hệ thần kinh học sinh giải thích được
cơ chế gây mê, gây tê, cách bảo vệ sức khoẻ của hệ thần kinh để tránh stress
(6) Từ bài cơ chế điều hoà sinh sản, học sinh giải thích được cơ chế điều hoà sinh trứng, sinh tinh, hiện tượng kinh nguyệt từ đó học sinh giải thích và biết các phương pháp tránh thai, phương pháp tránh thai dựa vào cách tính chu kì kinh nguyệt…
(7) Giáo dục ý thức học sinh bảo vệ sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho bản thân, bạn gái biết bảo vệ bản thân mình, bạn trai có cái nhìn bình đẳng, không trọng nam, khinh nữ
Bước 3: Công bố thể lệ cuộc thi cho học sinh (phụ lục số 1)
“Tìm hiểu sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên” thông qua 3 vòng:
Vòng 1: Vòng loại
Mục đích: Hệ thống lại toàn bộ kiến thức liên quan đến người ở các bài:
Bài Hô hấp, tuần hoàn, cân bằng nội môi, cảm ứng ở động vật, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật, điều hoà sinh sản
Vòng 2: Vòng bán kết
Mục đích: Chọn ra 4 đội vào vòng chung kết, vòng thi này chỉ diễn ra sau vòng loại nên thời gia diễn ra nhanh Mỗi đội gồm 3 em
Hình thức: Thi 100 câu hỏi nhanh và thi bằng giấy (Phụ lục số 4)
Vòng 3: Vòng chung kết
Mục đích: Tuyên truyền và giúp học sinh vận dụng các kiển thức lí thuyết để giải quyết các vấn đề thực tiễn Vì vậy nên tôi cho các đội thi trải qua 4 phần