Văn nghị luận xã hội đã phát huy vaitrò to lớn của nó trong việc hình thành nhận thức của học sinh về các vấn đề xãhội từ đó giúp các em có những hành động, những cách ứng xử chuẩn mực h
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI (KHOẢNG 200 CHỮ) CHO HỌC SINH THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Như Thanh SKKN thuộc lĩnh vực môn: Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2022
MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU 1
2.1 Hướng dẫn HS nhận diện yêu cầu viết đoạn văn 42.2 Hướng dẫn HS nhận diện các hình thức đoạn văn 42.3 Hướng dẫn HS nhận diện các dạng nghị luận xã hội và cách
làm của mỗi dạng
6
2.5 Hướng dẫn cho học sinh cách viết mở đoạn và kết đoạn 112.6 Hướng dẫn học sinh đưa dẫn chứng vào đoạn văn 13
2.9 Đính kèm các đoạn văn mẫu vào Padlet 17 17
PHỤ LỤC
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói riêng là một dạng vănchiếm vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn THPT Biết nghị luận là conngười biết phán đoán và suy luận, có tư duy logic để trình bày và bảo vệ quanđiểm của mình, đồng thời biết phản bác những quan điểm, nhận thức sai lệchmột cách thuyết phục Trong những năm gần đây văn nghị luận xã hội đã đượcchú trọng trong các nhà trường trung học Văn nghị luận xã hội đã phát huy vaitrò to lớn của nó trong việc hình thành nhận thức của học sinh về các vấn đề xãhội từ đó giúp các em có những hành động, những cách ứng xử chuẩn mực hơntrong cuộc sống Văn nghị luận xã hội cũng bồi đắp những phẩm chất, những giátrị quan trọng, nuôi dưỡng tâm hồn giúp các em học sinh tự hoàn thiện chínhmình từ đó sống đẹp và sống có ý nghĩa hơn
Chính vì có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách người họcsinh, nên văn nghị luận xã hội đã trở thành tiêu chí đánh giá, trở thành nội dungquan trọng trong các đề kiểm tra, đề thi tuyển sinh vào 10, đề thi học sinh giỏihay đề thi tốt nghiệp THPT Việc coi trong văn nghị luận xã hội trong nhàtrường vừa là cơ hội và cũng là một thách thức với học sinh Trước đây, mộtthời gian khá dài, bộ môn Văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận vănhọc Điều này này ít nhiều khiến học sinh cảm thấy văn nhàm chán, khuôn mẫu,
xa rời thực tế Chính vì vậy học văn nghị luận xã hội các em có cơ hội tiếp cậnnhững tri thức phong phú, sinh động, gần gũi từ thực tế, đồng thời cũng tạo cơhội cho học sinh bày tỏ quan điểm cá nhân về những vấn đề xã hội mà các emquan tâm
Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức không nhỏ đối với cả giáo viên vàhọc sinh bởi ở bậc THPT Trong quá trình học môn Ngữ văn học sinh chủ yếurèn luyện viết bài văn nghị luận văn học, chương trình THPT hiện hành, nhất làchương trình lớp 12 chủ yếu rèn kĩ năng lập dàn ý và tạo lập văn bản mà chưachú ý đến việc rèn viết đoạn văn nghị luận 200 từ cho học sinh Hơn nữa đối vớicác vấn đề xã hội học sinh còn thiếu hiểu biết, các em còn trẻ, kiến thức về xãhội còn hạn chế, kinh nghiệm sống còn mỏng, nhiều học sinh còn chưa nhậndiện sâu sắc được vấn đề, chính vì thế viết văn nghị luận xã hội không hề dễ
dàng Từ thực tế giảng dạy ở trường THPT, tôi đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) cho học sinh THPT”, với đề tài này tôi mong muốn tháo gỡ những bỡ ngỡ
và vướng mắc nhằm giúp các em học sinh làm tốt câu nghị luận xã hội Từ đó,góp phần nâng cao tổng điểm bài thi môn Ngữ văn của các em trong kì thi tốtnghiệp THPT
2 Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh:
Trang 4- Nhận diện được những yêu cầu cơ bản về nội dung và hình thức củađoạn văn nghị luận xã hội
- Sử dụng hiệu quả các biện pháp hướng dẫn trình bày đoạn văn
- Nâng cao điểm số phần nghị luận xã hội trong đề thi tốt nghiệp THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài này tập trung vào các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu lí thuyết một cách khái quát
Thứ hai: Các biện pháp nhằm rèn kĩ năng viết đoạn văn NLXH
Thứ ba: Một số đề minh họa
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Học sinh lớp 11, 12 trường THPT Như Thanh
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chủ yếu khảo sát, nắm bắt tình hình thực tiễn và đúc rútkinh nghiệm thực tiễn giảng dạy hàng năm để tìm ra giải pháp chung
6 Điểm mới của đề tài:
Rèn kĩ năng viết nghị luận xã hội không phải là một đề tài hoàn toàn mới
mẻ, tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, sáng kiến vẫn có nhữngđiểm mới và hiệu quả, cụ thể:
- Sáng kiến là một quy trình được đóng gói hoàn chỉnh các biện pháp tối
ưu nhất từ khâu nhận thức đề đến khi hoàn thiện một đoạn văn hoàn chỉnh
- Người viết định hướng học sinh trình bày đoạn văn nghị luận xã hội theohình thức đoạn văn tổng – phân – hợp dưới dạng một bài báo nhỏ
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái quát về văn nghị luận.
Trang 5Văn nghị luận chính là một dạng văn mà trong bài đó người viết và ngườinói tác giả có xu hướng dùng hầu hết các lý lẽ, các dẫn chứng sau đó lập luận đểchỉ ra những điểm nhấn, vấn đề Với mục đích nhằm xác lập để chỉ ra cho ngườiđọc, người nghe thấy được những tư tưởng, quan điểm của tác giả muốn gửigắm vào tác phẩm.
Trên phương diện đó, một bài văn nghị luận để tăng sức thuyết phục thìnhững từ dẫn chứng, cho đến lý lẽ đưa vào đều cần có tính chân thực và sắc nét.Những tư tưởng, những quan điểm khi trình bày trong bài phải phù hợp, cần cóhướng giải quyết cụ thể các vấn đề trong xã hội thì mới có tính thuyết phục
Văn nghị luận thường có xu hướng mang những giá trị và sắc màu khácnhau cho từng loại vấn đề hoặc chủ đề khác nhau Mỗi tác phẩm khi được viết rađều cần phải được đảm bảo cả 3 yếu tố bao gồm: lập luận, phản biện và phântích Đó chính là những yếu tố cơ bản nhất và cần thiết cho một bài văn nghịluận
Trong chương trình học của trung học cơ sở và trung học phổ thông hiệnnay thì có 2 loại văn nghị luận chính, gồm: nghị luận văn học và nghị luận xãhội
1.1.2 Khái quát về đoạn văn
- Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chữ viết hoa đầu tiên lùiđầu dòng và kết thúc bằng một dấu chấm, nó diễn đạt ý hoàn chỉnh ở một mức
độ nào đó logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng
Tuy nhiên, đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ cần bám sát yêu cầu của
đề và dựa trên nội dung/ thông điệp ở phần đọc hiểu Mà vấn đề đặt ra ở phầnđọc hiểu rất phong phú: Có thể là một tư tưởng, một lối sống, một quan niệm,hay cách ứng xử, những vấn đề nóng của xã hội, hay một hiện tượngmạng Nên học sinh ngoài việc phải phân biệt được các dạng nghị luận cònphải nắm chắc về cấu trúc một đoạn văn gồm: Câu mở đoạn, câu phát triển đoạn
và câu kết đoạn
Cụ thể:
+ Đoạn văn thường có câu chủ đề
+ Câu chủ đề: là câu nêu lên ý chính của toàn đoạn, mang nội dung khái
quát, ý nghĩa ngắn gọn Thường đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn
+ Các câu phát triển đoạn và câu kết đoạn có nhiệm vụ triển khai và làmsáng tỏ câu chủ đề
+ Trong quá trình viết có thể sử dụng kết hợp các thao tác lập luận, trìnhbày đoạn văn theo lối diễn dịch, quy nạp, song hành…
1.1.3 Các dạng nghị luận xã hội
- Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xãhội chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng - sai, cáitốt - xấu của vấn đề được nêu ra Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đềnghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống
Trang 6- Nghị luận xã hội gồm có hai dạng: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí vànghị luận về một hiện tượng đời sống.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng giáo viên
Nghị luận xã hội là một nội dung quan trọng, không thể thiếu trong các đềthi, tuy nhiên trương chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành,nghị luận xã hội chỉ được dạy chính thức trong 4 tiết học Hai tiết dành cho Nghịluận về một tư tưởng đạo lí và 2 tiết còn lại dành cho Nghị luận về một hiệntượng đời sống Chính yếu tố khách quan này đã ảnh hưởng không nhỏ đến suynghĩ của giáo viên Đó là, nghị luận xã hội chủ chiếm tỉ lệ điểm nhỏ trong toànbài thi, viết một đoạn văn ngắn thì không cần đầu tư quá nhiều công sức để rèngiũa hay ôn luyện Trong khi đó nghị luận văn học dài hơn, nhiều điểm hơn, khóviết hơn nên dành hầu hết thời gian học để ôn luyện dạng bài này
Bởi vì chưa thực sự chú trọng trong việc hướng dẫn các em viết đoạn văndẫn đến tình trạng nhiều em đi thi không viết được nghị luận xã hội, không biếtmình viết gì, thậm chí trình bày không đúng hình thức của một đoạn văn
1.2.2 Thực trạng học sinh
Trước đây học sinh viết bài văn nghị luận xã hội, nhưng hiện nay chỉ cầnviết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ Vì vậy thời lượng làm bài và biểu điểm
bị rút ngắn, rất nhiều em gặp khó khăn về vấn đề này và mắc nhiều lỗi, cụ thể:
+ Lỗi về thời gian: Phân bổ thời gian làm bài không hợp lí
+ Lỗi về trình bày: Viết quá dài Không biết cách trình bày đoạn văn.Nhầm lẫn kiểu như: mở một đoạn, thân một đoạn, kết một đoạn
+ Viết không đúng trọng tâm Chưa xác định đây là dạng nghị luận gì (tưtưởng về đạo lí hay hiện tượng xã hội) để có cách triển khai phù hợp
+ Viết câu rườm rà, kiểu như nghĩ gì viết nấy, quá nhiều yếu tố biểu cảmlàm mất đi tính rõ ràng, xác thực mà một bài văn, đoạn văn nghị luận xã hội cần có
+ Chưa đảm bảo cấu trúc đoạn văn
Từ những thực trạng trên, tôi nhận thấy việc rèn luyện kĩ năng viết đoạnvăn nghị luận xã hội cho học sinh THPT là rất cần thiết
2 Các giải pháp thực hiện:
2.1 Biện pháp 1: Hướng dẫn HS nhận diện yêu cầu viết đoạn văn
- Hình thức: Đoạn văn (không phải bài văn) không xuống dòng
- Dung lượng: khoảng 200 từ, tương đương 20 - 25 dòng trên tờ giấy thi
- Nội dung: Cần đưa vấn đề về các dạng nghị luận đã học Đoạn văn đápứng được yêu cầu của đề, các câu trong đoạn liên kết chặt chẽ với nhau
- Cấu trúc đoạn văn: Nếu đề không yêu cầu cụ thể thì hình thức đoạn vănnên sử dụng hình thức là tổng - phân - hợp
Trang 72.2 Biện pháp 2: Hướng dẫn HS nhận diện các hình thức đoạn văn
a Khái niệm về đoạn văn
Đoạn văn: Là đơn vị cơ sở của văn bản, diễn đạt một nội dung trọn vẹn vàthống nhất Về hình thức, đoạn văn được mở đầu bằng chỗ lùi đầu dòng, viếthoa và kết thúc bằng dấu chấm ngắt đoạn
b Các hình thức trình bày đoạn văn.
Ngoài hai hình thức trình bày đoạn văn theo kiểu móc xích và song hành(ít dùng), khi dựng đoạn văn nói chung và đoạn văn nghị luận xã hội nói riêngthường sử dụng 3 hình thức trình bày đoạn văn phổ biến như sau:
- Diễn dịch: Là đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý khái quát đứng ở
đầu đoạn Các câu còn lại triển khai ý tưởng đã được nêu ra ở câu chủ đề
Sơ đồ đoạn văn diễn dịch:
Trang 81,2,3…là các câu triển khai ý của chủ đề
(Khái Hưng)
- Quy nạp: Là đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý khái quát đứng ở
cuối đoạn Các câu phía trên làm nhiệm vụ dẫn dắt, lí giải để có thể đi đến kếtluận ở câu chủ đề
Sơ đồ đoạn văn quy nạp:
DIỄN DỊCH
3 2
1
C
QUY NẠP
Trang 9Ví dụ minh họa:
Những chiếc điện thoại thông minh giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong cuộc sống Chúng không chỉ giúp chúng ta có thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những kiến thức của toàn nhân loại Thế nhưng, nó cũng đem lại cho chúng
ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng
cũng mang tới nhiều tác hại cho con người.
- Tổng phân hợp: Là đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý khái quát đứng
ở đầu đoạn, mở ra vấn đề cho các câu tiếp theo triển khai ý cụ thể Câu kết đoạnchốt lại vấn đề và nâng cao ý Trong quá trình rèn luyện kĩ năng viết đoạn vănnghị luận xã hội cho học sinh, chúng tôi chú ý tới hình thức tổng - phân - hợp
Sơ đồ đoạn văn tổng – phân – hợp:
TỔNG – PHÂN – HỢP
C
2
2 2
Trang 10C – là câu chủ đề 1,2,3…là câu trình bày các ý của chủ đề
Ví dụ minh họa:
Sách mang tới cho chúng ta nguồn kiến thức vô hạn Bởi sách không
chỉ cung cấp cho chúng ta thông tin, kiến thức về văn hóa, chính trị, về tôn giáo, mà còn giúp chúng ta chiêm nghiệm về xã hội xa xưa thông qua các tác phẩm văn học, lịch sử Nó giúp chúng ta được sống nhiều cuộc đời khác nhau, giúp chúng ta mở mang chân trời mới Đọc sách, người ta thấu hiểu nhiều điều, nhiều nền văn hóa khác nhau Vì vậy, có thể nói, sách chính là kho tàng kiến
thức của cả nhân loại.
2.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn HS nhận diện các dạng nghị luận xã hội
- Yêu cầu về nội dung: Vấn đề cần nghị luận là gì? (vấn đề nhận thức, vấn
đề đạo đức, các quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, ứng xử…) Có bao nhiêu ý cầntriển khai? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào?
- Yêu cầu về phương pháp: Các thao tác nghị luận chính cần sử dụng?(giải thích, chứng minh, bình luận…)
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Trong văn học, trong đời sống thực tiễn(khuyến khích lấy dẫn chứng trong đời sống thực tiễn)
C
Trang 11Bước 2: Lập dàn ý
- Đề yêu cầu bàn về một vấn đề mang tính khái quát, dàn ý cơ bản như sau:
Mở đoạn Nêu tư tưởng, đạo lí cần bàn - Giới thiệu vấn đề cần bàn luận(1 câu).
Thân
đoạn
Giải thích (Là gì?) - Giải thích ngắn gọn nội dungtư tưởng, cách hiểu (1 câu)
Phân tích, chứng minh (Tạisao? Như thế nào?)
- Phân tích tác dụng, ý nghĩacủa tư tưởng, chứng minh
động
- Nhận thức ý nghĩa, tính đúngđắn, tác dụng của tư tưởng
- Hành động (1-2 câu)
- Lưu ý: Nếu đề yêu cầu bàn về một khía cạnh của vấn đề
+ Nhất thiết phải giữ lại 2 phần trong gợi ý trên: Phần giải thích và phầnrút ra bài học nhận thức và hành động
+ Thời gian và dung lượng còn lại tập trung vào vấn đề mà đề bài yêu cầu.Bước 3: Tạo lập đoạn văn hoàn chỉnh
- Triển khai viết đoạn theo hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng đãxây dựng (theo dàn ý)
- Một đoạn văn nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ(200 chữ) và số lượng điểm (2.0 điểm) nên trong quá trình viết, các em cần phânphối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể lể,giải thích vấn đề không cần thiết
- Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao; cóthể sử dụng một số phép tu từ và yếu tố biểu cảm nhưng phải phù hợp và cóchừng mực
Bước 4: Đọc lại và sửa chữa những sai sót
Trang 12- Sau khi hoàn thành đoạn văn, HS cần dành thời gian từ 1 đến 2 phútkiểm tra lại bài viết của mình Công việc này không tốn nhiều thời gian và GVnên hình thành thói quen tự kiểm tra cho các em Nó giúp các em kiểm soátnhững lỗi sai về chính tả, cách dùng từ hay thiếu chữ… mà trong quá trình vừa
tư duy vừa viết đôi khi các em dễ phạm phải
* Ví dụ minh họa: Viết một đoạn văn 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói: “Tình người là sống tử tế với nhau”.
Mở đoạn Nêu tư tưởng, đạolí cần bàn
Nhân loại đã sản sinh ra nhiều giá trị, chuẩn mực với mục đích làm cho xã hội trở nên văn minh hơn, trong đó có lối sống tử tế.
Thân
đoạn
Giải thích (Là gì?) - Tử tế trong ứng xử nghĩa là từ những điềunhỏ nhất cũng phải cẩn trọng, ý tứ.
Phân tích, chứngminh (Tại sao?
Như thế nào?)
- Không tuân thủ những nguyên tắc đó ta sẽtrở nên dễ dãi, không chú ý đến hành vi, cửchỉ của mình; không hiểu thói quen, tậpquán, sở thích của người khác sẽ dẫn đếnthất bại trong giao tiếp
- Sống tử tế tình người sẽ trở nên ấm áp,con người sẽ trở nên tin cậy lẫn nhau
- Con người sẽ tránh xa được sự đố kị, dốitrá, oán ghét, hoài nghi, chỉ còn lại là sựchân thành, tôn trọng, đối đãi lịch thiệp vớinhau…
Bàn luận, mở rộngvấn đề
- Tử tế không đồng nghĩa với hạ mình
- Phê phán những người cẩu thả, thô bạotrong cách hành xử, thiếu quan tâm đếnngười khác từ những việc làm nhỏ nhất
Kết đoạn
Rút ra bài họcnhận thức và hànhđộng
- Tử tế là một trong những chuẩn mực cógiá trị muôn thuở trong ứng xử
- Cần trau dồi nhân cách để hoàn thiện
* Cách làm dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Bước 1,3,4: Giống với cách làm dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống
Trang 13Bước 2: Lập dàn ý
- Đề yêu cầu bàn về một vấn đề mang tính khái quát, dàn ý cơ bản như sau:
Mở đoạn Nêu hiện tượng đời sống cầnbàn bạc.
Giới thiệu thẳng hiện tượng cầnbàn luận bằng một câu tổngquát
Phân tích nguyên nhân/ táchại hoặc tác dụng (nếu là hiệntượng tốt)
- Nguyên nhân: chủ quan, kháchquan; con người; thiên nhiên…
Biện pháp khắc phục/biệnpháp nhân rộng hiện tượng
- Giải pháp khắc phục/ thực hiệnviệc đó ntn?
Kết đoạn Rút ra bài học nhận thức vàhành động - Nhận thức tác dụng/ tác hại
- Hành động
- Lưu ý: Nếu đề yêu cầu bàn về một khía cạnh của vấn đề (Đề không yêucầu bàn bạc cả hiện tượng mà chỉ yêu cầu bàn luận một khía cạnh như nguyênnhân của vấn đề hoặc giải pháp khắc phục hiện tượng…), cách làm cụ thể nhưsau:
- Nhất thiết phải có: Giải thích hiện tượng, rút ra bài học
- Thời gian và dung lượng tập trung vào yêu cầu của đề Học sinh linhhoạt triển khai
* Ví dụ minh họa: Viết đoạn văn nghị luận 200 từ bàn luận về hiện tượng “Like là làm”.
Mở đoạn Nêu hiện tượngđời sống cần bàn. Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận bằngmột câu tổng quát.Thân đoạn Giải thích - “Like là làm” là hình thức câu like, người
Trang 14(Là gì?)
đăng bài viết ra yêu cầu nếu share hoặc like
đủ số lần sẽ thực hiện một việc làm nào đó:châm xăng tự đốt; tự làm việc gì đó màngười khác không hình dung tới…
Biểu hiện, thựctrạng Nêu các biểu hiện cụ thể.
Phân tích nguyênnhân/ tác hại
- Sự lệch lạc trong suy nghĩ, muốn chơingông và muốn nhanh chóng nổi tiếng
- Do đám đông vô cảm, hưởng ứng châmngòi
Biện pháp khắcphục hiện tượng
- Tẩy chay những hành động tiêu cực, nguyhiểm
- Không like, share thiếu suy nghĩ theo đámđông
Kết đoạn
Rút ra bài họcnhận thức vàhành động
- Nhận thức tác dụng/tác hại
- Hành động
2.4 Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh tìm ý cho đoạn văn
- Cách tìm ý cho đoạn văn nghị luận xã hội bằng cách trả lời các câu hỏi:
+ Cái gì? Là gì? Giải thích từ ngữ, ý kiến, bài học, nêu biểu hiện của thực
trạng cụ thể
+ Tại sao? Có ý nghĩa như thế nào? Phần chứng minh, lí giải, đánh giá
vai trò, ý nghĩa của ý kiến hoặc hiện tượng
+ Ai? khi nào? ở đâu? Đây thực chất là phần dẫn chứng thực tế cụ thể,
sinh động
+ Làm như thế nào? Làm cách nào? Đây là tìm ra các giải pháp, cách
giải quyết vấn đề hoặc bài học cho chính mình
Sau khi khảo sát hệ thống đề thi tốt nghiệp THPT, tôi nhận thấy đoạn vănnghị luận xã hội thường tập trong xoáy sâu vào một trong hai phần: