1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc

59 685 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hường
Người hướng dẫn Phạm Thanh Liem, Đặng Thụy My Thy
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 17,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ NGỌC HƯỜNG CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC Channa Striata Bloch

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ NGỌC HƯỜNG

CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC

( Channa Striata Bloch, 1793)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ NGỌC HƯỜNG

CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC

( Channa Striata Bloch, 1793) )

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PHẠM THANH LIÊM ĐẶNG THỤY MAI THY

2008

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương I GIỚI THIỆU

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu châu thổ sông Mê-Kông, được xem là vùng trù phú nhất không chỉ của Việt Nam mà còn của cả khu vực Đông Nam Á Nơi đây có đặc trưng của một châu thổ thuộc miền nhiệt đới ẩm điển hình Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ĐBSCL còn là vùng nuôi thủy sản lớn nhất của cả nước, sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm khoảng 65%, diện tích nuôi trồng khoảng 60% và giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm đến 51% của cả nước (Dương Nhựt Long, 2003) Nhiều mặt hàng thủy sản của vùng không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất

khẩu cao Trong đó, cá lóc (Channa striata Bloch, 1973) là loài cá quen thuộc

của người dân, được nuôi phổ biến khắp các tỉnh ĐBSCL, không chỉ bởi đặc điểm dễ nuôi, chất lượng thịt ngon mà còn do chúng có giá trị dinh dưỡng cao

và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Thời gian qua hiệu quả lợi nhuận thu được từ hoạt động nuôi đối tượng này đã góp phần cải thiện và nâng cao điều kiện sống của nhiều bà con nông thôn ĐBSCL

Trong những năm gần đây, nghề thủy sản ngày càng phát triển và người dân không ngừng đưa mô hình nuôi thâm canh vào trong nuôi trông thủy sản để tăng năng suất Vấn đề này đã dẫn đến sự gia tăng khả năng ô nhiễm môi trường, cũng như những hiện tượng bệnh trên các đối tượng nuôi…Trước tình hình đó, việc nghiên cứu cấu trúc vi thể và chức năng hoạt động của các cơ quan trên cá khỏe cũng như những thay đổi cấu trúc của cá khi nhiễm bệnh là hết sức cần thiết Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều phương pháp đã được áp dụng để hỗ trợ cho việc nghiên cứu cá cũng như các đối tượng thủy sản khác, và mô học được xem là một trong những phương pháp hiệu quả Phương pháp mô học đã và đang được các nhà khoa học vận dụng vào nghiên cứu của họ trên nhiều động vật khác nhau Nó được xem như

là khoa học nghiên cứu sự phát triển, cấu tạo và hoạt động của các mô, cơ quan của cơ thể Bằng phương pháp này, ta có thể quan sát được cấu trúc vi thể của các cơ quan trong cơ thể của cá nói riêng ở từng giai đoạn phát triển của chúng, cũng như chẩn đoán và phòng bệnh trên các động vật thủy sản

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nội dung đề tài

Dùng phương pháp mô học để quan sát cấu trúc 9 cơ quan trên cá lóc khỏe gồm: da, cơ, mang, tim, gan, thận, tỳ tạng, dạ dày và ruột

Phân tích và mô tả cấu trúc vi thể của các cơ quan đã quan sát

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về nghiên cứu mô học

Việc nghiên cứu tế bào và mô học bắt đầu từ thế kỷ XVII nhưng mãi đến gần cuối thế kỷ XIX, tế bào học và mô học mới thực sự được coi là ngành khoa học

Malpighi (1624-1694), một trong số những nhà khoa học Châu Âu đã có hàng loạt phát hiện có giá trị trong việc nghiên cứu tế bào và mô Vào khoảng những năm 1675-1680, ông đã mô tả cấu tạo của da, thận, lách và một số cơ quan khác của cơ thể, do đó một số cấu trúc đã được mang tên ông Năm

1677, người thợ kính Hà Lan Anatolie Leeuwenhoek đã chế tạo được chiếc kính hiển vi có độ phóng đại đối tượng quan sát tới 300 lần Từ đó, ông đã có khả năng mô tả hồng cầu và sự vận chuyển chúng trong các mao mạch máu, phát hiện những tinh bào, nhìn thấy những vạch sáng, tối của sợi cơ vân, cấu tạo sợi thần kinh, sợi gân Tuy vậy, việc nghiên cứu cấu tạo vi thể của cơ thể động vật được tiến hành muộn hơn so với việc nghiên cứu thực vật Vào năm 1825-1827, Purkinje mô tả nhân của noãn trong trứng gà và sau đó chính ông

đã mô tả bào tương của tế bào Ít năm sau, Brown (1831) cũng mô tả nhân trong tế bào thực vật Những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học kể trên cũng như những công trình nghiên cứu của Dutrochet, Valentin, Schleiden đã giúp cho Schwann xây dựng và công bố học thuyết tế bào vào năm 1839 (trích dẫn bởi Phạm Phan Địch, 2004)

Xanvier Bichat (1771 -1802), giảng viên dạy giải phẩu học và phẩu thuật tại trường đại học của Pari, đã đưa ra khái niệm chung đầu tiên về mô học trên động vật, và từ đó mô học trở thành một phần của môn giải phẩu học dạy cho sinh viên y khoa Tiếp theo đó, các nhà động vật học đã vận dụng công cụ mới này vào nghiên cứu của họ trên nhiều động vật khác nhau Trước sự tiến bộ của nghiên cứu mô học, các nhà sinh vật học đã nhận ra rằng đây là ngành khoa học không chỉ hữu ích để nghiên cứu cơ quan bình thường mà còn là cơ

sở cho việc nghiên cứu những thay đổi bệnh lý của mô, cơ quan bệnh (trích dẫn bởi Hibiya, 1982)

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ít trong este Vì nhiệt độ nóng chảy của parrafin tương đối thấp và có thể đông nhanh nên quá trình đúc khối mẫu mô được thực hiện một cách dễ dàng (http://en.wikipedia.org/wiki/Paraffin)

Những thành công tiếp theo trong kỹ thuật mô học nữa thế kỷ XIX như việc chế tạo máy cắt lát mỏng (microtome), cho phép người ta nghiên cứu tỉ mỉ cấu trúc vi thể của các tế bào và mô Máy microtome có khả năng cắt mẫu mô thành những lát rất mỏng (vài micromet) để quan sát cấu trúc vi thể các mô, cơ quan dưới kính hiển vi

Đến cuối thế kỷ XIX, sau khi học thuyết tế bào ra đời thì ngành mô học mô tả bắt đầu phát triển mạnh Những thành phần khác nhau của các cơ quan và các

mô đã được nghiên cứu cẩn thận Từ các kết quả đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu cấu tạo vi thể tế bào đã cho phép người ta tách việc nghiên cứu tế bào thành một phần riêng biệt trong mô học gọi là Tế bào học Học thuyết tế bào không chỉ là cơ sở của việc nghiên cứu cấu trúc mô bình thường mà còn là

cơ sở của việc nghiên cứu những thay đổi bệnh lý của mô, cơ quan và đồng thời nó cũng là cơ sở của việc nghiên cứu những hoạt động sinh lý (Phạm Thanh Liêm, 2004)

Rudolph Virchow (1821 -1902), một nhà nghiên cứu bệnh người Đức đã đề xuất ý tưởng: “bệnh có thể được đặc trưng bởi những biến đổi ở cấp độ tế bào” Ý tưởng này của ông đã đóng góp to lớn cho học thuyết tế bào và cho sự phát triển của mô bệnh học Từ đó, mô học không chỉ được ứng dụng trong nghiên cứu cấu trúc mô bình thường mà còn được áp dụng trong nghiên cứu những biến đổi cấu trúc của các cơ quan khi bị nhiễm bệnh

Những tiến bộ về mặt kỹ thuật mô đã thúc đẩy ngành mô học ngày càng phát triển mạnh mẽ và chuyên sâu hơn trên nhiều đối tượng khác nhau Và đến khi thủy sản trở thành ngành mũi nhọn ở nhiều quốc gia thì mô học cũng trở thành một công cụ không thể thiếu để nghiên cứu trên các đối tượng thủy sản

2.2 Nghiên cứu mô học trên cá

Trên cá, nghiên cứu mô học và mô bệnh học đã được tiến hành khá nhiều trên thế giới từ nữa cuối thế kỷ XX như:

Vào năm 1982, Hibiya đã dùng mô học để mô tả cấu trúc bình thường của tất

cả các cơ quan trên một số loài cá, đồng thời ông cũng phân tích những biến đổi của các cơ quan ấy khi cá bị tác nhân gây bệnh xâm nhập Tác giả đã

nghiên cứu trên các loài cá quan trọng như cá chép, cá hồi, cá chình (Anguilla

anguilla, Anguilla japonicus)

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cũng trong năm 1982, Groman đã dùng mô học để nghiên cứu cấu trúc mô bình thường trên cá chẽm Nghiên cứu này được tiến hành có ý nghĩa như một tiền đề cho những nghiên cứu kế tiếp Ông đã quan sát cấu trúc vi thể bình thường của hệ hô hấp, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hoá, hệ sinh dục, hệ bài tiết,…ở nhiều giai đoạn của cá từ cá giống đến cá 3 năm tuổi

Nash ctv (1986) cũng đã dùng phương pháp mô học để xác định những thay

đổi vi thể trên các cơ quan cá khi bị vi khuẩn tấn công (trong nghiên cứu bệnh

vi khuẩn có liên quan đến dịch bệnh ở cá chẽm (Lates calcarifer) và cá bống

mú (Epinephalus tauvina) Nghiên cứu cho thấy nhiều thay đổi như: lớp biểu

bì ở da bị thoái hóa, vẩy bị mất, lớp bì và trung tâm các bó cơ xuất huyết và hoại tử dữ dội, các tế bào bị viêm, sưng, chứa đầy các khuẩn lạc lớn gram âm Trên thận và tỳ tạng xuất hiện những vùng mô tạo máu bị hoại tử mất hết các

tế bào máu trưởng thành, viêm cầu thận và có sự xâm nhập của lympho bào Gan, tuyến tụy xuất hiện dịch viêm, hoại tử rãi rác và các trung tâm hoại tử… (trích dẫn bởi Bùi Châu Trúc Đan, 2003)

Cũng vào năm 1986, Miyazaki ctv mô tả những biến đổi mô bệnh học của cá nheo Mỹ khi bị Ictalurus punctatus tấn công cùng với Ichthyobodo necator,

Ambiphyrya ameiuri, Apiosoma micropteri, và Heteropolaria colisarum Sau

khi đã quan sát biểu hiện ngoài và kiểm tra ký sinh trùng, họ tiến hành làm mẫu mô của da, mang và các cơ quan nội tạng Kết quả cho thấy những sợi

mang bị nhiễm I necator nặng sẽ có sự phát triển quá mức của tế bào biểu mô

mang, thay đổi này làm rối loạn hoạt động hô hấp của mang và ảnh hưởng đến

quá trình trao đổi chất của cơ thể Còn khi A ameiuri bám vào bề mặt cơ thể gây ra sự thói hóa da, A micropteri bám chặt vào mang làm thói hóa biểu mô

hô hấp, H colisarum xâm nhập vào da thì hình thành những vết loét trên bề

mặt cơ thể kể cả các vi

Nối tiếp những nghiên cứu về bệnh cá, Shariff (1989) tiến hành nghiên cứu

mô bệnh học trên mắt cá chép đầu lớn (Anristichthys nobilis) bị nhiễm trùng

mỏ neo (Lernaea piscinae) Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự thay đổi

mô bệnh học trên mắt cá khi trùng mỏ neo xâm nhập và phát triển trong nhiều

tế bào mô của mắt Rukyani (1990) nghiên cứu thay đổi mô bệnh học trên

mang cá chép (Cyprinus carpio) bị nhiễm thích bào tử trùng (Myxobolus) Kết

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trắng khỏe và đã mô tả cấu trúc bình thường của các hệ cơ quan như: hệ cơ, bộ xương, hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ hô hấp, hệ sinh dục… Kết quả của nghiên cứu này sẽ là cơ sở so sánh khi cá bệnh

Nghiên cứu tiếp theo trên các đối tượng cá khỏe là nghiên cứu của Herrera

(1996) trên cá rô phi (Oreochromis niloticus) Ông cũng dùng mô học để

nghiên cứu và đã tiến hành mô tả cấu trúc vi thể các cơ quan như hệ da, hệ cơ,

hệ xương, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ thần kinh, các cơ quan cảm giác, hệ tuần hoàn,… Đối tượng thí nghiệm của ông trong nghiên cứu này là cá rô phi ở giai đoạn từ một tuần tuổi (dài từ 1.0-1.3cm) đến cá trưởng thành (dài từ 15-20cm)

Tiếp theo đó, phương pháp mô học cũng đã được Chinabut và Robert áp dụng khi họ nghiên cứu về bệnh bệnh lở loét (Epizootic Ulcerative Syndrome- EUS) trên cá vào năm 1999 Họ đã mô tả những biến đổi cấu trúc của các cơ quan như da, cơ, thận, ống mật,… trên các loài: cá lóc, cá chép Ấn Độ, cá rô phi, cá hồi,

Ở nước ta nói chung và ở Đại học Cần Thơ nói riêng cũng đã có những nghiên cứu mô học trên các đối tượng thủy sản, đặc biệt là trên cá tra như:

Nguyễn Quốc Thịnh (2002) với đề tài “Nghiên cứu mô bệnh đốm trắng trong

nội tạng cá tra (Pangasius hypophthalmus)” đã tiến hành nghiên cứu mô học

trên cá tra nuôi ao, bè ở các cơ quan như: gan, thận, tỳ tạng, tim, mang, cơ của

cá khỏe và cá bệnh Tác giả đã so sánh và đưa ra kết quả về những biến đổi cấu trúc của mô cá bệnh so với cá khỏe như hiện tượng xung huyết, xuất huyết

và hoại tử

Bùi Châu Trúc Đan (2003) cũng dùng phương pháp mô học nghiên cứu cấu trúc vi thể của cá tra khỏe và cá tra bệnh phù mắt trên các cơ quan: da, cơ, mang, tim, gan, thận, dạ dày, mắt… Dựa trên đặc điểm phân tích được từ cá bệnh, tác giả kết kuận cá tra bị bệnh phù mắt có các tổn thương chủ yếu là xung huyết, xuất huyết Các cơ quan bị tổn thương nặng nhất là gan, tỳ tạng và mắt với những vùng hoại tử và mất cấu trúc

Cũng vào năm 2003, Trần Hồng Ửng đã tiến hành nghiên cứu sự thay đổi mô

tỳ tạng và số lượng tế bào bạch cầu trên cá tra có dấu hiệu trắng gan Tác giả tiến hành quan sát cấu trúc vi thể của tỳ tạng cá tra bình thường sau đó so sánh với tỳ tạng của cá khi chúng có dấu hiệu trắng gan, đồng thời tác giả cũng so sánh thành phần phần trăm các loại tế bào bạch cầu giữa cá bệnh và cá khỏe Kết quả cho thấy tỳ tạng ở cá bệnh có phần tủy trắng chiếm nhiều hơn so với

cá khỏe, khi cá bị bệnh nặng thì xuất hiện nhiều vùng hoại tử, tỳ tạng mất chức năng sản sinh ra các tế bào hồng cầu, bạch cầu…

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Đến năm 2004, Phan Thị Hừng dùng mô học nghiên cứu cá tra bị bệnh vàng

da trên các cơ quan như: gan, thận và tỳ tạng, đồng thời chị cũng nghiên cứu

về sự biến động số lượng tế bào hồng cầu của chúng khi bị bệnh Sau khi so sánh với cấu trúc mô của các cơ quan này ở cá bệnh với cá khỏe, tác giả cho biết cá tra bị bệnh vàng da có cấu trúc mô gan, thận, tỳ tạng không thay đổi nhiều so với cá khỏe Tuy nhiên, do số lượng hồng cầu trong máu cá bệnh giảm 50% so với ở cá khỏe nên lượng hồng cầu trong các mao mạch của gan, thận, tỳ tạng cá bệnh rất ít so với cá khỏe

Trần Thị Ngọc Hân (2006) đã tiến hành “Khảo sát mô học cá tra (Pangasius

hypophthalmus) bị bệnh mủ gan trong điều kiện gây cảm nhiễm” Với đề tài này, tác giả cũng mô tả sự biến đổi cấu trúc mô ở 9 cơ quan của cá tra giống

khi gây cảm nhiễm vi khuẩn Edwarsiella ictaluri, và tiến hành so sánh sự biến

đổi cấu trúc mô của cá ở 2 phương pháp gây cảm nhiễm: ngâm và tiêm Kết quả cho thấy thận và tỳ tạng là 2 cơ quan biến đổi đầu tiên khi cá bị vi khuẩn gây bệnh xâm nhập Trong cùng mật độ vi khuẩn, cấu trúc mô của mẫu thu ở phương pháp tiêm có sự biến đổi nhanh hơn mẫu thu ở phương pháp ngâm…

Phạm Thị Như Sang (2006) nghiên cứu đặc điểm mô học của cá tra nuôi ao và

bè thâm canh trên 3 cơ quan: gan, thận, tỳ tạng Kết quả phân tích cho thấy: cá nuôi ao hay nuôi bè đều có biến đổi vi thể tương đối giống nhau trong cùng biểu hiện bệnh Trên cả 3 cơ quan khảo sát đều có sự xuất hiện của trùng bào

tử sợi Myxozoa ký sinh làm cho các cơ quan này bị hoại tử và mất chức năng

2.4 Vài nét về cá lóc 2.4.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc Theo Phạm Văn Khánh, 2000 thì cá lóc được phân loại như sau:

Bộ cá vược Perciformes

Họ cá Lóc Channidae Giống cá Lóc Channa

Loài cá Lóc Channa striata Bloch, 1793

Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao, hồ, sông… thích nghi được

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cá lóc là loài cá dữ cơ thể có hình dạng tròn dài, thực quản ngắn và vách dày, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn Dạ dày dạng túi, to, hình chữ Y Quan sát trong ống tiêu hóa của cá có chứa cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ Đặc điểm này chứng

tỏ đây là loài cá ăn động vật điển hình (Dương Nhựt Long, 2003)

Cá lóc có thể sinh sản quanh năm nhưng thường tập trung từ tháng 5-7 dương lịch hàng năm và đẻ rộ sau những cơn mưa lớn Sức sinh sản của cá phụ thuộc vào trọng lượng cá cái: cá có trọng lượng từ 1-1,5kg sức sinh sản từ 150000-

20000 trứng/ tổ cá và từ 5000-10000 trứng/ tổ đẻ (Kiểm ctv., 2004)

Cá thường đẻ vào sáng sớm sau mỗi trận mưa rào một hai ngày ở nơi yên tĩnh

và có nhiều động vật thủy sinh Trước lúc đẻ, cá dùng miệng thu rong, cỏ nước làm tổ hình tròn, đường kính khoảng 40-50cm Sau khi đẻ, cá bố mẹ nằm dưới bảo vệ tổ đẻ Ở nhiệt độ 20-35oC sau 3 ngày trứng nở thành cá bột Trong môi trường tự nhiên, sau 3 ngày cá tiêu hết noãn hoàng, cá con cỡ 4-5cm bắt đầu tách khỏi đàn sống độc lập (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001)

2.4.2 Tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL

Cá lóc là loài cá rất quen thuộc với bà con vùng ĐBSCL không chỉ vì đây là loài cá có chất lượng thịt ngon, dễ nuôi mà còn vì nó đã góp phần giúp bà con nông dân thoát nghèo và ngày càng nâng cao cuộc sống vật chất của họ

Có thể nói An Giang và Đồng Tháp là hai tỉnh nuôi cá lóc nhiều nhất ở ĐBSCL với các mô hình nuôi như nuôi cá lóc đăng quần, nuôi mùng trong mùa lũ Các hình thức nuôi này khá hiệu quả, vừa dễ tiến hành, người dân lại không cần có diện tích đất nuôi nên được nuôi phổ biến

Theo kết quả điều tra ở thời điểm tháng 4/2005, sản lượng cá lóc nuôi trong toàn tỉnh An Giang là 6.911 tấn, tập trung nhiều ở các huyện như: Phú Tân 2.593 tấn, Chợ Mới 812 tấn, Châu Đốc 742 tấn, An Phú 687 tấn, Thoại Sơn

616 tấn, Long Xuyên 529 tấn, Châu Phú 494 tấn,… Các hình thức nuôi chủ yếu là nuôi ao và nuôi vèo, cụ thể như sau:

Nuôi ao có diện tích: 64,7 ha, sản lượng là 2.543 tấn, chiếm 36,8 %, Nuôi vèo có diện tích: 9,758 ha, sản lượng là 2.721 tấn chiếm 39,4 % Các hình thức nuôi khác như: Nuôi bè, nuôi chân ruộng 23,8 % (Trần Phùng Hoàng Tuấn, 2005)

Ngoài những mô hình nuôi mùa lũ đã nêu thì cá lóc còn được nhiều hộ dân ở Bến Trenuôi trong vèo lưới với qui mô công nghiệp cũng có hiệu quả

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Vèo nuôi cá thương phẩm với mật độ là 50 con/m2 Vèo được xây dựng hình vuông hoặc hình chữ nhật, đáy vèo đặt cách đáy ao khoảng 0,5m, độ sâu nước trong vèo phải đạt từ 2,5m trở lên Nuôi cá lóc trong vèo có nhiều ưu điểm như nuôi ở mật độ cao để có sản lượng lớn, thức ăn được tập trung, cá không bị cọ sát đáy ao hoặc không chui được xuống bùn nên ít bị xây xát, cá tập trung ăn

và ngủ rồi lại ăn nên cá tăng trọng nhanh và kích cỡ đồng đều Giá trị thương phẩm cao hơn cá chỉ trong nuôi ao Đồng thời, bên ngoài vèo lưới thả thêm các loại cá ăn tạp nhằm cải tạo ao, tận dụng thức ăn thừa, đây cũng là nguồn thu không nhỏ (Trần Quốc, 2007)

Do cá lóc là loài thích nghi tốt với điều kiện môi trường nên chúng được nuôi ngày càng phổ biến trong nhiều mô hình Ngoài các mô hình nuôi cá lóc thoát nghèo trong mùa lũ thì còn có vài mô hình nuôi cá lóc như sau:

Mô hình nuôi cá lóc trong ao

Diện tích nuôi từ 100-1000m2, sâu từ 1,5-2m Mật độ trung bình 20-30con/m2tùy vào kích cỡ giống thả nuôi (cá 7-10cm mật độ từ 10- 20con/m2, 5-7cm nuôi 20-50con/m2) Thức ăn có thể sử dụng để cho cá ăn là thức ăn tươi sống như: cá tạp, ếch nhái, tép, thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự chế biến… Khẩu phần ăn mỗi ngày từ 5-7% trọng lượng cá Sau khi nuôi 6-7 tháng, nếu chăm sóc và quản lý tốt thì cá có thể đạt trọng lượng từ 0,8-1kg/con (Dương Nhựt Long, 2003)

Mô hình nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất

Cỡ giống được chọn từ 20-30g/con, mật độ thả trung bình từ 60- 90con/m3 Thức ăn cho cá cũng tương tự khi nuôi cá trong ao Khẩu phần ăn tùy thuộc vào sức khỏe và giai đoạn phát triển của cá, ví dụ: cỡ cá 20-30g/con mỗi ngày cho ăn 5-8% trọng lượng cơ thể sau đó tăng lên 5% khi cá có trọng lượng

>100g/con Sau 7-8 tháng nuôi cá có thể đạt trọng lượng 1,2-1,5kg/con (Dương Nhựt Long, 2003)

2.4.3 Những nghiên cứu trên cá lóc

Trong nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản nhân tạo, cá lóc đã được bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt Khoa Nông Nghiệp cho sinh sản thành công từ

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Năm 2001, Ngô Thị Hạnh nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học, biện pháp kích

thích sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc (Channa striatus Bloch, 1797) Cá

lóc nuôi vỗ trong thí nghiệm được cho ăn bằng cá tạp, cá biển xắt nhỏ Kết quả thu được là sau khi nuôi vỗ 33 ngày cá có thể tái thành thục và tiến hành kích thích sinh sản Các chỉ tiêu sinh học được khảo sát trong quá trình ương cá lóc giống bao gồm: ngưỡng oxy, ngưỡng nhiệt độ, ngưỡng độ mặn, ngưỡng pH,… Tiếp theo những nghiên cứu trong việc ương nuôi cá lóc giống, vào năm 2002, Đặng Thụy Mai Thy tiến hành thử nghiệm ương cá lóc đen và cá lóc môi trề bằng thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau Hai loại thức ăn được dùng để ương cá trong thí nghiệm là thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm là 25% và 30% Sau 30 ngày ương, ta thấy hàm lượng đạm trong thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của cá lóc, thể hiện qua kết quả: cá ăn thức ăn

có hàm lượng đạm 30% tăng trưởng nhanh hơn cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm 25%

Những nghiên cứu nói trên có vai trò không nhỏ trong việc duy trì và phát triển nguồn cá lóc giống nói riêng và nghề nuôi thủy sản nói chung Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về cá lóc được biết đến đều là những nghiên cứu trên lĩnh vực sản xuất giống Vì thế trước tình hình nuôi cá lóc ngày càng phổ biến ở các tỉnh ĐBSCL hiện nay, việc nghiên cứu cấu trúc vi thể của các cơ quan bình thường trên cá lóc khỏe sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu những biến đổi bệnh lý trong các cơ quan khi cá bệnh cũng như tìm ra các biện pháp phòng trị bệnh cá càng hoàn thiện hơn

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian

Từ tháng 2/2008 đến tháng 5/2008

3.2 Địa điểm

Thu mẫu: mẫu được thu tại Cần Thơ Phân tích mẫu: mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Thuỷ Sản trường Đại học Cần Thơ

3.3 Phương pháp nghiên cứu 3.3.1 Vật liệu nghiên cứu Dụng cụ

Dụng cụ giải phẩu, khay nhựa, thớt, dao, khuôn đúc, casset có nắp, casset không nắp, khay nhuộm, bút chì, sổ ghi chép, và các dụng cụ cần thiết để làm tiêu bản mẫu mô

Hóa chất

Các hóa chất cố định mẫu, hóa chất xử lý mẫu, nhuộm mẫu như: formol, acid acetic, Na2SO4, NaHSO4, cồn tuyệt đối, xylen, paraffin,

3.3.2 Phương pháp Phương pháp thu và lấy mẫu

Thu mẫu: cá lóc được mua từ chợ Tân An, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ Khi mua, cá được chọn có trọng lượng từ 100g-200g, hoạt động bơi lội nhanh nhẹn

và linh hoạt Cơ thể cá cân đối, da sáng bóng và trơn láng, màu sắc bình thường, các vi không bị tưa rách, trên thân không có các dấu hiệu khác thường như: vết loét, xuất huyết hay mất màu Mang cá đỏ tươi, đồng nhất không bị rách hay tưa Mắt cá sáng và linh hoạt… Quan sát bên trong xoang cơ thể cá sau khi giải phẩu không thấy có chất dịch hay dấu hiệu xuất huyết Các cơ quan nội tạng có màu sắc bình thường và đồng nhất trên từng cơ quan, không

có đốm trắng hay dấu hiệu bất thường khác…

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cách lấy mẫu Da-cơ: dùng dao bén cắt một phần gồm da, cơ và vẩy dài khoảng 2cm, dày khoảng 1cm

Mang: dùng kéo cắt hai đầu cung mang để lấy được nguyên phần mang

Tim, gan, thận, tỳ tạng: lấy nguyên cơ quan

Ống tiêu hoá: dùng dao bén cắt nguyên phần dạ dày và phần ruột cho vào dung dịch cố định

Cố định mẫu

Việc cố định mẫu phải được tiến hành ngay sau khi các cơ quan được tách khỏi cơ thể Dung dịch dùng cố định mẫu là dung dịch formol trung tính 10% (đối với mẫu da-cơ) và dung dịch Bouin’s (đối với các cơ quan còn lại) Thời gian cố định mẫu cho cả hai dung dịch trên là từ 18h-24h Thể tích của dung dịch cố định thường gấp nhiều lần kích thước mẫu mô

Rửa mẫu

Mẫu được rửa dưới vòi nước trong khoảng 2 giờ sau khi cố định bằng formol trung tính 10% Đối với mẫu được cố định bằng Bouin’s, mẫu được rửa đến khi dung dịch nhạt màu Sau đó, tiếp tục chuyển mẫu sang cồn 60% trong

Hình 3 Các cơ quan của cá lóc khỏe

a Dạ dày; b Ruột; c Gan; d Mang;

e Tim; f Tỳ tạng; g Thận

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

khoảng 12h-24h để loại nước dần và cuối cùng cho mẫu qua lọ chứa cồn 70%

để loại nước và bảo quản trong thời gian chờ xử lý

Phương pháp làm tiêu bản mô Cắt tỉa định hướng

Mẫu mô đã cố định cần được cắt tỉa trước khi xử lý mẫu Kích cỡ các mẫu sau khi cắt tỉa từ 0,5-1mm, dày từ 0,3-0,5 mm và phải có tính đại diện cho mẫu(Ví dụ: da-cơ được cắt thành một mẫu cắt dọc và một mẫu cắt ngang, dạ dày thì lấy một đoạn ở giữa và một đoạn ở gần đáy dạ dày, mẫu thận được cắt gồm một đoạn thận trước, đoạn cắt dọc và cắt ngang của thận sau,…) Mẫu mô đã cắt tỉa được cho vào các casset để chuẩn bị xử lý mẫu

Xử lý mẫu

Sau khi cắt tỉa định hướng, mẫu được xử lý trong máy Sproceeding tissue (MICROM, STP 120-2) theo các bước sau:

Khử nước

Mục đích của khử nước là loại nước hoàn toàn trong mô mà không làm mô và

tế bào bị teo hoặc vị trí của các thành phần cấu tạo trong mô bị thay đổi Vì thế, mẫu sẽ được chuyển qua các lọ cồn có nồng độ tăng dần từ 80%, 90%, 95% và 100% để quá trình khử nước không xảy ra quá nhanh

Làm trong mẫu

Vì cồn không thể hòa lẫn với paraffin nên sau khi khử nước thì cồn cũng được loại ra khỏi mẫu Nếu không loại bỏ hết cồn, phần mô đó sẽ bị co rút lại, khối mẫu đúc trong paraffin sẽ không đồng nhất, tạo nên những lổ hỗng trên lát cắt

Do đó, mẫu mô sẽ được ngấm một dung môi trung gian (xylen) có thể hòa tan được cồn và paraffin Để đạt được mục đích này, mẫu được ngâm qua 3 lọ xylen, mỗi lọ được ngâm khoảng 2 giờ

Ngấm paraffin

Paraffin là chất nền để bảo đảm cho tế bào giữ nguyên được hình dạng khi cắt

Vì thế sau khi làm trong, mẫu mô sẽ được ngấm paraffin nóng chảy (57-600C) bằng cách chuyển mẫu qua nhiều lọ paraffin, mỗi lọ ngâm khoảng 2 giờ

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Qui trình xử lý mô được cài đặt trong máy xử lý mô tự động theo các bước sau (Coolidge & Howard, 1997, có điều chỉnh):

Cho các casset vào sọt chứa mẫu đặt lên vị trí lọ 1 của máy xử lý mô tự động

và tiến hành qui trình xử lý

Đúc khối

Sau khi hoàn thành quá trình xử lý, mẫu được lấy ra khỏi máy xử lý và tiến hành đúc khối bằng máy MICROM EC350-1 Mẫu mô được định hướng đặt vào giữa khuôn inox, cho một ít paraffin nóng chảy ở 600C vào Để đảm bảo mẫu được giữ đúng vị trí, cho khuôn đúc qua máy làm lạnh nhanh (MICROM, EC350-2) để cố định vị trí của mẫu trong khuôn Tiếp tục cho paraffin đầy khuôn và đặt casset có ký hiệu mẫu lên trên Sau đó đặt khuôn mẫu qua ngăn làm lạnh nhanh để paraffin rắn lại và tách khối paraffin ra khỏi khuôn

Cắt mẫu

Sử dụng máy microtome (Yamato PR-50) để cắt mẫu, lát cắt có độ dày là

2µm Mẫu được cắt thành băng dài và cho vào chậu nước nóng 45-500C để paraffin căng ra, dùng kim mũi giáo nhẹ nhàng tách riêng từng đoạn mẫu đạt yêu cầu

Dán mẫu lên lame

Dùng lame sạch cho vào chậu nước gần lát cắt đạt yêu cầu và nâng từ từ lên, dùng kim mũi giáo chỉnh mẫu ngay ngắn trên lame Mẫu dán xong sẽ được sấy khô bằng bàn sấy ở nhiệt độ 45-600C để lát cắt dính vào lame

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nhuộm mẫu

Mẫu được nhuộm bằng Haematoxyline & Eosin (H&E) theo qui trình của Harris (1900) (có điều chỉnh) như sau:

Dán lamella vào lame

Sử dụng keo Enterlant để dán tiêu bản Nhỏ một giọt keo lên lame, dán lamella lên trên ngay vùng có miếng mô, thao tác phải cẩn thận tránh để bọt khí vào trong tiêu bản

Qua n sá t tiêu bả n và đọ c kết quả

Sử dụng kính hiển vi quang học (Carl Zeiss) để quan sát Đầu tiên, mẫu được quan sát ở độ phóng đại 5X để nhìn tổng quan tiêu bản Sau đó chuyển qua độ phóng đại lớn hơn và chụp hình các tiêu bản đặc trưng bằng máy chụp ảnh Canon PC-1145

1 phút

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Sau khi tiến hành làm tiêu bản mô học, kết quả phân tích cấu trúc vi thể của các cơ quan trên cá lóc như sau:

4 1 Da

Da cá là một hệ thống bao phủ toàn bộ bề mặt cơ thể cá Mặt cắt ngang của phần da ở mặt bên cơ thể cá lóc cho thấy da của nó được tạo thành từ 3 lớp: lớp biểu bì, lớp bì và hạ bì (Hình 4.1)

Lớp bì là lớp ngoài cùng của da cá lóc, được tạo thành từ các tế bào biểu mô hình vẩy xen kẽ với tế bào tiết chất nhày Các tế bào tiết chất nhày có mặt ở khắp bề mặt của da, thường có dạng cốc và có dụng tiết ra chất nhày phủ lên

lớp biểu mô (Hình 4.2) Theo Harris ctv (1973), kết quả phân tích thành phần

sinh hóa của nhớt cá cho thấy chúng có cấu tạo từ protein và carbohydrate

(trích dẫn bởi Chinabut ctv., 1991) Tác dụng của nhớt cá giống như là rào cản

đầu tiên giữa cá với môi trường, bảo vệ biểu bì, làm giảm tính nguy hiểm của các vết thương, ngăn chặn nước xuyên qua bằng sự thẩm thấu và giảm bớt ma sát của cá khi chúng di chuyển (theo Harder, 1975 trích dẫn bởi Groman, 1982) Ngoài ra, khi nghiên cứu trên da của một số loài cá xương, Hibiya (1982) đã quan sát được các khoảng trống lympho nằm ở giữa gốc của các tế bào biểu mô, những khoảng trống này thường có dạng tròn hoặc oval chứa từ

1 đến 2 lympho bào Tuy nhiên cấu trúc của lớp biểu bì quan sát được trên da

cá lóc không thể hiện rõ sự có mặt của các tế bào này

Lớp kế tiếp của da và nằm dưới biểu bì là lớp bì Ở cá lóc, lớp bì cũng được chia ra làm hai lớp phụ đó là lớp đặc và lớp xốp (Hình 4.3) Lớp đặc nằm sâu bên trong và rộng hơn lớp xốp, có chứa các sợi collagen thô sắp xếp song song

với bề mặt da Theo Chinabut ctv (1991), trong lớp đặc còn chứa các nhánh

thần kinh và nhiều mao mạch máu, tuy nhiên đặc điểm này không thể hiện rõ trong các mẫu da cá lóc quan sát được Lớp xốp là lớp tương đối mỏng, gồm một mạng lưới thưa của các sợi collagen và một lớp tế bào sắc tố Khi quan sát mẫu da cá lóc trong thí nghiệm này, các sợi dây thần kinh, các mao mạch máu cũng như khoang chứa vẩy nằm ở lớp xốp không được thể hiện rõ ràng Điều này có thể là do hạn chế trong các thao tác cắt tỉa định hướng hoặc do quá trình xử lý mẫu

Bên dưới lớp bì là phần hạ bì Nó là phần mỏng nhất của da cá, nằm giữa lớp đặc và các bó cơ, gồm một mạng lưới của mô liên kết thưa và có chứa nhiều tế bào tế bào sắc tố Ngoài ra, khi tiến hành nghiên cứu trên da cá trê trắng,

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chinabut ctv (1991) đã mô tả sự có mặt của các tế bào lipid trong lớp hạ bì

của da cá, nhưng các mẫu phân tích trong thí nghiệm này chỉ thấy được phần

mô liên kết và các tế bào sắc tố, không thấy rõ sự hiện diện của các tế bào lipid (Hình 4.4)

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

a

Hình 4.4 Cấu trúc hạ bì của da cá lóc (H&E, 100X)

a Mô liên kết; b Lớp đặc; c Bó cơ

Hình 4.3 Cấu trúc lớp bì của da cá lóc (H&E, 40X)

a Lớp đặc; b Lớp xốp; c Lớp tế bào sắc tố; d Sợi collagen;

e Tế bào sắc tố của lớp hạ bì

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chinabut ctv (1991) Theo Hibiya (1982), các sợi cơ vân có chứa hàng trăm

sợi protein cơ gồm hai loại protein là actin và myosin Sự có mặt của hai loại protein này là nguyên nhân của việc xuất hiện vạch sáng và vạch tối trên sợi

cơ vân Những vạch sáng (gọi là vạch A- anisotropic) chứa các sợi actin, còn những vạch tối (vạch I- isotropic) chứa các sợi myosin

Cơ trơn chịu sự điều khiển của thần kinh giao cảm nên hoạt động của cơ trơn

có tính nhịp nhàng, được phân bố chủ yếu ở thành ống tiêu hóa (dạ dày, ruột), các mạch máu,… Quan sát lắt cắt ngang của thành dạ dày cá lóc cho thấy cơ trơn cũng được cấu tạo từ các sợi cơ, mỗi sợi cơ chỉ chứa một nhân (Hình 4.7) Các sợi cơ trơn ở thành ruột của cá cũng có cấu trúc tương tự như các sợi cơ trơn đã được tìm thấy ở thành dạ dày (Hình 4.8)

Cơ tim là loại cơ đặc biệt chỉ có ở tim và sẽ được mô tả chi tiết hơn khi phân tích cấu trúc tim cá ở phần 4.7

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hình 4.6 Lát cắt dọc của cơ vân cá lóc (H&E, 100X)

a Các sợi cơ; b Nhân tế bào; c Vạch sáng; d Vạch tối

Hình 4.5 Lát cắt ngang của cơ vân cá lóc (H&E, 100X)

a Bó cơ; b Mô liên kết; c Nhân tế bào

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

a

b

a

b

Hình 4.7 Lắt cắt ngang phần cơ dạ dày cá lóc (H&E,100X)

a Các sợi cơ trơn; b Nhân tế bào

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

4.3 Dạ dày

Dạ dày là đoạn phình to của ống tiêu hóa, nối thực quản với ruột Là cơ quan

có nhiệm vụ chứa và tiêu hóa thức ăn vì thế dạ dày đóng vai trò tiêu hóa cả về mặt cơ học lẫn hóa học Quan sát cơ quan nội tạng của cá lóc sau khi giải phẩu cho thấy dạ dày có dạng túi, tương đối to và vách dày, được nối tiếp sau thực quản và nối với phần ruột (Hình 3) Đây là một đặc điểm phù hợp với dạ dày của loài cá ăn động vật như cá lóc Lát cắt ngang của dạ dày cá lóc thể hiện thành dạ dày của cá gồm 4 lớp: niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ trơn và màng ngoài (Hình 4.9)

Quan sát thành dạ dày từ trong ra ngoài, phần niêm mạc được phủ bởi lớp biểu

mô trụ đơn, đỉnh của các tế bào biểu mô có hình quạt, hướng vào trong xoang

và nhân thì nằm ở gốc tế bào (Hình 4.10) Ở lớp này có chứa các tế bào tiết ra chất giống như chất nhày phủ lên bề mặt biểu mô bảo vệ biểu mô chống tác dụng của HCl thường xuyên có mặt trong dịch dạ dày Khi dạ dày chứa đầy và căng thì mặt niêm mạc nhẵn còn khi dạ dày trống rỗng, nó co lại, niêm mạc có nhiều nếp gấp Các nếp gấp này có thành phần cấu tạo là mô liên kết xốp và được cung cấp nhiều mao mạch máu (Hình 4.9)

Tiếp theo niêm mạc là lớp dưới niêm mạc Lớp này được cấu tạo từ các sợi mô liên kết thưa và có một lượng lớn các mạch máu (Hình 4.12) Theo Groman (1982) thì ở lớp niêm mạc có chứa nhiều tế bào lympho, bạch cầu có hạt ưa eosin thô, tế bào mỡ, các ống bạch huyết… và trong cùng có một lớp đặc với các sợi mô tạo keo Tuy nhiên, cấu trúc này chưa thể hiện được rõ ở các mẫu

dạ dày đã quan sát được trên cá lóc

Lớp dày nhất của thành dạ dày cá lóc là lớp cơ, được cấu tạo từ hai lớp cơ trơn gồm lớp cơ hướng dọc và lớp cơ hướng vòng Các sợi cơ dọc có từ 1-5 nhân nằm ở trung tâm, tại phần rộng nhất của sợi cơ (Hibiya, 1982) Mẫu quan sát được của thành dạ dày cá lóc cho thấy lớp cơ vòng nằm ở bên trong thì dày và xấp xỉ gấp đôi độ dày của lớp cơ dọc bên ngoài (Hình 4.11)

Phần tiếp theo lớp cơ và bao bên ngoài thành dạ dày là màng ngoài dạ dày, nó được tạo thành từ lớp biểu mô phẳng đơn, bên dưới lớp biểu mô là lớp mô liên kết thưa và vài mạch máu

Dạ dày cá có thể được chia ra làm hai phần là phần dạ dày tuyến và phần dạ dày cơ Tuyến dạ dày là một thành phần quan trọng của dạ dày, thường có dạng ống thẳng, giữ vai trò quan trọng trong việc tiết ra dịch vị hỗ trợ dạ dày tiêu hóa thức ăn và nó thường nằm ở phần dạ dày tuyến của cá (Hình 4.13) Ở

cá lóc, các tế bào tuyến dạ dày quan sát được có hình hơi tròn và nằm xung quanh thành ống (Hình 4.14)

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hình 4.9 Cấu trúc thành dạ dày cá lóc (H&E, 10X)

a Lớp niêm mạc; b Lớp dưới niêm mạc; c Lớp cơ trơn;

d Màng ngoài; e Nếp gấp

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

a

c

b

d

Hình 4.11 Lớp cơ trơn của thành dạ dày cá lóc (H&E, 20X)

a Lớp cơ vòng; b Lớp cơ dọc; c Lớp dưới niêm mạc;

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

a

b

a

b

Hình 4.13 Tuyến dạ dày cá lóc (H&E, 40X)

a Lớp biểu mô; b Tuyến dạ dày

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

4.4 Ruột

Ruột cá là phần dài nhất của ống tiêu hóa, được nối từ dạ dày đến hậu môn của

cá (Hình 3) Chức năng chủ yếu của ruột là tiêu hóa thức ăn và hấp thụ dinh dưỡng để nuôi cơ thể

Cũng như các phần khác của ống tiêu hóa, thành của ruột cá lóc gồm có lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ và màng bao bên ngoài ruột Niêm mạc ruột được phủ lớp biểu mô trụ đơn giống như ở niêm mạc dạ dày Những nếp gấp của niêm mạc ruột thì hẹp và cao hơn so với nếp gấp ở dạ dày, gồm mô liên kết thưa và có nhiều mạch máu (Hình 4.15, 4.16)

Groman (1982), Hibiya (1982), Chinabut ctv (1991) và Herrera (1996) dựa

vào cấu trúc của niêm mạc ruột để chia ruột ra thành các đoạn: ruột trước, ruột giữa và ruột sau Tuy nhiên do hạn chế trong quá trình làm mẫu mô, các lát cắt của ruột quan sát được đa số là đoạn ruột giữa nên mẫu không minh họa được

cấu trúc của các đoạn ruột trước và ruột sau Theo Chinabut ctv (1991), ruột

trước có các nếp gấp hẹp và phân nhánh, chứa các tế bào tiết chất nhày xếp rãi rác giữa các tế bào biểu mô trụ đơn Còn ở đoạn ruột sau thì nếp gấp của niêm mạc ngắn và ít phân nhánh hơn ở ruột trước, các tế bào tiết chất nhày thì xuất hiện nhiều hơn Riêng ở đoạn ruột giữa, độ dày của niêm mạc tăng, các nếp gấp cao hơn và cũng có sự rẽ nhánh, trên bề mặt của nó có một lượng lớn các

tế bào tiết chất nhày (Hình 4.15, 4.17) Với cấu trúc của các nếp gấp này, niêm mạc ruột có thể gia tăng bề mặt tiếp xúc của thức ăn với enzyme cũng như giữa những tế bào biểu mô hút với các sản phẩm tiêu hóa, giúp cho quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng ở ruột xảy ra tốt hơn (Herrera, 1996)

Chinabut ctv (1991) nghiên cứu trên cá trê trắng cho biết lớp dưới niêm mạc

của ruột cũng giống như lớp dưới niêm mạc của dạ dày, được cấu tạo từ mô liên kết khoanh thưa, bên trong mô liên kết này lại có chứa các lympho bào nhỏ và các tế bào hạt ưa eosin Ở cá lóc cũng quan sát được lớp dưới niêm mạc ruột có cấu trúc tương tự như lớp dưới niêm mạc của dạ dày nhưng không thấy rõ các lympho bào và tế bào hạt ưa eosin như ông đã mô tả (Hình 4.16)

Lớp cơ của ruột cá lóc cũng được tạo thành từ hai lớp cơ trơn gồm một lớp cơ hướng dọc và một lớp cơ hướng vòng (Hình 4.18) Hibiya (1982) quan sát cấu trúc thành ruột ở một số loài cá xương cho biết lớp cơ ở ruột sau thì dày hơn ở ruột trước, có các mạch máu nhỏ giữa hai lớp cơ trơn, đồng thời giữa lớp niêm mạc và lớp cơ cũng có các mạch máu lớn hơn

Cũng giống như ở dạ dày, phần bao bên ngoài ruột cá là lớp màng ngoài, được phủ bởi một lớp mỏng của mô liên kết thưa và các tế bào biểu mô, đồng thời cũng có vài mạch máu ở giữa lớp cơ và màng ngoài của ruột

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hình 4.15 Lát cắt ngang ruột giữa của cá lóc (H&E, 5X)

a Thành ruột; b Niêm mạc ruột; c Nhánh của nếp gấp

Ngày đăng: 22/02/2014, 12:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bucke ctv., 1992. Quantitative assessment of melanomacrophage centres (MMCs) in dab Limanda limanda along a pollution transect in the German Bight.http://www.fisheries.go.th/aahri/Healthnew/AAHRI/AAHRI/Topics/Newletter/art29.htm (cập nhật ngày 26/05/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ctv"., 1992. Quantitative assessment of melanomacrophage centres (MMCs) in dab "Limanda limanda
2. Bùi Châu Trúc Đan, 2003. Bước đầu nghiên cứu đăc điểm mô bệnh học bệnh phù mắt trên cá tra (Pangasius hypophthalmus). Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius hypophthalmus
5. Đặng Thụy Mai Thy, 2002. “Bước đầu thử nghiệm ương cá lóc đen và cá lóc môi trề bằng thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau”. Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu thử nghiệm ương cá lóc đen và cá lóc môi trề bằng thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau
7. Groman D., 1982. Histology of the Striped Bass. Department of Pathobiology University of Connectcut Storrs, Connecticut 06268.Bethesda, Maryland, 115pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histology of the Striped Bass
Tác giả: Groman D
Nhà XB: Department of Pathobiology University of Connecticut
Năm: 1982
8. Herrera A.A. , 1996. Histology of Tilapia (Oreochromis niloticus). Bureau of Fisheries & Agriculture, University of the Philippines, Quezon City, Philippines 1101, 86pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oreochromis niloticus
12. Ngô Thị Hạnh, 2001. Tiếp tục nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học, biện pháp kích thích sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc (Channa striatus Bloch, 1797). Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Channa striatus
14. Nguyễn Quốc Thịnh, 2002. Bước đầu nghiên cứu mô bệnh học bệnh đốm trắng trong nội tạng cá tra (Pangasius hypophthalmus). Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius hypophthalmus
18. Phạm Thị Như Sang, 2006. Khảo sát mô học trên một số cơ quan của cá tra (Pangasius hypophthalmus) nuôi ao và bè thâm canh. Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius hypophthalmus
19. Phạm Văn Khánh, 2000. Kỹ thuật nuôi một số loài cá xuất khẩu (Lóc, Lóc bông, Bống tượng, Tra, Basa). Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp. Tp Hồ Chí Minh, 53 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi một số loài cá xuất khẩu (Lóc, Lóc bông, Bống tượng, Tra, Basa)
Tác giả: Phạm Văn Khánh
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp
Năm: 2000
20. Phan Phương Loan, 2000. Bước đầu thử nghiệm ương nuôi cá lóc đen (Ophiocephalus striatus). Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Ophiocephalus striatus)
21. Phan Thị Hừng, 2004. “Nghiên cứu cấu trúc mô và sự biến động số lượng tế bào hồng cầu trên cá tra (Pangasius hypophthalmus) bị bệnh vàng da”.Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc mô và sự biến động số lượng tế bào hồng cầu trên cá tra (Pangasius hypophthalmus) bị bệnh vàng da
Tác giả: Phan Thị Hừng
Nhà XB: Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm: 2004
22. Trần Hồng Ửng, 2003. “Bước đầu xác định sự thay đổi số lượng tế bào bạch cầu và mô tỳ tạng cá tra (Pangasius hypophthalmus) bệnh trắng gan”.Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu xác định sự thay đổi số lượng tế bào bạch cầu và mô tỳ tạng cá tra ("Pangasius hypophthalmus") bệnh trắng gan
23. Trần Phùng Hoàng Tuấn, 2005. Một số mô hình nuôi thủy sản có hiệu quả kinh tế cao trong mùa nước nổihttp://sonongnghiep.angiang.gov.vn/wp_ctg_ud/mohinh%20hq/mohinhthuysan.htm. Cập nhật ngày 29/01/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số mô hình nuôi thủy sản có hiệu quả kinh tế cao trong mùa nước nổi
Tác giả: Trần Phùng Hoàng Tuấn
Năm: 2005
25. Trần Thị Ngọc Hân, 2006. Khảo sát mô học cá tra (Pangasius hypophthalmus) bị bệnh mủ gan trong điều kiện gây cảm nhiễm. Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius hypophthalmus
24. Trần Quốc, 2007. Nuôi cá lóc công nghiệp trong vèo lưới. http:// www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=419&Itemid=42 . Cập nhật ngày 29/01/2008 Link
3. Chinabut S. and R.J. Robert, 1999. Pathology and Histopathology of Epizootic Ulcerative Syndrome (EUS)”. Aquatic Animal Health Research Insitute, Department of Fisheries, Kasetsart University Campus, Jatujak, Bangkok 10900, Thailand. 116pp Khác
4. Chinabut S., C. Limsuwan and P. Kitsawat, 1991. Histology of the walking catfish, Clarias batrachus. International Development Research Center, Canada, 96pp Khác
6. Dương Nhựt Long, 2003. Giáo trình Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt. Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ Khác
9. Hibyia T., 1982. An atlas of Fish Histology (Normal and Pathological Features). College of Agriculture and Veterinary Medicine, Nihon Univ.Tokyo, Japan, 147pp Khác
11. Miyazaki T., W.A. Rogers, and J.A. Plumb, 1986. Histopathological Studies on Parasitic Protozoan Diseases of the Channel Catfish in the United States. Faculty of Fisheries, Mie University. Journal of fish diseases, No. 13: 1-9, November 15, 1986 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.4 Cấu trúc hạ bì của da cá lóc (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.4 Cấu trúc hạ bì của da cá lóc (H&E, 100X) (Trang 20)
Hình 4.9 Cấu trúc thành dạ dày cá lóc (H&E, 10X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.9 Cấu trúc thành dạ dày cá lóc (H&E, 10X) (Trang 25)
Hình 4.11 Lớp cơ trơn của thành dạ dày cá lóc (H&E, 20X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.11 Lớp cơ trơn của thành dạ dày cá lóc (H&E, 20X) (Trang 26)
Hình 4.14 Các tế bào tuyến dạ dày cá lóc (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.14 Các tế bào tuyến dạ dày cá lóc (H&E, 100X) (Trang 27)
Hình 4.16 Cấu trúc của thành ruột cá lóc (H&E, 20X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.16 Cấu trúc của thành ruột cá lóc (H&E, 20X) (Trang 29)
Hình 4.18 Cấu trúc lớp cơ của thành ruột cá lóc (H&E, 20X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.18 Cấu trúc lớp cơ của thành ruột cá lóc (H&E, 20X) (Trang 30)
Hình 4.21 Cấu trúc tuyến gan tụy (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.21 Cấu trúc tuyến gan tụy (H&E, 100X) (Trang 33)
Hình 4.23 Trung tâm đại thực bào sắc tố trên gan cá (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.23 Trung tâm đại thực bào sắc tố trên gan cá (H&E, 100X) (Trang 34)
Hình 4.26 Động mạch vào mang (H&E, 40X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.26 Động mạch vào mang (H&E, 40X) (Trang 36)
Hình 4.28 Cấu trúc của sợi mang thứ cấp (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.28 Cấu trúc của sợi mang thứ cấp (H&E, 100X) (Trang 37)
Hình 4.32 Phần cơ trơn ở bầu động mạch (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.32 Phần cơ trơn ở bầu động mạch (H&E, 100X) (Trang 41)
Hình 4.35 Quản cầu thận cá lóc (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.35 Quản cầu thận cá lóc (H&E, 100X) (Trang 44)
Hình 4.36 Đoạn thận cổ (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.36 Đoạn thận cổ (H&E, 100X) (Trang 45)
Hình 4.39 Ống góp chung (H&E, 100X) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.39 Ống góp chung (H&E, 100X) (Trang 46)
Hình 4.41 Lớp biểu mô quanh tỳ tạng cá lóc (H&E, 100X ) - cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc
Hình 4.41 Lớp biểu mô quanh tỳ tạng cá lóc (H&E, 100X ) (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w