SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THCS VÀ THPT THỐNG NHẤT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KỸ THUẬT SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THCS&THPT THỐNG NHẤT NHẰM PHÁT TRIỂN P
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THCS VÀ THPT THỐNG NHẤT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KỸ THUẬT SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THCS&THPT THỐNG NHẤT
NHẰM PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC HỌC
SINH
Người thực hiện: Mai Thị Hoa Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Địa lí
THANH HOÁ NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU
4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp 3
3 Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 3
3.2 Một số lỗi thường gặp khi hướng dẫn học sinh sử dụng bản
đồ trong tiết học
14
3.3 Một số yêu cầu để sử dụng có hiệu quả bản đồ trong dạy học
Địa lí
15
4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
DANH MỤC SKKN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN 19
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO)
đã đưa ra bốn nguyên lý của giáo dục trong thời đại mới là: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình Muốn vậy, cần phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương pháp dạy học
1.2 Nghị quyết số 29- NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 8, khóa XI “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định mục tiêu:
“Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn” Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT, trong đó có bộ môn Địa lí đang có những bất cập nhất định Một trong những nguyên nhân chính là do thiếu nhiều thiết bị dạy học, thiếu các phương pháp sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học và chưa thực
sự đổi mới phương pháp dạy học
1.3 Tại Hội thảo “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội ở trường THPT tỉnh Thanh Hóa”, các nhà khoa học, nhà giáo dục
đã quan niệm: giáo dục Địa lí là phải giáo dục về môi trường địa lí Giáo dục
về môi trường địa lí là phải cung cấp đầy đủ, chính xác và có hệ thống những kiến thức về môi trường địa lí có trong chương trình cho người học Giáo dục môi trường địa lí là phải thực hiện việc giáo dục địa lí trong môi trường địa lí,
phải cho người học tiếp xúc trực tiếp với môi trường địa lí để tiếp cận những kiến thức cần thiết Môi trường địa lí ở đây được hiểu là bao gồm môi trường địa lí thực sự và môi trường địa lí được tái tạo lại (thông qua các phương tiện
kỹ thuật) Giáo dục vì môi trường địa lí là phải hình thành cho người học kiểu
tư duy địa lí và những hành vi địa lí “Đó là tư duy lãnh thổ, xét đoán trên bản đồ; là tư duy liên hệ, tổng hợp không giới hạn ở một yếu tố hay một ngành nào cả” (N N Baranxki); tư duy sinh thái; tư duy kinh tế; hành vi kinh tế; hành vi
xã hội; hành vi bảo vệ môi trường địa lí… Hệ thống các thiết bị dạy học nhất
là bản đồ chính là một bộ phận cấu thành tất yếu để giáo dục về môi trường địa
lí, giáo dục con người trong môi trường địa lí, giáo dục vì môi trường địa lí Việc sử dụng các thiết bị trong dạy học địa lí không chỉ là một yêu cầu bắt buộc mà còn là một định hướng quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Đặc biệt điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi sách giáo khoa mới các lớp từ THCS đến THPT có sự gia tăng mạnh mẽ các thiết bị (kênh hình)
Từ những lí do trên, đề tài Một số kỹ thuật sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí
ở trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thống Nhất nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh được áp dụng đã tạo ra bước đột phá trong việc đổi mới
phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở trường THCS và THPT Thống
Trang 4Nhất Đề tài được đúc rút thành sáng kiến kinh nghiệm với mong muốn mở rộng phạm vi ứng dụng trong thực tiễn dạy học ở nhà trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
2 Mục đích nghiên cứu
- Giúp học sinh nâng cao kĩ năng sử dụng bản đồ
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Địa lý theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu
- Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
- Một số kĩ thuật sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lý ở trường THCS&THPT Thống Nhất
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài Một số kỹ thuật sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí ở trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thống Nhất nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu lí
thuyết, phương pháp quan sát thực tiễn, phương pháp thống kê, phương phân tích
- tổng hợp, phương pháp so sánh,…
Trang 5II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của đề tài
Bản đồ sử dụng hệ thống kí hiệu, ước hiệu nhằm cụ thể hóa các mối liên hệ không gian - lãnh thổ
Bản đồ giáo khoa vừa có tính minh họa, vừa bổ sung hoàn chỉnh kiến thức địa lí, là công cụ để thực hiện các thao tác của quá trình dạy học
Ngôn ngữ sử dụng trong bản đồ có tính khái quát cao “Nhờ có các thao tác
tư duy logic mà đối tượng địa lí ở “dạng tĩnh” chuyển sang “dạng động”, qua đó
mà học sinh lĩnh hội được các khái niệm địa lí
Để học, để hiểu được bản đồ học sinh phải làm việc tích cực, tập trung nhiều giác quan, kết nối nhiều khái niệm Rõ ràng, sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí “Tiệm cận với mức nhận thức”- mức lấy học sinh làm trung tâm theo
sơ đồ của Jean Vial”
Hệ thống các bản đồ trong sách giáo khoa địa lí rất phong phú và được in màu Vì thế làm tăng dung lượng kiến thức chứa đựng trong mỗi bài học, làm cho học sinh dễ quan sát, tăng độ hấp dẫn đối với học sinh và tăng chất lượng của phương tiện dạy học
Bản đồ giáo khoa có đủ điều kiện để giáo viên thực hiện các phương pháp dạy học tiên tiến Vấn đề đặt ra là phải sử dụng bản đồ như thế nào để đạt tới sự chủ động, tích cực của học sinh? Để đạt được điều đó, người giáo viên cần phải
có kỹ thuật sử dụng bản đồ trong giờ dạy địa lí
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp
Hiện nay, hệ thống bản đồ treo tường của nhà trường, nguồn bản đồ trong sách giáo khoa, trên các trang web rất phong phú, hình ảnh, màu sắc đẹp mắt, rõ ràng Nội dung bản đồ phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông, bài học trong sách giáo khoa Mỗi trường THPT đều được trang bị máy tính, máy chiếu có kết nối mạng internet nên rất thuận lợi cho giáo viên trong việc sử dụng bản đồ, đưa vào giáo
án điện tử, hoặc truy cập các nguồn bản đồ khác nhau khi cần Đội ngũ giáo viên trẻ, tâm huyết với nghề, năng động, không ngừng học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn Đây là điều kiện, là cơ hội để mỗi giáo viên phát huy năng lực của mình trong quá trình giảng dạy
Tuy nhiên, việc sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông hiện nay nói chung vẫn còn ở mức độ xem bản đồ là một phương triện trực quan dùng để minh họa cho nội dung bài học, không phát huy được tính tích cực của học sinh, chưa rèn luyện được kĩ năng sử dụng bản đồ, đặc biệt là thao tác trên bản đồ treo tường, làm hạn chế chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Phần lớn nguồn bản đồ được sử dụng từ SGK, khi dạy thì giáo viên là người trình bày và thao tác nhiều hơn, học sinh chưa có ý thức sử dụng thường xuyên bản đồ trong tiết học, trong việc học tập ở nhà; chưa có kĩ năng làm việc với bản đồ và không thực hành trên bản đồ,…
Thực trạng trên đây đòi hỏi mỗi giáo viên Địa lí cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nhất là hướng dẫn học sinh có được kĩ năng sử dụng bản đồ thành thạo để học tập được tốt hơn
3 Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1 Một số kỹ thuật sử dụng bản đồ
Trang 6Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học
Sử dụng bản đồ có nhiều loại kỹ thuật khác nhau: kỹ thuật nêu tình huống trên bản đồ, kỹ thuật đối chiếu so sánh trên bản đồ, kỹ thuật liên hệ bản đồ- biểu đồ, kỹ thuật sử dụng Atlat, kỹ thuật sử dụng bản đồ câm, kỹ thuật vẽ lược đồ và các thao tác
sử dụng bản đồ…Trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ giới thiệu một số kỹ thuật cần thiết nhất, phổ biến và dễ áp dụng
3.1.1 Kỹ thuật nêu tình huống trên bản đồ
Có bao nhiêu vấn đề địa lí thì có bấy nhiêu tình huống trên bản đồ Về căn bản có các tình huống sau:
* Tình huống phân tích: các đối tượng trên bản đồ bao hàm vị trí trong
không gian, độ rộng lớn và chất lượng bên trong của nó Mật độ kí hiệu thể hiện mức độ tập trung của đối tượng Kỹ thuật nêu tình huống phân tích thường gắn với hệ thống câu hỏi:“Nhận xét đối tượng”
Ví dụ: Sử dụng Bản đồ công nghiệp để dạy bài 26- Cơ cấu ngành công
nghiệp (SGK Địa lý 12- Ban cơ bản), giáo viên có thể đặt câu hỏi hãy “Nhận xét
sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp nước ta”
Bản đồ Công nghiệp chung Hình 26.2 Công nghiệp chung
Để đạt được hiệu quả cao trong tình huống phân tích cần áp dụng một số câu hỏi phụ trợ, gợi mở từ khái quát tới chi tiết, từ lớn đến nhỏ, từ vùng có sự tập trung công nghiệp cao tới vùng chưa có sự tập trung công nghiệp…
Trang 7Qua việc hướng dẫn đọc bản đồ, học sinh sẽ rút ra được: Sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp của nước ta không đồng đều giữa các vùng Hoạt động công nghiệp tập trung chủ yếu ở một số khu vực: Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng và phụ cận, Nam Bộ (nhất là Đông Nam Bộ), dọc theo Duyên hải miền Trung Ở những khu vực còn lại, nhất là vùng núi, công nghiệp phát triển chậm, phân bố phân tán, rời rạc
Với bản đồ giáo khoa in trong sách giáo khoa, có thêm lược đồ cùng loại treo tường, học sinh có thể dễ dàng nắm được khái niệm cơ bản của bài này
* Tình huống quy nạp: Kỹ thuật nêu tình huống quy nạp ngược lại với kỹ
thuật nêu tình huống phân tích ở trên Kỹ thuật loại này thường đi từ các đối tượng thành phần, chi tiết hướng tới các đối tượng chung có tính chất bao trùm
Câu hỏi cho kỹ thuật nêu tình huống thường gắn với loại câu “đặc điểm chung” hoặc “đặc điểm nổi bật…”
Ví dụ: Sử dụng các bản đồ (khí hậu, hình thể, sông ngòi, các nhóm đất và
các loại đất chính, bản đồ thực vật và động vật Việt Nam) để làm rõ tình huống này
Bản đồ khí hậu Việt Nam Bản đồ hình thể
Trang 8
Bản đồ sông ngòi Bản đồ các nhóm và các loại đất chính
Bản đồ thực vật và động vật
Thiên nhiên Việt Nam rất đa dạng, biểu hiện sự khác nhau giữa các vùng,
miền và ở ngay mỗi thành phần tự nhiên nhưng đặc trưng là tính chất nhiệt đới
ẩm gió mùa:
Trang 9Sử dụng bản đồ khí hậu Việt Nam: Khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa được thể hiện ở tính chất nhiệt đới; lượng mưa và độ ẩm lớn (tính ẩm) và gió mùa
Sử dụng bản đồ hình thể: Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa biểu hiện ở xâm thực ở miền đồi núi và bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông
Sử dụng bản đồ sông ngòi: Sông ngòi của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với mạng lưới dày đặc; nhiều nước, giàu phù sa và có chế độ nước theo mùa
Sử dụng bản đồ các nhóm và các loại đất chính: Quá trình feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng cho vùng khí hậu nhiệt đới ẩm Quá trình này diễn
ra mạnh ở vùng đồi núi thấp trên đá mẹ axit, do đó đất feralit là loại đất chính ở vùng đồi núi nước ta
Sử dụng bản đồ thực vật và động vật: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm gió mùa phát triển trên đất feralit là cảnh quan tiêu biểu cho thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa ở nước ta
Như vậy, kết hợp nhiều bản đồ, đối chiếu, so sánh giáo viên có thể nêu lên tình huống quy nạp “…mặc dù biểu hiện đa dạng nhưng các thành phần khí hậu, sông
ngòi, đất, sinh vật của thiên nhiên Việt Nam đều phản ánh tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa.
* Tình huống nhân quả: Đây là loại tình huống phổ biến nhất trong
chương trình Địa lí phổ thông Kỹ thuật nêu tình huống nhân quả thường nêu lên mối quan hệ giữa các thành phần trong một tổng thể nào đó Người giáo viên cần nắm vững sự tác động nhiều chiều trong các tổng thể tự nhiên hoặc tổng thể lãnh thổ sản xuất Kỹ thuật nêu tình huống nhân quả thường gắn với hệ thống câu hỏi “tại sao”?, “nguyên nhân nào”? Câu hỏi tất yếu đi theo là “nguyên nhân nào là quan trọng nhất?”
Ví dụ: Sử dụng các bản đồ (khí hậu, địa hình, bản đồ thực vật và động
vật Việt Nam) để trả lời câu hỏi “Nguyên nhân nào quan trọng nhất làm cho địa hình nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa”
Qua việc sử dụng bản đồ kết hợp với kiến thức đã học, học sinh biết
được địa hình nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa biểu hiện ở quá trình xâm thực, rửa trôi ở miền núi và bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu diễn ra mạnh Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của khí hậu với nền nhiệt độ cao, lượng mưa lớn với hai mùa khô, ẩm
3.1.2 Kỹ thuật đối chiếu so sánh
Có 2 dạng nhỏ của kỹ thuật này là:
* So sánh 2 bản đồ có tỉ lệ giống nhau nhưng khác về đối tượng thể hiện Câu hỏi dạng kỹ thuật so sánh cần hướng học sinh tới mối quan hệ giữa các đối tượng thể hiện
Ví dụ: Sử dụng bản đồ hình thể và bản đồ sông ngòi có cùng tỉ lệ 1:
6000.000 nhưng thể hiện các đối tượng khác nhau là hình thể và sông ngòi
Trang 10Bản đồ hình thể Bản đồ sông ngòi
Bản đồ hình thể: thể hiện hình dạng lãnh thổ, đặc điểm chung của địa hình Việt Nam,…
Bản đồ sông ngòi: thể hiện mạng lưới sông ngòi (tên, hệ thống sông lớn, nơi bắt nguồn, hướng chảy, các phụ lưu và chi lưu,…)
Để thấy được mối quan hệ giữa các đối tượng tự nhiên ở hai bản đồ này,
giáo viên đặt câu hỏi: “Tại sao sông ngòi miền Trung thường ngắn, dốc, diện tích lưu vực nhỏ, lũ lên rất nhanh và đột ngột”?
Quan sát vào bản đồ kết hợp các biểu đồ và kiến thức đã học, học sinh kết luận: Lãnh thổ miền Trung kéo dài, hẹp ngang, đồi núi ăn ra sát biển nên sông ngòi ở đây thường ngắn và dốc, có diện tích lưu vực nhỏ Khi có mưa và bão lớn,
lũ các sông lên rất nhanh và đột ngột
* So sánh 2 bản đồ khác tỉ lệ nhưng cùng thể hiện một đối tượng
Câu hỏi của kỹ thuật dạy học này tập trung cả kỹ thuật phân tích và kỹ thuật quy nạp
Ví dụ: So sánh bản đồ một số khu vực của Thành phố Đà Nẵng
Trang 11Hình 1 Bản đồ một số khu vực của thành phố Đà Nẵng (tỉ lệ 1 : 7.500)
Hình 2 Bản đồ một số khu vực của thành phố Đà Nẵng
(tỉ lệ 1 :15.000)
Sử dụng kiến thức đã học về bản đồ (tỉ lệ bản đồ, các loại tỉ lệ bản đồ), khi
so sánh hai bản đồ có tỉ lệ khác nhau HS sẽ rút ra được tỉ lệ bản đồ càng lớn thì mức độ chi tiết của bản đồ càng cao
3.1.3 Kỹ thuật liên hệ bản đồ - biểu đồ
Bản đồ thường có các biểu đồ để hoàn chỉnh khái niệm Biểu đồ thường thể hiện cấu trúc, động lực và độ lớn của đối tượng địa lí Bản đồ thể hiện sự phân hóa không gian của các đối tượng địa lí đó Kỹ thuật nêu mối liên hệ bản
đồ- biểu đồ thường ẩn dưới dạng “Nhận xét bản đồ - biểu đồ?”.
Ví dụ: Sử dụng bản đồ Nông nghiệp Việt Nam để thấy rõ mối liên hệ giữa bản
đồ - biểu đồ