Tại điều 28 của Luật giáo dục cũng quy định “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRIỆU SƠN 5
*******************************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 5 LÀM TỐT PHẦN ĐỌC – HIỂU TRONG ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT MÔN NGỮ VĂN
Người thực hiện: Lê Thị Quyên
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 22.3 Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 làm tốt phần Đọc
– hiểu trong đề thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn
5
2.3.1.Củng cố kiến thức Đọc – hiểu bằng bảng biểu và bài tập
minh họa
5
2.3.2 Rèn luyện kĩ năng Đọc – hiểu qua bài tập thực hành. 11
2.3.2.1 Kĩ năngtrả lời các câu hỏi trong phần Đọc – hiểu. 112.3.2.2 Đọc câu hỏi trước khi đọc văn bản Đọc – hiểu 12
2.3.2.3 Kiểm tra sau khi hoàn thành phần Đọc – hiểu 13
2.3.2.5 Phân chia thời gian hợp lí cho phần Đọc - hiểu. 13
2.3.3 Một vài “lưu ý” nhỏ cho học sinh về cách làm phần Đọc –
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.
Nhà văn Gail Sheely đã khẳng định “Nếu không thay đổi thì sẽ không bao giờ phát triển Nếu không thay đổi thì không phải sống” [1].Tại điều 5 Luật giáo dục
đã xác định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và chí vươn lên” Tại điều 28 của Luật giáo dục cũng quy định “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.[1]
Nhưng để phát huy được tích tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh lớp 12nói riêng và học sinh Trung học phô thông (THPT) nói chung trong học tập mônNgữ văn quả thật không dễ.Ngữ văn không phải là môn “thời thượng” như mônAnh văn, làm nhanh, tô tròn như các môn khoa học tự nhiên mà thực tế Ngữ văn
là môn ít được học sinh “ưa chuộng” Vì đây là môn duy nhất còn làm tự luận,còn phải viết nhiều, viết dài mỗi khi làm bài kiểm tra, bài thi Tốt nghiệp THPT.Cho nên ngoài rèn luyện kĩ năng viết văn (Làm văn), giáo viên còn phải chútrọng đến việc hướng dẫn kĩ năng đọc - hiểuvăn bản cho học sinh (HS)
Tuy phần Đọc – hiểu chỉ có 3.0/10.0 điểm toàn bài nhưng lại là phần duy nhất
trong bài thi môn Ngữ văn mà HS có thể đạt điểm tối đa khi các em chỉ cần trảlời trực tiếp, ngắn gọn, chính xác, không cần bố cục đầy đủ, lí luận sâu sắc, diễn
đạt mượt mà Và để đạt được kết quả “như ý” trong phần Đọc – hiểu không phải
dễ Với thời gian 120 phút cho 2 phần, mà phần Làm văn (7.0 điểm, 2 câu)
chiếm lượng lớn thời gian, còn phần Đọc – hiểu các em chỉ được phép làm từ 15 – 25 phút trên 4 câu từ việc đọc văn bản, nhận biết, thông hiểu, vận dụngvàlí giải
vấn đề,quả là cả một quá trình vô cùng khó khăn
Mặc dù phần Đọc – hiểu đã được đưa vào cấu trúc đề thi Tốt nghiệp THPT môn
Ngữ văn từ năm 2014 nhưng ngay cả đến nay, sau 8 năm thì vẫn là phần gâylúng túng và khó khăn cho học sinh, đặc biệt là những học sinh quen cách họcvẹt, học đối phó vì dù có học thuộc cũng khó mà áp dụng với nhiều dạng câu hỏi
khác nhau Hơn nữa mức độ câu hỏi phầnĐọc – hiểu mỗi năm mỗi khác (năm
sau mức độ đề khó hơn năm trước) Việc thay đổi mức độ các câu hỏi ở phần
Đọc – hiểu như thế, đòi hỏi các em phải siêng năng rèn luyện kĩ năng làm phần Đọc – hiểu trong các đề thi môn Văn, phải học kĩ, khắc sâu đặc trưng các đơn vị kiến thức ở phân môn Tiếng việt, Làm văn thì mới có khả năng trả lời tốt các câu
hỏi
Ngay ở trường THPT Triệu Sơn 5 - nơi tôi đang công tác, trong quá trìnhgiảng dạy, ôn tập, kiểm tra, chấm - trả bài cho HS lớp 12, có một hạn chế chung
là các em (kể cả những HS lớp chọn, theo ban KHXH) cũng còn nhầm lẫn giữa
các phương thức biểu đạt với các phép tu từ, thậm chí có em còn bỏ trống câu xác định phương thức biểu đạt hay phong cách ngôn ngữ thì sao có thể làm tốt, đạt điểm “tối ưu” cho phần Đọc – hiểu? Bản thân tôi nhiều năm dạy lớp 12, trực
tiếp ôn tập, hướng dẫn HS kĩ năng đọc – hiểu,tôi không khỏi băn khoăn, trăn
Trang 4trởtrước trách nhiệm của mình Vì vậy việc đưa ra những biện pháp giúp HS lớp
12 “thu phục” phần Đọc – hiểutrong đề thi Tốt nghiệp THPT và“lấy trọn” 3
điểmlà vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết cho bài làm của HS
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu và triển khai đề tài
“Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT Triệu Sơn 5làm tốt phần Đọc – hiểu trong đề thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn”
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Qua đề tài “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT Triệu Sơn 5làm tốt phần Đọc – hiểu trong đề thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn”,người viết sẽ nêu một số biện pháp, cách thức hướng dẫn học sinh:
- Ôn tập, củng cố, khắc ghi các miền kiến thức cơ bản để đọc - hiểu văn bản và
vận dụng giải quyết các câu hỏi phần Đọc – hiểu, nâng cao kĩ năng làm bài, cải
thiện điểm số cho bài thi môn Ngữ văn
- Giúp học sinh làm tốt phần Đọc – hiểu, nâng cao chất lượng bài thi môn Ngữ
văn và có thể làm tư liệu để bản thân và đồng nghiệp áp dụng vào quá trình ônthi Tốt nghiệpTHPT môn Ngữ văn
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Các ngữ liệu phần Đọc – hiểu ở đề thi Tốt nghiệp THPTmôn Ngữ văn.
- HS các khối lớp 10,11 đặc biệt là HS lớp 12:
12B6, 12B7(năm học 2018 - 2019)
12A2, 12A7(năm học 2019 – 2020)
11A3, 12B3, 12B7 (năm học 2021 – 2022)
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp thực nghiệm, khảo sát, tổng hợp, phân tích thông qua quátrình củng cố kiến thức và hướng dẫn học sinh làm bài tập
- Phương pháp so sánh, thống kê,tổng kết kinh nghiệm
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận.
Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2013), trong
Nghị quyết 29 – NQ/TW cũng xác định rõ “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó “Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là hoạt động nhằm xác định kết quả mà học sinh thu nhận được qua quá trình giảng dạy của thầy, là khâu then chốt góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường THPT”[2] Đây là
định hướng cơ bản, thiết thực đối với ngành giáo dục và hoạt động dạy học,trong đó có bộ môn Ngữ văn Xác định được nhiệm vụ trọng tâm đó nên ngaysau Nghị quyết 29, Bộ giáo dục không ngừng đưa ra những giải pháp mang tínhcải tiến như: chuẩn bị đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới kiểm tra vàđánh giá, đổi mới phương pháp dạy học Những thay đổi đó nhằm phát triển
năng lực người học, trong đó lấy đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức là khâu khởi đầu và có ý nghĩa mạnh mẽ, quyết định; đổi mới quản lý là giải pháp then chốt
và đổi mới thi cử là khâu có ý nghĩa đột phá trên cơ sở xây dựng
Trang 5đề thi kiểm tra và đáp án theo hướng “mở”, theo hướng tích hợp liên môn.
Để thực hiện đổi mới giáo dục đào tạo như Nghị quyết 29 đề ra, ngày 1/4/2014
Bộ GD&ĐTđã gửi công văn 1656/BGDĐT-KTĐGCLGD về việc hướng dẫn tổ
chức thi Tốt nghiệp THPT năm 2014, trong đó có nội dung “Đề thi môn Ngữ văn có 2 phần: Đọc - hiểu và Làm văn”.Và đề thi môn Ngữ văn không còn nặng
về kiểm tra kiến thức lí thuyết mà chuyển sang hướng tập trung đánh giá hai kĩ
năng quan trọng của người học là kĩ năng Đọc – hiểu văn bản và kĩ năng Tạo lập
văn bản Cũng từ đó (2014), dạng câu hỏi đọc - hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi,thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thứcchỉ có thể kiểm tra học sinh khả năng ghi nhớ, học thuộc, học vẹt thì dạng câuhỏi đọc – hiểu, đòi hỏi HS phải sử dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, vốn sống,
vốn hiểu biết và khả năng tư duy, vận dụng để trả lời các câu hỏi từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng Qua đó, giáo viên có thể rèn luyện tính tích cực, chủ
động đọc - hiểu một văn bản bất kỳ, dù văn bản đó hoàn toàn mới và xa lạ với
HS Như vậy, có thể thấy bên cạnh việc rèn luyện kĩ năng viết phần Tự luận thì việc ôn tập, hướng dẫn kĩ năng làm phần Đọc – hiểu là điều cần thiết phải trang
bị cho HS, nhất là HS lớp 12 chuẩn bị thi Tốt nghiệp THPT
Ở cấp 2, dù các em đã được học kiến thức về các biện pháp tu từ qua các bài
“Sự phát triển của từ vựng”, “Trau dồi vốn từ”, “Nghĩa tường minh và hàm ý” [4];các thao tác phân tích, tổng hợp nhưng dạng câu hỏi như phần Đọc – hiểu đề thi Tốt nghiệpTHPT thì các em chưa gặp Vào THPT, các em mới bắt
đầu làm quen với các câu hỏi mức độ dễ: xác định phương thức biểu đạt, phongcách ngôn ngữ, biện pháp tu từ nhưng để nắm được kiến thức, đặc trưng và vậndụng vào làm bài thì không phải dễ Tuy ở chương trình Ngữ văn THPT các em
cũng học các bài liên quan đến kiến thức phần Đọc – hiểu: Các phong cách ngôn ngữ (Ngữ văn 10,11,12); Thực hành phép tu từ ấn dụ và hoán dụ, phép điêp và phép đối; Phương pháp thuyết minh (Ngữ văn 10); Thao tác lập luận (Ngữ văn
11) [3].Tuy nhiên, với lượng thời gian theo phân phối chương trình (kế hoạchdạy học) vẫn khó để HS có thể nắm bắt và khắc ghi những kiến thức sâu, rộng vàvận dụng vào quá trình thực hành
Việc có thêm phần Đọc – hiểu trong cấu trúc đề thi môn Ngữ văn những năm
qua xuất phát từ xu hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá sự ghi nhớ kiến thức của
HS Từ việc giáo viên đọc hộ, hiểu hộ, cảm hộ chuyển sang kiểm tra đánh giánăng lực đọc hiểu của HS, các em chủ động cảm thụ, tìm hiểu, khám phá và giải
mã các giá trị của văn bản Vì mỗi ngữ liệu đưa vào đề thi đều được giáo viênnghiên cứu, lựa chọn kĩ lưỡng nên đây không chỉ là hoạt động đọc hiểu để nhậnbiết, lí giải mà còn là hoạt động cảm thụ, sáng tọa để tự bồi đắp tâm hồn, trí tuệ,
để các em tự hoàn thiện bản thân
Trước sự đổi mới toàn diện của giáo dục, đòi hỏi giáo viên và HS cũng phải thayđổi để bắt kịp nhịp độ này Việc ôn tập, hướng dẫn HS khắc phục những hạn chế
và đưa ra các giả pháp thiết thực giúplàm tốt phần Đọc – hiểu trong đề thi Tốt
nghiệp THPT luôn là một yêu cầu bức thiết cho tất cả giáo viên Ngữ văn, đặcbiệt là những giáo viên đã, đang và sẽ trực tiếp dạy và ôn thi Tốt nghiệp THPT
cho HS Phần Đọc – hiểu dù chỉ 3,0 điểm nhưng lại có vai trò rất quan trọng
trong việc nâng cao điểm số toàn bài làm văn cho các em Chỉ cần xác định, trả
Trang 6lời sai một câu cũng có thể làm cho bài làm bị rớt điểm, mất điểm rất nhiều Vì
vây, việc nâng cao điểm số phần Đọc – hiểu là cách tối ưu để hoàn thiện bài thi
toàn vẹn nhất
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Nhằmnâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường THPT, năm 2014 Bộ
GD&ĐT đãchính thức đưa phần Đọc – hiểu vào đề thi môn Ngữ văn Ngay khi
có quyết định này thì vấn đề rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản cho HS đã thuhút sự quan tâm, chú ý của các thầy cô giáo và HS, nhất là các em HS lớp 12
Tại Hội thảo “Đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở trường THPT” đã diễn ra ngày 10/4/2014 tại Hà Nội, phần lớn các ý kiến đề xuất
của giáo viên, chuyên viên đều chủ yếu xoay quanh vấn đề ôn tập môn Ngữ văn
nói chung và rèn luyện kĩ năng Đọc – hiểu nói riêng Cô Phạm Thị Thu Hiền –
Vụ Giáo dục Trung học – Bộ GD&ĐT đã đưa ra dạng đề Đọc – hiểu mẫu với ngữ liệu “Mẹ và quả”.Năm 2015,2016 các tài liệu ôn thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia theo cấu trúc mới của Bộ GD&ĐT cũng lần lượt ra mắt bạn đọc: “Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn”, “Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn” của tác giả Lê Quang Hưng (Nhà xuất bản Quốc gia Hà Nội),
“Chinh phục đề thi Quốc gia THPT” của nhóm tác giả Lovebook (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội), hay cuốn “Cẩm nang luyện thi quốc gia biên soạn theo cấu trúc đề thi mới nhất của Bộ GD&ĐT” của thầy giáo Phan Danh Hiếu,
Như vậy, các bài nghiên cứu, các tài liệu hướng dẫn ôn luyện đã khái quátđược hệ thông kiến thức đọc hiểu, cung cấp những dạng dề khác nhau đề học
sinh làm quen, thực hành và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu Tuy nhiên những kiến
thức đưa ra chưa có nhiều ví dụ để HS học tập, rèn luyện Từ đó đặt ra vấn đề là
cần giúp cho HS có khả năng tiếp cận và xử lí nhanh với từng dạng đề Đọc hiểu, cần khái quát lại theo từng dạng, tùng nhóm kiến thức, câu hỏi để HS dễ
-dàng phân biệt, xác định và đạt hiệu quả cao nhất khi làm bài
Ngữ văn là một môn học mang tính đặc thù và khó đối với HS Thực tế là nhiều
GV chỉ chú trọng đến rèn luyện kĩ năng Làm văn, còn phần Đọc – hiểu chỉ cho
HS ôn tập, thực hành khi chuẩn bị thi học kì, cuối kì hoặc đến sát nút ôn thi Tốt
nghiệp THPT Quốc gia cho HS lớp 12 Vì vậy, thời gian ít, ngữ liệu Đọc - hiểu
rộng,HS không được thực hành nhiều lần nên kiến thức không được khắc sâu.Đối với nhiều HS, kĩ năng đọc hiểu đang ở mức độ “yếu” và “kém” Cũng chính
vì vậy mà nảy sinh nhiều vấn đề: HS hiểu sai nội dung ngữ liệu thậm chí xuyêntạc, đơm đặt vấn đề; đọc thoáng qua và trả lời theo cách đối phó, không đúngtrọng tâm; ngay cả việc xác định yêu cầu của đề bài còn chưa đúng thì không thểnào trả lời chính xác Đó là một thực tế mà mỗi GV dạy Văn phải suy ngẫm, cầnnhìn lại phương pháp dạy học và ôn tập cho HS!
Một thực trạng nữa, đó là môn Ngữ văn ở các trường THPT nới chung và trườngTHPT Triệu Sơn 5 nói riêng chưa thực sự được HS và phụ huynh quan tâm Vìmôn học thời thượng theo xu thế là Ngoại ngữ và các môn thuộc ban KHTN, cònmôn Ngữ văn chủ yếu phục vụ cho thi Tốt nghiệp Thực tế đó đã dẫn đến khókhăn cho giáo viên trong việc dạy học, hướng dẫn HS ôn tập, thực hành nên
nhiều HS đến cuối lớp 12 vẫn còn những nhầm lẫn “khó tin” khi làm phần Đọc
Trang 7– hiểu: Biện pháp tu từ: miêu tả, biểu cảm; Phương thức biểu đạt là so sánh, chứng minh…
Từ thực tế trên cho thấy, phần Đọc – hiểu dù đã có trong cấu trúc đề thi Tốt
nghiệp THPT từ năm 2014 nhưng đến nay (2022) vẫn là vấn đề luôn luôn mới vàkhó đối với HS Điều đó đòi hỏi GV phải có những giải pháp phù hợp với từng
đối tượng HS, đặc biệt là HS lớp 12 để nâng cao hiệu quả làm phần Đọc – hiểu
trong đề thi Tốt nghiệp THPT
2.3 Một số biện pháp ôn tập, hướng dẫn học sinh lớp 12 làm tốt phần Đọc – hiểu trong đề thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn.
2.3.1 Củng cố kiến thức Đọc – hiểubằng bảng biểu và bài tập minh họa.
Đầu tiên, để giúp học sinh hình thành năng lực đọc – hiểu, tôi cho các em ôn tâp,củng cố lại một cách hệ thống những kiến thức cơ bản thường xuất hiện trong
các câu hỏi ở phần Đọc – hiểu của đề thi Tốt nghiệp THPT.
Mặc dù đây là dạng kiến thức mà các em đã được học từ cấp Tiểu học, Trung học
cơ sở nhưng nội dung khá rộng, không quy tụ thành bài hay ở một khối, lớp nàocho nên HS không thể ôn lại từng đơn vị kiến thức, cũng thật khó để có thể nắm
vững, khắc ghi và vận dụng khi trả lời các câu hỏi Đọc – hiểu Vì vậy, để giúp
HS ghi nhớ những kiến thức trọng tâm, tôi đã tiến hành lựa chọn, sắp xếp và biênsoạn thành một hệ thống kiến thức đọc – hiểudưới dạng bảng biểu
Củng cố kiến thức đọc - hiểu bằng bảng biểu là cách giúp các em dễ dàng ghinhớ, nhận diện từng nội dung kiến thức một cách khoa học, bài bản theo từngmiền, đơn vị kiến thức cụ thể Cách này, tôi tiến hành theo 2 bước:
Bước 1: Hệ thống lại kiến thức lý thuyết.
- Để ôn tập 6 phương thức biểu đạt, tôi cho HS lập bảng biểu rồi cung cấp kiếnthức lý thuyết về các phương thức biểu đạt, sau đó nhấn mạnh đến đặc điểm đểnhận diện từng phương thức và sắp xếp các phương thức biểu đạt thường xuấthiện trong các đề thi Tốt nghiệp THPT lên đầu
- Riêng các phong cách ngôn ngữ (biện pháp tu từ, thao tác lập luận ) thì các
em đã được học theo từng bài cụ thể (theo chủ đề, bài luyện tập ) ở lớp 10,11,12 nên trong quá trình ôn tập, tôi không dạy lại cụ thể từng nội dung kiến thứctheo các bài mà chỉ nhấn mạnh lại đặc điểm nhận diện với những đơn vị kiếnthức (phong cách ngôn ngữ, phép tu từ, thao tác lập luận ) thường gặp trong các
ngữ liệu Đọc – hiểu để các em dễ dàng xác định khi làm bài Đồng thời đảo trật
tự (các PCNN, BPTT) theo thứ tự quan trọng, thường gặp lên đầu
- Với các biện pháp tu từ thì câu hỏi ở cả 2 mức độ: nhận biết và thông hiểu Hãy xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật)? Vì thế,
ngoài việc các em gọi tên và chỉ ra các từ, cụm từ, vế câu chứa phép tu từ thìphải phân tích hiệu quả nghệ thuật Chính vì vậy, bên cạch hướng dẫn các emnhận diện được biện pháp tu từ thì tôi còn yêu cầu các em phải nhớ được đặc
Trang 8điểm về hiệu quả nghệ thuật mang tính đặc trưng
Và sau mỗi phần lý thuyết tôi thường cho HS thực hành bằng các ngữ liệu và câuhỏi cụ thể
Đây là hai trong số những nội dung kiến thức đọc - hiểu được tôi trích ra từ hệthống bảng biểu
- Ngoài ra, còn dùng để khắc hoạ nhân vật (tính cách, tâm lí…) và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người
và cuộc sống
- Tác phẩm văn học:truyện ngắn, tiểu thuyết, cổ tích,
- Bản tin báo chí
- Bản tường thuật, tường trình…
2 Biểu cảm
- Là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tìnhcảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh
- Có nhiều từ bộc lộ tình cảm, cảm xúc
- Các thể loại thơ, cadao, bút kí
- Điện mừng, hỏi thăm, chia buồn
3 Nghị luận
- Trình bày ý kiến, bàn bạc, đánh giá phải - trái, đúng - sai (tốt, xấu)nhằm bộc lộ rõ thái độ, quan điểm
… của người nói, người viết và dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình
- Tác phẩm văn học:cáo, chiếu, hịch
- Các bài xã luận, bình luận, kêu gọi…
- Các bài tham luận
về một vấn đề chínhtrị, xã hội, văn hóa,
tư tưởng,
4 Miêu tả
- Là dùng ngôn ngữ mô tả sự vật làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật,
sự việc như đang hiện ra trước mắthoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người
- Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự
- Bài văn tả cảnh, tả người
5 Thuyết minh
Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải về cấu tạo, lợi – hại một cách chính xác và khách quan về một sự vật, hiện tượng nào đó có thật trong cuộc sống
.- Tiểu sử về một nhân vật, một danh lam thắng cảnh
- Kiến thức về một vấn đề khoa học,
6 Hành chính – công vụ
- Các văn bản, báo cáo, quyết định… dùng để giao tiếp giữa cơ quan quản lí với cá nhân và ngượclại
- Trình bày theo mẫu chung
- Đơn từ, báo cáo,đềnghị…
Trang 9Tác phẩm thơ, truyện, bút ký
2
Chính luận
- Dùng trong lĩnh vực chính trị - xãhội, người giao tiếp thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ quan điểm, lập trường tư tưởng, tình cảm của mìnhvới những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội
- Tuyên ngôn, cáo, chiếu, lời kêugọi
- Các bài bình luận, xã luận, tham luận
- Tin tức nóng hổi tính thời sự
- Văn bản khoa học chuyên sâu,
VB khoa học sáchgiáo khoa, VB khoa học phổ cập.5
Sinh hoạt
- Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếphàng ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt… trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm trong giao tiếp với
tư cách cá nhân
- Gồm các dạng chuyện trò, nhật
Bước 2: Sau khi ôn tập lý thuyêt, tôi yêu cầu HS tái hiện kiến thức đã được củng
cố ở bảng biểu để kiểm tra tính tự giác, tích cực và mức độ nắm vững bài họccủa các em Để giúp HS khắc sâu kiến thức đọc – hiểu, tôi tiến hành cho các emlàm bài tập minh họa theo từng nội dung đã được tôi chuẩn bị trước Bài tập thựchành sẽ yêu cầu HS nhận diện và trả lời câu hỏi Với mỗi câu trả lời đúng, tôiđộng viên các em bằng cách khen ngợi, cho điểm xem như một dạng kiểm tra bài
cũ Cũng có những bài làm xong, tôi cho HS đổi chéo và tự chấm cho nhau Đâycũng là cách để các em có điều kiện trực tiếp nhận ra câu trả lời sai của bạn và tựkhắc phục cho chính bản thân mình
Trang 10Bài tập.
Về phương thức biểu đạt:
Ví dụ 1:
Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi :
Đam mê là điều cần thiết để thành công Vì sự nhiệt huyết, niềm say mê trong lúc ta làm điều mình yêu thích, sẽ giúp ta vượt qua khó khăn dễ dàng hơn Nhưng đừng nghĩ rằng chỉ cần có được đam mê thì sẽ thành công Vì sao? Là một người lựa chọn sống với đam mê, tôi nhận ra rằng: Nếu có đam mê mà không kiên trì nỗ lực thì làm gì cũng sẽ thất bại Bất kì công việc nào cũng sẽ có điểm mình thích, điểm mình không thích Ngay cả khi đang làm công việc mà mình đam mê thì cũng có những ngày cực kì hứng khởi và những quãng thời gian với vô vàn khó khăn Những thử thách trong bất kì công việc nào cũng đều tồn tại Điều quan trọng là cam kết với việc mình làm Cam kết để đẩy mình qua những khoảng thời gian khó khăn Cam kết để dốc hết sức mình vượt lên trở ngại Cam kết để ráng thêm chút nữa ngay cả khi đã rã rời.
Đam mê là cái ban đầu Nhưng ý chí, nghị lực vượt khó, sự kiên trì của bản thân là những nguyên liệu khác của chiếc bánh thành công Đam mê cũng không phải tự dưng mà có Nó là điểm giao thoa giữa sở thích và tiềm năng Từ hai chất xúc tác đó, người ta tiếp tục cọ xát, mài giũa, học tập trau dồi, tìm kiếm cơ hội, làm việc, thực hành… Đến một lúc nào đó nó sẽ phát triển thành thiên hướng nghề nghiệp của con người Nếu có đam mê, nhưng không rèn luyện thì tiềm năng chẳng bao giờ hé nở.
(Trích Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? –Rosie Nguyễn, NXB Hội Nhà văn 2018)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn trên
Trả lời: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn trên là: Nghị
luận.
Ví dụ 2:
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu sau:
người nâng niu lộc biếc mùa xuân người hóng mát dưới trưa mùa hạ người gom về đốt lửa sưởi mùa đông
(2)Tôi đã đọc đời mình trên lá lúc non tơ óng ánh bình minh lúc rách nát gió vò, bão quật lúc cao xanh, lúc về đất vô hình
(3)Tôi đã đọc đời mình trên là
có thể khổng lồ, có thể bé li ti dẫu tồn tại một giây vẫn tươi niềm kiêu hãnh
đã sinh ra chẳng sợ thử thách gì
Trang 11(Nguyễn Minh Khiêm, Đọc đời mình trên lá, dẫn theo
vannghequandoi.com.vn,19/06/2014)
Câu 1 Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản
Trả lời: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm
Về phong cách ngôn ngữ:
Ví dụ 1:
Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi:
Tôi ao ước bao năm cái đích tận cùng, Cho đến bây giờ vẫn còn ao ước, Chỉ có một điều cứ dần vỡ lẽ Điều trong tuổi thơ chưa thể hình dung:
Rằng cái đích ta nhìn thấu, khi chưa đi Chỉ là một chặng trao cờ , trong cuộc chạy đường dài tiếp sức, Chỉ là khúc rẽ cửa sông, khi mở dòng ra biển, Tới đó, sông không dừng lại bao giờ!
Ngay khi tới đích rồi, ta lại nhìn ra đích nữa xa hơn, Nhiều bình diện hơn, nhiều sắc màu hơn…
Và lại phải lấy đà, ngay từ tầm cao mới,
Để đi tiếp, không được quyền mệt mỏi,
Vì cái đích hôm qua, nay mới chỉ là
bệ phóng khởi đầu!
(Trích “Đích”,Tác phẩm chọn lọc, Bằng Việt)
Câu 1 Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích trên.
Trả lời: Phong cách ngôn ngữ của đoạn trích trên là: Nghệ thuật
Ví dụ 2:
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi ở bên dưới
Tài sản quý giá nhất của cuộc sống này chính là thời gian
“Vậy chính xác thì chiếc đồng hồ bấm giờ bằng vàng sáng loáng ấy đại diện cho điều gì?”
“Nó tượng trưng cho tài sản quan trọng nhất của chúng ta – thời gian.” “Thế còn suy nghĩ tích cực, việc thiết lập mục tiêu và làm chủ bản thân thì sao?”
“Tất cả những điều đó đều vô nghĩa nếu không có thời gian Khoảng sáu tháng sau khi tĩnh tâm trong khu rừng ở Sivana – ngôi nhà tạm trú của tôi – một trong những nhà hiền triết đã đến thăm căn lều hoa hồng trong lúc tôi đang học Tên
cô ấy là Divea….“Divea lấy ra một vật từ trong chiếc túi bằng vải thô của cô và đưa nó cho tôi Món quà được gói trong một loại giấy thơm mà tôi không bao giờ nghĩ mình có thể thấy ở nơi xa xôi hẻo lánh ấy Đó là một chiếc đồng hồ cát
cỡ nhỏ được làm từ thủy tinh và một mảnh gỗ đàn hương Divea còn nói rằng mỗi nhà hiền triết đều từng được nhận dụng cụ này khi còn nhỏ ‘Mặc dù chúng tôi chẳng có tài sản gì và sống hết sức giản dị, thuần khiết, chúng tôi vẫn rất trân trọng thời gian và ý thức rằng nó đang trôi qua Những chiếc đồng hồ cát
Trang 12bé nhỏ này là lời nhắc nhở về sự chết, cũng như tầm quan trọng của việc sống những ngày trọn vẹn và hiệu quả trên con đường tiến đến mục đích đời mình’.” “Tất cả họ đều hiểu tầm quan trọng của thời gian Mỗi người trong số họ đã phát triển được thứ mà tôi gọi là ‘ý thức về thời gian” Anh thấy đó, tôi đã học được rằng thời gian trôi qua kẽ tay chúng ta như những hạt cát, không bao giờ quay trở lại Những ai sử dụng thời gian một cách khôn ngoan ngay từ khi còn trẻ sẽ được hưởng cuộc sống giàu có, phong phú và mãn nguyện Những người chưa biết về nguyên tắc “làm chủ thời gian là làm chủ được cuộc đời” sẽ không bao giờ nhận ra tiềm năng to lớn trong con người họ Thời gian chính là vị thần công lý vĩ đại Bất luận chúng ta thuộc tầng lớp nào trong xã hội, dù sống ở Texas hay Tokyo, chúng ta cũng đều có hai mươi bốn giờ trong một ngày như nhau Điều tạo nên sự khác biệt giữa những người có cuộc sống phi thường và những người có cuộc sống bình thường chính là cách họ sử dụng khoảng thời gian ấy.”
Trích"Vị tu sĩ bán chiếc Ferrari– Hành trình tìm về sức mạnh vô biên" (Theo
First News)
Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ chính của văn bản?
Trả lời: Phong cách ngôn ngữ chính của văn bản là: Chính luận
Về biện pháp tu từ:
Ví dụ 1:
Chỉ ra biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ sau và nêu hiệu quảnghệ thuật của biện pháp tu từ đó:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;”
(Vội vàng – Xuân Diệu)
(Trả lời: - Biện pháp tu từ được sử dụng là phép trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ,
điệp cấu trúc): Của…này đây…/ Này đây… của …
- Hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ là nhấn mạnh vẻ đẹp tươi non, phơi phới,
rạo rực, tình tứ của mùa xuân qua tâm hồn khát sống, khát yêu, khát khao giaocảm mãnh liệt của nhân vật trữ tình)
Ví dụ 1:
“Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu
ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”
(Trích Vợ nhặt - Kim Lân)
Chỉ ra những thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và hiệu quả nghệthuật của chúng?
(Trả lời: - Các thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn: dựng vợ
gả chồng, sinh con đẻ cái, ăn nên làm nổi.
Trang 13Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các thành ngữ: các thành ngữ dân gian
quen thuộc trong lời ăn tiếng nói nhân dân được sử dụng một cách sáng tạo, qua
đó lời kể của người kể hòa vào với dòng suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ; suynghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gần gũi, được thể hiện rất tự nhiên; nỗilòng, tâm trạng cùa người mẹ thương con được diễn tả thật chân thực)
2 3.2 Rèn luyện kĩ năng Đọc – hiểu qua bài tập thực hành.
Để đạt điểm “tối ưu” trong phần Đọc – hiểu, ngoài việc khắc sâu kiến thức lý
thuyết để vận dụng khi thực hành thì kĩ năng trả lời câu hỏi, trình bày, kiểm tralại bài sau khi đã hoàn thành cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao điểm
số cho bài thi môn Ngữ văn Vì vậy trong quá trình ôn thi, tôi thường lưu ý họcsinh một số kĩ năng sau:
2.3.2.1 Kĩ năng trả lời các câu hỏi trong phần Đọc – hiểu
-Phần Đọc – hiểu gồm 4 câu hỏi với các mức độ khác nhau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng Giáo viên nên định hướng cho HS trả lời ngắn gọn “hỏi gì - đáp
nấy” nhưng phải đảm bảo yêu cầu: ngắn gọn, chính xác và đầy đủ Tránh lanman, dài dòng, sáo rỗng
- Khi trả lời các câu hỏi ở mức độ nhận biết thì HS nên trả lời trực tiếp câu hỏi
bằng cách ghi lại nguyên vẹn câu hỏi và chỉ bỏ đi những từ dùng để hỏi HStránh trả lời “cộc lốc”, không đầu, không cuối rất dễ gây mất thiện cảm vớingười chấm
Ví dụ: Câu hỏi nhận biết
Dạng 1
Câu 1:Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 2:Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
trên?
Với câu hỏi 1, GV hướng dẫn HS căn cứ vào số chữ trong từng câu thơ
Với câu hỏi 2, GV lại hướng dẫn HS lưu ý vào câu hỏi (phương thức biểu đạtchính) để xác định 1 phương thức
Nên trả lời:
Câu 1:
Đoạn thơ được viết theo thể thơ: Tự do
Câu 2:
Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên là: Biểu cảm
Không nên trả lời:
Câu 1 Tự do
Câu 2 Biểu cảm
Ví dụ: Dạng 2
Câu 1:Trong đoạn trích, món quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người
trước khi hòa vào biển cả là gì? (Trích “Món quà cuộc sống” – Đề thi tốt nghiệp năm 2021 của Bộ giáo dục và đào tạo)
Với dạng câu hỏi này thì GV lại hướng dẫn HS tìm đáp án ngay trong văn bản,
cụ thể là ở trước hoặc sau câu hỏi