1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Kinh nghiệm xây dựng chủ đề dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1954 -1975 cho học sinh 12 trường THPT Như Xuân II

24 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh nghiệm xây dựng chủ đề dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1954 - 1975 cho học sinh 12 trường THPT Như Xuân II
Tác giả Phan Ngọc Thản
Trường học Trường THPT Như Xuân II
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 740,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT XUÂN II SÁNG KI N KINH NGHI M Ế Ệ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT NHƯ XUÂN II *** SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CHỦ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT XUÂN II

SÁNG KI N KINH NGHI M Ế Ệ

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NHƯ XUÂN II

***

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1954-1975 CHO HỌC SINH LỚP 12- TRƯỜNG

THPT NHƯ XUÂN II

Người thực hiện: Phan Ngọc Thản Chức vụ: Phó hiệu trưởng SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Lịch sử

THANH HOÁ NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài: 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu……… 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu……… 2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1.1 Cơ sở lí luận 2

1.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 2

2.3 Các sáng kiến hoặc các giải pháp đã thực hiện giải quyết vấn đề 4

2.4 Hiệu quả của sáng kiến………14

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 15

1 Kết luận 15

2 Những kiến nghị: 15

3 Tài liệu tham khảo……… 17

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Trước sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, mở cửa và hội nhập,tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo, Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học

theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo

cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương đối mới của Đảng Toàn ngànhgiáo dục đẩy mạnh đổi mới toàn diện đồng bộ từ mục tiêu giáo dục, chươngtrình giáo dục, phương pháp giáo dục, kiểm tra đánh giá và quản lí giáo dục.…Mặc dù đã thu được một số kết quả khả quan đưa đến sự chuyển biến tích cựctrong nền giáo dục, nhưng trong quá trình thực hiện còn không ít khó khăn, hạnchế Nguyên nhân là do nhận thức chưa đầy đủ về đổi mới giáo dục của một số

ít giáo viên, chương trình nội dung dạy học còn trùng lặp gây nhàm chán chongười học, phân bố thời lượng giữa các đơn vị kiến thức trong các giờ học chưahợp lí, còn nặng về kiến thức…Trước thực trạng trên, Bộ giáo dục đã hướng dẫnchỉ đạo các nhà trường trên cơ sở chương trình và thời lượng quy định, xây dựngchương trình dạy học sao cho phù hợp với từng địa phương, cấu trúc nội dungmột số chủ đề vào dạy học

Lịch sử Việt Nam 1954 - 1975, có một vị trí rất quan trọng cung cấp chohọc sinh cách nhìn khái quát về Lịch sử dân tộc thời kì kháng chiến chống Mĩcứu nước Đất nước ta phải đối mặt với một kẻ thù sừng sỏ nhất, lớn mạnh nhấtthế giới lúc bấy giờ, trong khi chúng ta vừa trải qua 9 năm cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp lần thứ hai Với vị trí quan trọng như vậy, đòi hỏi giáo viênphải nhận thức đầy đủ ý nghĩa tầm quan trong của giai đoạn lịch sử này, tổ chứcthiết kế dạy học sao cho khoa học học sinh dễ tiếp thu tiếp nhận kiến thức củamột giai đoạn lịch sử dân tộc, nhìn nhận đánh giá đúng giá trị lịch sử của giaiđoạn lịch sử này Việc xây dựng và tổ chức dạy học theo chủ đề giúp giáo viên thựchiện được mục tiêu đề ra hơn nữa sẽ sử dụng linh hoạt được các phương pháp tổchức dạy học tích cực

Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi lựa chọn vấn đề Kinh nghiệm “Xây dựng chủ đề dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến 1975 cho học sinh lớp 12- Trường THPT Như Xuân II” để làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Đồng thời thông qua đề tài này tôi cũng muốn được trao đổi thêm với cácthầy cô giáo về một số hoạt động giảng dạy mà tôi đã thực hiện trong quá trìnhcông tác của mình

1.2. Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về căn bản xây dựng chủ đề dạy học lịch sử Việt Nam từnăm 1954 đến 1975 nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử hiện nay và phát

Trang 4

huy năng lực học sinh, giúp các em có được niềm đam mê lịch sử, hiểu đượcbức tranh quá khứ thật chân thực và sinh động, hình thành thói quen “tự học”,

“chịu khó tìm tòi”, đức tính trung thực, giúp HS tự tin và nâng cao ý thức tráchnhiệm, từ đó kết quả học tập được nâng cao hơn

Đề tài góp phần bổ sung và đem lại hiệu quả cao hơn nữa chất lượng dạy

-học môn lịch sử ở trường THPT Như Xuân II

1.3 Đối tượng áp dụng đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình tổ chức dạy học theo chủ đềtrong việc giảng dạy chính khóa, ôn tập cho học sinh khối 12 tại trường Trunghọc phổ thông Như Xuân II;

Trong chương trình ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2021-2022, ôn thi Đại học,

CĐ, ôn thi học sinh giỏi…

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài gồm:

- Về lí luận: việc xây dựng chủ đề dạy học

- Về đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 12 trường THPT Như Xuân II

- Về nội dung: Xây dựng chủ đề dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm

1954 đến 1975

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN

2.1 Cơ sở lí luận thực tiễn

Thực hiện phương châm đổi mới Chương trinh Giáo dục phổ thông 2018

“Nghe là quen, nhìn là nhớ, thực hành là hiểu” Nhiều kết quả nghiên cứu chothấy, 30% kiến thức được ghi nhớ là do nhìn, quan sát, thực hành Do đó, việc

sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp dạy họctheo định hướng phát triển năng lực là vô cùng cần thiết

Sử dụng xây dựng chuyên đề dạy học này là theo định hướng phát triển nănglực trong dạy học các môn nói chung và môn lịch sử nói riêng là một trongnhững nội dung dạy học có vai trò quan trọng vào việc hoàn thiện mục tiêu,nhiệm vụ môn học đề ra của Bộ giáo dục và Đào tạo

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi thực hiện sáng kiến

2.2.1 Về phía giáo viên:

Giáo viên lịch sử các trường THPT dạy học theo cấu trúc chương trình lịch

sử - Chương trình chuẩn của Bộ Giáo dục và có tổ chức dạy một số chủ đề theoquy định Giáo viên các trường đều chủ động đăng kí và xây dựng chủ đề dạyhọc theo năm học Qua việc xây dựng và dạy chủ đề theo quy định, đa số giáoviên đều cho rằng việc xây dựng và tổ chức chủ đề dạy học sẽ khắc phục đượcnhững hạn chế chương trình sách giáo khoa như trùng lặp nội dung kiến thức…Xây dựng chủ đề dạy học giúp người dạy nghiên cứu chuyên sâu, bổ sung nhiềukiến thức làm nổi bật kiến thức cơ bản từ đó người học được tìm hiểu tri thứclịch sử một cách có chiều sâu và chiều rộng Tuy nhiên, khi dạy học theo chủ đềgiáo viên cũng gặp không ít khó khăn về vấn đề thời gian, tài liệu…ít nhiều ảnhhưởng đến chất lượng và quá trình tổ chức dạy học Thời lượng chương trìnhphân bổ cho môn lịch sử trong các trường THPT còn ít, khối lượng kiến thứcnhiều Tài liệu tham khảo chưa phong phú chủ yếu là sách giáo khoa và giáo

Trang 5

trình lịch sử của các trường đại học Xây dựng và cấu trúc lại chương trình theochủ đề nhưng vẫn phải đảm bảo thời lượng và định mức quy định của chươngtrình lịch sử của Bộ Việc xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề là một hình thứcdạy học không mới nhưng chưa phổ biến nên kinh nghiệm biên soạn và giảngdạy theo chủ đề của giáo viên còn nhiều hạn chế, phương pháp dạy học còn chịuảnh hưởng bởi phương pháp dạy học truyền thống

2.2.2 Về phía học sinh:

Khi tiến hành khảo sát thực tế tôi thấy rằng phần lớn học sinh sau khi được họcmột vài chủ đề căn bản trong năm học đều cho biết thích học lịch sử theo cấutrúc chủ đề Theo các em học theo chủ đề các em được tìm hiểu và nghiên cứutường tận hơn về những tri thức lịch sử, khơi dậy sự tò mò khám phá lịch sử củacác em Học theo chủ đề, các em cũng có ý thức hơn trong việc hợp tác chia sẻkhi học tập và tìm hiểu tri thức, say mê tìm tòi sưu tầm tài liệu, từ đó nâng caođược nhận thức, phát triển được năng lực của cá nhân học sinh… Khó khăn các

em gặp phải khi học chủ đề đó chính là người định hướng (Giáo viên hướngdẫn), nguồn sử liệu, trang thiết bị phục vụ nhu cầu tra cứu, đặc biệt học theo chủ

đề yêu cầu đối với các em cũng cao hơn so với học theo cấu trúc sách giáo khoacủa Bộ

2.2.3 Số liệu điều tra cụ thể trước khi thực hiện đề tài

Về phía giáo viên:

Qua việc đi dự giờ một số đồng nghiệp trong nhóm lịch sử tôi tổng hợp được

số liệu sau:

+ Có 60% giáo viên trong nhóm lịch sử có phương pháp giảng dạy tích cực, hấpdẫn, lôi cuốn được học sinh Xây dựng chủ đề là một phương pháp có nhiềuđiểm tích cực, ưu việt hơn trong việc tổ chức ôn tập kiến thức cho các em họcsinh tại trường tôi công tác Tiết học có sự tương tác giữa giáo viên với học sinh,học sinh với học sinh để cùng tìm ra kiến thức Các tiết học của đồng nghiệp đóhọc sinh nắm bắt được kiến thức, có khả năng vận dụng kiến thức để giải quyếtcác câu hỏi yêu cầu

+ Còn lại 40% giáo viên trong nhóm chưa thực sự đổi mới phương pháp dạyhọc

2.3 Các sáng kiến giải pháp đã được sử dụng để giải quyết vấn đề

Lớp Sĩ số Điểm giỏi Điểm khá

Điểm trungbình

Điểm dướitrung bình

Trang 6

Qua một thời gian vận dụng linh hoạt phương pháp xây dựng căn bản chủ đềdạy học Tôi nhận thấy rằng các em có sự hứng thú cao trong học tập và chấtlượng bộ môn được nâng lên rõ rệt Nhưng về bản thân giáo viên cần phải có sựchuẩn bị chu đáo về kiến thức trọng tâm, hệ thống câu hỏi sao cho phù hợp Tuy nhiên những năng lực của học sinh được hình thành cần trải qua mộtquá trình lâu dài, qua tất cả các môn học chứ không phải hình thành ngay quamột tiết học Do đó đòi hỏi các thầy cô giáo cần phải phối hợp tiến hành mộtcách đồng bộ phương pháp mới trong quá trình dạy học.

Vấn đề cụ thể của nội dung kiến thức như sau

Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến 1975

Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam từ 1954 - 1975 nằm trọn trong

chương IV của sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 – chương trình cơ bản; gồm 3 bài

(21, 22, 23) Nội dung mỗi bài cung cấp cho học sinh lượng kiến thức vừa đủnhằm giúp cho học sinh nắm được những nét chính về tình hình cách mạng ViệtNam giai đoạn này Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 gồm những nộidung cơ bản sau:

* Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965)

Sau Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, đất nước ta bị chia cắt làmhai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau Miền Bắc tiến lên xây dựngCNXH với những thuận lợi và khó khăn nhất định về kinh tế - xã hội Trước tìnhhình đó, từ 1954 - 1965 Đảng, Chính phủ đã đề ra các kế hoạch khác nhau nhằmkhội phục và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất đầu tiên của CNXH …

“miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh”.

Ở miền Nam, từ năm 1954, đế quốc Mĩ dựng lên chính quyền tay sai NgôĐình Diệm ngang nhiên phá hoại hiệp thương tổng tuyển cử, âm mưu chia cắtnước ta lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự ởĐông Nam Á Mĩ - Diệm đã thực hiện những chính sách khủng bố, đàn áp dã

man đồng bào miền Nam Đó là nguyên nhân dẫn tới bùng nổ phong trào “Đồng

khởi” (1959 - 1960) trên khắp miền Nam, phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp

của địch, làm chủ nhiều vùng rừng núi và nông thôn Trong khí thế của phongtrào “Đồng khởi”, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời(20/12/1960), chủ trương đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống Mĩ vàtay sai, thực hiện chính quyền liên minh dân tộc

Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, Mĩ tiếp tục tiếnhành chiến tranh xâm lược nước ta và chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặcbiệt” (1961 - 1965) Quân và dân miền Nam đã nêu cao chủ nghĩa anh hùngcách mạng, giành những thắng lợi vang dội trên các mặt trận đấu tranh quân sự,chính trị, ngoại giao, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ

* Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 - 1973):

Ở miền Nam, sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ tiếp

Trang 7

tục thực hiện dã tâm xâm lược, chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh

cục bộ” ở miền Nam (1965 - 1968) Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và

Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự động viên to lớn của miền Bắc về vật chất và tinhthần, quân dân miền Nam đã giành những thắng lợi vang dội ở Vạn Tường(Quảng Ngãi - 8/1965) và thắng lợi trong hai mùa khô (1965 - 1966; 1966 -1967) Đặc biệt, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 đã làm phá

sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ, buộc Mĩ phải ngồi vào

bàn đàm phán với ta tại Pari

Đồng thời với việc thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền

Nam, Mĩ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, nhằm phá hoại cơ

sở vật chất kỹ thuật của CNXH, đè bẹp ý chí chống Mĩ của nhân dân ta, ngăn

chăn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam Dưới sự

lãnh đạo của Đảng, quân dân miền Bắc đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cáchmạng và giành được những thắng lợi to lớn trong chiến đấu và sản xuất, hoànthành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến miền Nam

Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu xâm lược miền Nam Việt Nam, chuyển sang chiến lược “Việt Nam

hóa chiến tranh”, mở rộng ra toàn Đông Dương thực hiện chiến lược “Đông Dương hóa chiến tranh” với âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”,

“dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” Trước âm mưu mới của

đế quốc Mĩ, quân dân ta đã kiên cường chiến đấu và giành nhiểu thắng lợi trênmặt trận chính trị, quân sự Cùng với những thắng lợi của quân dân miền Bắc

trong đấu tranh chống chiến tranh phá hoại lần hai, đặc biệt là trận “Điện Biên

Phủ trên không”, ta đã buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari, rút quân về nước tạo tiền

đề tiến tới “đánh cho ngụy nhào”.

* Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975)

Sau Hiệp định Pari, nhân dân ta tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước Tuy Mĩ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, songchúng vẫn viện trợ tiền của và vũ khí cho ngụy để tiếp tục cuộc chiến tranh, tiếnhành phá hoại Hiệp định Pari Thắng lợi của quân dân hai miền Nam – Bắctrong hai năm 1973 - 1974 đã tạo ra sự tương quan lực lượng chênh lệch có lợicho ta Trong hoàn cảnh lịch sử đó, Đảng ta đã đề ra chủ trương, kế hoạch giải

phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, nhưng nhấn mạnh “nếu

thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975” Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân dân ta đã giành thắng

lợi vang dội trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, mở ra một kỷnguyên mới cho dân tôc ta – Kỷ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên CNXH.Thắng lợi vĩ đại đó đã làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của

Mĩ ở Việt Nam, góp phần to lớn trong cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, tiến bộcủa nhân loại

Một số yêu cầu khi xây dựng các chủ đề dạy học lịch sử Việt Nam từ năm

1954 đến 1975

Trang 8

Dạy học theo chủ đề là cần thiết Để có một chủ đề dạy học phù hợp, khoahọc đòi hỏi thầy cô khi xây dựng chủ đề cần đáp ứng các yêu cầu sau:

Nội dung các chủ đề phải phù hợp và là những vấn đề cơ bản của chươngtrình sách giáo khoa lịch sử 12 – Chương trình chuẩn, căn cứ vào mục tiêu, yêucầu đào tạo và trình độ học tập của học sinh Và đảm bảo nội dung cấu trúc điềuchỉnh của Bộ GD, của Sở GD Thanh Hóa trong năm học 2021-2022

Khi xây dựng chủ đề tránh việc tham gom nhiều sự kiện, số liệu, ngàytháng bắt học sinh học, tránh việc nêu đơn thuần lại cấu trúc kiến thức như sáchgiáo khoa khiến học sinh nhàm chán như Điều quan trọng, trên cơ sở cấu trúcsách giáo khoa, giáo viên cấu trúc lại theo chủ đề, phân chia tiểu mục chủ đềhợp lí giúp cho học sinh thấy hứng thú khi tìm hiểu chủ đề

Chủ đề chỉ đi sâu bám sát vào một nội dung, một vấn đề cụ thể, để học sinh

có thể tìm hiểu một cách tường tận vấn đề lịch sử đó

Chủ đề không dừng lại ở mục tiêu nhận biết mà nâng cao trình độ nhậnthức của học sinh lên một trình độ cao hơn hiểu và vận dụng các kiến thức trithức lịch sử vào giải quyết các tình huống thực tiễn

Các chủ đề cần chú trọng đến việc giáo dục thái độ, tư tưởng, tình cảm chohọc sinh Nhất là để học sinh cần nhận thức và biết trách nhiệm của bản thân vớilịch sử dân tộc, có ý thức trách nhiệm trọng việc học tập, xây dựng và bảo vệ tổquốc…

Xây dựng cơ bản chủ đề dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến 1975 cho học sinh lớp 12- Trường THPT Như Xuân II

Lịch sử lớp 12 – Chương trình cơ bản, nội dung lịch sử Việt Nam từ 1954 –

1975 là một nội dung cơ bản của tiến trình lịch sử Việt Nam, đây là một trongnội dung quan trọng trong dạy học, ôn thi tốt nghiệpTHPT và ôn thi học sinhgiỏi các cấp…Để học sinh tìm hiểu sâu phần kiến thức lịch sử này, giáo viên cóthể lựa chọn nội dung kiến thức xây dựng thành nhiều chủ đề dạy học

Trong khuôn khổ của sáng kiến, phạm vị hẹp nên tôi đi giới thiệu khái quát

nội dung hai chủ đề cụ thể: Chủ đề “Thắng lợi tiêu biểu trên mặt trận quân sự

của quân dân ta trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước” và chủ đề “Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm trong cuôc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước”

a) Chủ đề “Những thắng lợi quân sự tiêu biểu trong kháng chiến chống

Mĩ, cứu nước 1954 – 1975”

* Nội dung chủ đề

- Phong trào “Đồng khởi” - cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công

Sau hiệp định Giơnevơ lực lượng vũ trang của ta rút ra miền Bắc tập kết

Đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai âm mưu biến miền Nam Việt Nam thànhthuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự

Từ giữa 1955 sau khi xác lập được quyền lực ở miền Nam Việt Nam, NgôĐình Diệm đã phát động các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” vô cùng tàn bạotrên toàn miền Nam Chúng tổ chức hàng loạt các cuộc vây bắt, tàn sát, khủng

bố, bỏ tù những người kháng chiến cũ, những người đấu tranh đòi hiệp thương

Trang 9

tổng tuyển cử và cả những người không ăn cánh, gây ra các vụ thảm sát đẫmmáu giết hại đồng bào ta Hơn nửa triệu cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước

bị giết hại, giam cầm, phong trào đấu tranh của nhân dân bị đàn áp dã man Chỉtrong 4 năm (1955 - 1958), 9/10 cán bộ đảng viên bị bắt giết, tù đày, nhiềuhuyện không còn cơ sở đảng Mĩ - Diệm còn thực hiện chương trình “cải cáchđiền địa” nhằm cướp lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân thờikháng chiến chống Pháp, củng cố thế lực giai cấp địa chủ…

Thực tế với những chính sách này, địch đã tiến hành cuộc chiến tranh “đơnphương” chống lại nhân dân ta…

Trước hành động khủng bố điên cuồng của Mĩ - Diệm, phong trào đấutranh chính trị diễn ra sôi nổi, liên tục khắp miền Nam, lôi cuốn hàng triệungười, thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia, với nhiều hình thức đấutranh phong phú: hội thảo, mit tinh, biểu tình,… Phong trào đấu tranh của quầnchúng ngày càng diễn ra quyết liệt Để hỗ trợ các phong trào đấu tranh chính trị,các tổ chức và hình thức đấu tranh vũ trang ở mức độ thấp đã xuất hiện ở nhiềunơi Cơn bão táp cách mạng đang ấp ủ, phong trào cách mạng đang trên đà củng

cố cả về thế và lực, một số nơi quần chúng đã nổi dậy

Giữa lúc đó, tháng 1.1959 Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lầnthứ 15 xác định phương hướng cơ bản của cách mạng miền Nam là: khởi nghĩagiành chính quyền về tay nhân dân bằng con đường dựa vào lực lượng chính trịcủa quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thốngtrị của Mĩ - Diệm Dưới ánh sáng nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, phongtrào khởi nghĩa của quần chúng đã bùng nổ mạnh mẽ khăp miền Nam thành caotrào “Đồng khởi” vĩ đại

Ngày 17.1.1960 dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Bến Tre, nhân dân các xãĐịnh Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày đã nổi dậy đánh đồnbốt, diệt ác ôn, giải tán chính quyền địch, giành lấy quyền làm chủ thôn, xã Từ

3 xã điểm cuộc nổi dậy lan ra toàn huyện Mỏ Cày và toàn tỉnh Bến Tre Phongtrào “Đồng Khởi” như nước vỡ bờ nổ ra khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một sốnơi miền Trung Trung bộ

Phong trào “Đồng khởi” đã giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mớicủa Mĩ ở miền Nam, phá vỡ từng mảng hệ thống chính quyền địch ở nông thôn.Thời kì tạm ổn định của chính quyền địch chấm dứt, chúng chuyển sang thời kìkhủng hoảng triền miên Đồng khởi thắng lợi đánh dấu bước phát triển nhảy vọtcủa cách mạng miền Nam, từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công, từhình thức đấu tranh chính trị là chính có lực lượng vũ trang hỗ trợ, chuyển sangkết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự

Từ phong trào “Đồng khởi” Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ViệtNam ra đời Trong và sau “Đồng khởi”, lực lượng vũ trang cách mạng trưởngthành nhanh chóng Thắng lợi của phong trào đã chấm dứt thời kỳ ổn định tạmthời của chế độ thực dân kiểu mới của Mĩ ở miền Nam, mở ra thời kỳ khủnghoảng triền miên của chế độ Sài Gòn cho đến ngày sụp đổ hoàn toàn Cáchmạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công

Trang 10

- Những chiến thắng tiêu biểu đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ (1961 - 1965)

Thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” đã mở ra cục diện mới trong tiếntrình lịch sử chống Mĩ cứu nước của dân tộc Hệ thống chính quyền địch từtrung ương đến tỉnh, quận cùng lực lượng ngụy quân vẫn còn nguyên vẹn Vìvậy, sau thời gian hoảng loạn, địch quay lại đối phó quyết liệt với phong tràocách mạng miền Nam Đồng thời để đối phó với phong trào cách mạng trong đó

có phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ trên thế giới, sau khi

lên cầm quyền Kennơđi đã đề ra chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt”, đối với miền Nam Việt Nam Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

Chiến tranh đặc biệt là một hình thức chiến tranh thực dân kiểu mới, đượctiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn Mĩ, dựa vào

vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh Mĩ nhằm chống lại phong trào cáchmạng của nhân dân ta

Để tiến hành chiến tranh đặc biệt ở miền Nam, Mĩ đề ra kế hoạch Taylo mà nội dung chủ yếu là bình định miền Nam trong vòng 18 tháng bằngmột loạt các biện pháp: tăng cường lực lượng và khả năng cơ động của quânngụy trong các cuộc hành quân tiêu diệt lực lượng vũ trang giải phóng, tiến hànhdồn dân lập “Ấp chiến lược”

Xtalay-Ngày 2.1.1963 quân dân miền Nam giành được thắng lợi vang dội ở ẤpBắc – Mĩ Tho Trong trận này địch đã huy động 2000 quân với 30 máy bay, 13

xe thiết giáp M.113, 13 tàu các loại do 51 cố vấn Mĩ chỉ huy Quân ta đã bámtrụ, dựa vào làng chiến đấu đánh lui tất cả các đợt tiến công của địch, giết và làm

bị thương 450 tên, bắn rơi và bắn hỏng 8 máy bay trực thăng, bắn cháy 3 xeM.113

Chiến thắng Ấp Bắc đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cáchmạng miền Nam, mở đầu sự phá sản của chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xavận” của địch Chiến thắng Ấp Bắc báo hiệu sự khủng hoảng chiến thuật củađịch, đánh sụp lòng tin của quân ngụy vào vũ khí, trang bị Mĩ, chứng tỏ quândân miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh thắng Mĩ – Ngụy Sau chiến thắng

Ấp Bắc phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công” dấy lên khắp miềnNam

Đến đầu 1964 Mĩ thực hiện kế hoạch Giônxơn - Mác Namara để thay thế

kế hoạch Xtalay - Taylo đã phá sản, nhằm đẩy mạnh hơn nữa chiến tranh đặcbiệt, tăng cường vai trò của Mĩ trên chiến trường

Trên mặt trận quân sự, cuối 1964 quân dân Nam Bộ mở chiến dịch tiếncông Đông Xuân 1964 - 1965 với trận đánh mở màn vào ấp Bình Giã (Bà Rịa)ngày 2.12.1964 Qua gần 100 ngày chiến đấu liên tục, ta loại khỏi vòng chiếnđấu 1700 tên, bắt gần 300 tên, tịch thu và phá hủy nhiều phương tiện chiếntranh Đặc biệt trong chiến dịch này ta tiêu diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực ngụy, 1chi đoàn xe cơ giới, đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn và nhiều đơn vị khác Đây là lầnđầu tiên quân giải phóng tiêu diệt gọn từng đơn vị lớn của địch

Trang 11

Chiến thắng Bình Giã khẳng định sự phát triển mọi mặt của chiến tranhcách mạng miền Nam, đánh dấu sự phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”của Mĩ ở miền Nam.

- Những chiến thắng tiêu biểu đánh bại Chiến tranh cục bộ của Mĩ ở Miền Nam (1965 - 1968)

+ Chiến thắng Vạn Tường - Quảng Ngãi (1965)

Sau thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, để cứu vãn sự sụp đổcủa Ngụy quân Ngụy quyền, Mĩ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ởmiền Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc

Chiến tranh cục bộ là hình thức cao của chiến tranh thực dân kiểu mới,được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mĩ, quân chư hầu và quânngụy tay sai, trong đó quân Mĩ giữa vai trò quan trọng, ngày càng tăng lên về

số lượng và trang bị

Với “quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược trong bất kì hoàn cảnh nào”, ngày 26.5.1965 một đại đội quân giải phóng cùng các chiến sĩ đặc công đã tiêu diệt gọn 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mĩ ở núi Thành (Tam Kì - Quảng Nam) Đây là đòn cảnh cáo đầu tiên của quân dân ta đối với quân Mĩ xâm lược.

Vạn Tường- Quảng Ngãi 18/8/1965

Tiếp sau Núi Thành là chiến thắng Vạn Tường - Quảng Ngãi (8.1965) Saukhi phát hiện 1 trung đoàn chủ lực của ta đang đóng tại Vạn Tường, tướng MĩOétmôlen ra lệnh cho lính thủy đánh bộ Mĩ mở cuộc hành quân mang tên “Ánhsáng sao” đánh vào Vạn Tường nhằm tiêu diệt chủ lực của ta, gây uy thế cho quân

Mĩ Mờ sáng 18.8.1965 sau khi cho máy bay dội bom, địch tiến công vào Vạn

Trang 12

Tường Lực lượng địch sử dụng vào cuộc hành quân khoảng 9000 tên cùng 6 tàu

đổ bộ, 105 xe tăng, xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng, 70 máy bay chiến đấu Rõràng trong trận này, quân Mĩ hoàn toàn chủ động lựa chọn chiến trường tác chiếnhợp với sở trường để xuất quân

Vạn Tường là trận đầu tiên Mĩ trực tiếp chiến đấu với quy mô lớn trên chiếntrường miền Nam Việt Nam, sử dụng cả hải, lục, không quân nhưng đã bị quân dân

ta đánh đòn phủ đầu, chịu nhiều tổn thất nặng nề Cuộc hành quân “Ánh sáng sao”

bị đánh bại, 900 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu 22 xe tăng, xe bọc thép, 13 máybay lên thẳng bị tiêu diệt, lực lượng của ta an toàn rút khỏi Vạn Tường Vạn Tường

có thể được coi như “Ấp Bắc” với quân đội Mĩ Chiến thắng Vạn Tường đã chứngminh, quân dân ta hoàn toàn có khả năng đánh bại quân đội Mĩ trong điều kiệnchúng có ưu thế về binh khí, hỏa lực và sức cơ động Sau Vạn Tường, một làn sóng

“Tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” dâng cao trên khắp miền Nam

+ Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968

Sau những thất bại nặng nề ở Vạn Tường và 2 cuộc phản công mùa khô,đặt Mĩ đứng trước tình trạng bế tắc, những mực tiêu của cuộc chiến tranh đềukhông đạt được, số binh lính Mĩ thuơng vong ngày càng tăng, tinh thần và ý chíxâm lược giảm sút Lợi dụng tình hình trên quân dân ta mở cuộc tổng công kích

và nổi dậy trên toàn miền Nam Hướng tiến công chủ yếu là các đô thị nhằm tiêudiệt một bộ phận quan trọng quân viễn chinh Mĩ, đánh sập Ngụy quân ngụyquyền buộc Mĩ phải đàm phán rút quân về nước

Trải qua 3 đợt từ đêm giao thừa tết Mậu thân 1968 (31.1) đến 23.9 quândân ta đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 37 trong số 44 tỉnh, loại khỏi vòngchiến đấu 63 vạn tên Mĩ, ngụy và chư hầu, tịch thu và phá hủy nhiều phuơngtiện chiến tranh của địch

Tuy nhiên do lực lượng địch còn đông, cơ sở của chúng ở thành thị cònmạnh nên chúng nhanh chóng phản công lại Lực lượng của ta bị đẩy ra khỏithành phố và gặp không ít khó khăn Tuy nhiên tổng tiến công và nổi dậy đãgiáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ, làm lunglay quyết tâm xâm lược của chúng, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh.Sau đó tháng 11.1968 địch phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn không điều kiệnchiến tranh phá hoại miền Bắc, chịu ngồi đàm phán với ta ở Pari

- Cuộc tiến công chiến lược 1972 làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ

Ngày đăng: 06/06/2022, 19:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chiến tranh cục bộ là hình thức cao của chiến tranh thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mĩ, quân chư hầu và quân ngụy tay sai, trong đó quân Mĩ giữa vai trò quan trọng, ngày càng tăng lên về số lượng và trang bị - (SKKN 2022) Kinh nghiệm xây dựng chủ đề dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1954 -1975 cho học sinh 12 trường THPT Như Xuân II
hi ến tranh cục bộ là hình thức cao của chiến tranh thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mĩ, quân chư hầu và quân ngụy tay sai, trong đó quân Mĩ giữa vai trò quan trọng, ngày càng tăng lên về số lượng và trang bị (Trang 11)
Bảng kết quả thực nghiệm sáng kiến kinh nghiệm - (SKKN 2022) Kinh nghiệm xây dựng chủ đề dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1954 -1975 cho học sinh 12 trường THPT Như Xuân II
Bảng k ết quả thực nghiệm sáng kiến kinh nghiệm (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w