1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) bồi DƯỠNG NĂNG lực đọc HIỂU văn bản NGHỊ LUẬN CHO học SINH lớp 11, 12

25 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 85,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các phương pháp nghiên cứu sau:- Phương pháp tổng hợp tiếp thu lí thuyết: Tổng hợp các nghiên cứu về văn bản đọc hiểu, năng lực đọc hiểu,…để xây dựng hệ thống lí thuyết làm cơ sởcho vệc

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT BỈM SƠN

- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU

VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 11, 12.

Người thực hiện: Trịnh Thị Thanh Hải Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn SKKN thuộc lĩnh vực ( môn): Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2022

Trang 2

có lập luận mà trong nhiều văn bản khác như truyện, kịch, văn học sử cũng cónhiều yếu tố nghị luận Khi được rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản nghịluận, học sinh sẽ có một phương tiện hữu hiệu trong việc hội nhập thế giới hiệnđại Những văn bản tham luận, thuyết trình trong hội nghị, hội thảo; nhữngkiến nghị yêu cầu của người khác hay của chính mình; những chỉ thị nghịquyết cấp trên, những bài xã luận, chính luận,…nếu không phải là văn bản nghịluận thuần tuý thì cũng rất đậm đặc yếu tố nghị luận Mà nếu không có nănglực đọc - hiểu thì con người sẽ bị thua thiệt rất nhiều trong đời sống Chưa nóiđến việc con người luôn phải tranh luận, giải trình, thuyết phục, đàm phán,…nói cách khác là luôn phải dùng văn bản nghị luận Từ đó có thể thấy được tácdụng của đọc hiểu văn bản nghị luận không chỉ dừng ở đọc hiểu mà thông qua

đó góp phần bồi dưỡng năng lực tư duy logic, tư duy phản biện, thái độ quantâm đến cuộc sống, có nhận thức và hành động đúng

1.2 Năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh THPT nhìn chungcòn rất yếu Trong quá trình giảng dạy chúng tôi nhận thấy học sinh thườngmắc nhiều lỗi trong hoạt động đọc hiểu văn bản nghị luận Dù đã học xongchương trình, nhưng nhiều học sinh không phân biệt được văn bản nghị luận vớicác văn bản khác Việc bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho họcsinh chưa được quan tâm đúng mức và còn nhiều lúng túng Văn bản nghị luận

là loại văn bản có truyền thống lâu đời và có nhiều giá trị to lớn trong trường kìlịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Qua văn bản nghị luận chúng ta cóthể thấy rõ được đời sống tinh thần, ý chí khát vọng, nhận thức thẩm mĩ, quanniệm nghệ thuật văn chương của cả một dân tộc trong suốt tiến trình phát triểncủa lịch sử Tuy nhiên đã có một thời kì khá dài loại văn bản này gần như bị lãngquên và chưa được quan tâm đúng mức Trong chương trình Ngữ văn THPTtrước đây số lượng văn bản nghị luận rất ít ỏi, văn nghị luận được quan tâm đếnchủ yếu ở góc độ tạo lập văn bản Gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, sựđổi mới của Giáo dục thì nội dung, mục đích, phương pháp, chương trình dạyhọc Ngữ văn cũng có nhiều thay đổi Văn bản nghị luận được quan tâm hơn, sốlượng văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành đã đượctăng lên đáng kể Trong số các loại văn bản được giảng dạy trong chương trình,văn bản nghị luận văn học là loại văn bản có vai trò vô cùng quan trọng trong

Trang 3

việc hình thành kiến thức - kỹ năng của môn học Đây là loại văn bản có thểcung cấp, bổ trợ cho học sinh một lượng kiến thức khá lớn về lí luận văn học, vềvăn học lịch sử, về tác giả, tác phẩm văn học, đồng thời cũng có khả năng rất lớntrong việc rèn luyện cho học sinh tư duy logic, khái quát, tổng hợp Mặc dù vậy,hiện nay đa phần giáo viên và học sinh cũng vẫn chỉ quan tâm đến vấn đề tạo lậpvăn bản nghị luận văn học Vấn đề đọc hiểu văn bản nghị luận văn học vẫn còn

bị bỏ ngỏ Cả người dạy và người đọc đều chưa chú ý, chưa quan tâm đến vấn

đề này

Vì vậy, việc nghiên cứu cách thức tổ chức bồi dưỡng năng lực đọc hiểu vănbản nghị luận cho học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 11, 12 nói riêng làviệc cần thiết, rất có ý nghĩa, góp phần đổi mới căn bản và toàn diện việc dạy

học văn trong nhà trường hiện nay Đó cũng là lí do tôi chọn đề tài Bồi dưỡng

năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 11,12.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quá trình dạy học đọc hiểu các văn bản nghị luận ở lớp

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc giải quyết nhiệm vụ nghiêncứu của đề tài

- Đề xuất giải pháp bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho họcsinh lớp 11,12

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra khả năng thực thi và hiệu quả của cácgiải pháp được đề xuất

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, người viết SKKN dự kiến sẽ sử dụng

Trang 4

các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp tiếp thu lí thuyết: Tổng hợp các nghiên cứu về văn

bản đọc hiểu, năng lực đọc hiểu,…để xây dựng hệ thống lí thuyết làm cơ sởcho vệc đề xuất quy trình và phương pháp nâng cao năng lực đọc hiểu văn bảnnghị luận cho học sinh lớp 11,12 THPT

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn: Khảo sát thực tế dạy và học văn

bản nghị luận cho học sinh lớp 11,12 THPT để đánh giá ưu nhược điểm củaviệc dạy và học, từ đó xác định tầm quan trọng của đề tài, phương pháp xâydựng quy trình và phương pháp nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản nghị luậncho học sinh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối sánh phương pháp dạy học văn bản

nghị luận truyền thống và quy trình dạy và học văn bản nghị luận theo đề xuấtmới, để khẳng định, chứng minh tính đúng đắn của những kết luận trong đề tài

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: là tổ chức dạy và học trên lớp với

đối tượng học sinh cụ thể

5 Những điểm mới của SKKN.

Làm rõ được những biện pháp bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghịluận cho học sinh lớp 11,12:

- Bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận thông qua chuẩn bị bài

- Bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận trong quá trình lên lớp

- Bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận bằng các bài tập đọc hiểu

Trang 5

NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận

1.1 Văn bản nghị luận.

Hiện nay có khá nhiều khái niệm khác nhau về văn nghị luận Theo SGK

Ngữ văn 11 cơ bản, tập hai định nghĩa: “Nghị luận là một thể loại văn học đặc

biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức,…) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh…văn nghị luận tác động vào lí trí, nhận thức và cả tâm hồn người đọc, giúp họ hiểu rõ vấn đề đã nêu ra”

Xét ở góc độ thể loại văn học, văn nghị luận là thể văn trong đó tác giả sửdụng lập luận nhằm thuyết phục người khác nghe theo ý kiến, chủ trương, quanđiểm của mình từ đó mà có thái độ và hành động đúng đắn, thống nhất trongcuộc sống Xét ở góc độ phương thức biểu đạt, văn bản nghị luận là văn bản sửdụng phương thức lập luận là chủ yếu Như vậy nói đến văn nghị luận, người taphải nói đến luận đề, luận điểm, luận cứ và lập luận

Văn bản nghị luận thực chất là kiểu văn bản lí thuyết, văn bản trực tiếp nói

lí lẽ Nó là sản phẩm của tư duy logic, của lí trí sắc bén và tỉnh táo, nhằm trìnhbày tư tưởng, quan điểm của người viết một cách sáng rõ, mạch lạc Văn bảnnghị luận thuyết phục người đọc ở tính đúng đắn, khách quan, sắc bén của lậpluận Vì vậy đọc hiểu văn bản nghị luận phải thấy được sự sâu sắc của tưtưởng, sự dũng cảm của ý chí, sự mạnh mẽ kiên định của niềm tin và cái haytrong nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc sảo của tác giả Về hình thức ngôn ngữ,văn nghị luận không vì trực tiếp nói lí lẽ, không vì là sản phẩm của tư duy logic

mà khô khan, thiếu tính truyền cảm Ngôn ngữ trong văn nghị luận phải tạođược những lí lẽ, những dẫn chứng có sức thuyết phục… Bằng phương tiện đóvăn nghị luận đạt tới mục đích Do vậy ngôn từ phải chính xác Chính xác đếntừng cung bậc và sắc thái Tính truyền cảm cũng là một yếu tố quan trọng làm

nên sức thuyết phục đặc trưng của văn nghị luận Như Hịch tướng sĩ của Trần

Quốc Tuấn - áng văn nghị luận bất hủ, hùng hồn thuyết phục bậc nhất trong disản văn học cổ dân tộc ta với những đoạn “ngàn năm chưa dễ đã ai quên” như

sau: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt

đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu

Trang 6

cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.”

Văn nghị luận có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội của conngười Văn bản nghị luận là thể loại văn bản có thể phản ánh được rất nhiềuvấn đề trong đời sống xã hội, lịch sử, văn hoá, tư tưởng của con người vừa cóthể rèn luyện tư duy logic cho cả người tạo lập và người tiếp nhận

Tham khảo chương trình môn văn trong nhà trường phổ thông chúng tôinhận thấy văn bản nghị luận đã có lịch sử lâu đời trong sách giáo khoa từ trướcđến nay Với khuynh hướng khai thác tác phẩm văn học theo hướng xã hội học,những năm chiến tranh, văn nghị luận được đưa vào chương trình nhiều và ưutiên cho văn nghị luận xã hội

Sau năm 2000, VBNL được đọc hiểu trong Chương trình SGK Ngữ văntrung học gồm 30 VBNL Trong đó, cấp THCS là 14 VBNL (lớp 7 là 4/28 VBđọc hiểu, chiếm 14%; lớp 8 là 6/29 chiếm 21%; lớp 9 là 4/39 chiếm 10%); cấpTHPT gồm 13 VBNL với chương trình cơ bản (lớp 10 là 4/37 chiếm khoảng11%; lớp 11 là 5/42 chiếm 12%; lớp 12 là 4/32 chiếm 19%) và 16 VBNL vớichương trình nâng cao (lớp 10 là 4/52 chiếm 8%; lớp 11 là 6/51 chiếm 12%;lớp 12 là 6/37 chiếm 16%)

Trong chương trình Ngữ văn trung học hiện hành, văn bản nghị luận vừa làđối tượng của phân môn Văn học, số văn bản nghị luận chiếm từ 8% đến 21%trên tổng số văn bản được đưa vào phần đọc hiểu So với chương trình SGKđược chỉnh lí năm 2000, số lượng văn bản nghị luận trong chương trình SGKhiện hành tăng đáng kể ( với THPT từ 4 VBNL tăng lên 13 ( chương trình cơbản), 16 (chương trình nâng cao); ( với THCS tăng từ 2 văn bản nghị luận lên

14 văn bản nghị luận)

1.2 Năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận:

Hiện nay có nhiều tài liệu trình bày cách hiểu về năng lực:

- Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng làm được mọi việc (người

có năng lực), định nghĩa về năng lực và năng lực đọc hiểu đã thay đổi theo thờigian cùng với những thay đổi trong xã hội, kinh tế và văn hoá Khái niệm vềhọc tập, đặc biệt là khái niệm về học tập suốt đời (lifelong learning), đã mởrộng tri thức về năng lực đọc hiểu Năng lực không chỉ còn là một khả năng chỉ

có trong thời thơ ấu ở những năm đầu đi học Thay vào đó, năng lực được xemnhư miền mở rộng kiến thức, kỹ năng và chiến lược mà cá nhân xây dựng suốtđời ở nhiều ngữ cảnh khác nhau, thông qua sự tương tác với bạn bè và cộngđồng lớn hơn

- Định nghĩa về năng lưc đọc hiểu PISA như sau: Năng lực đọc hiểu là hiểu,

sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết, nhằm đạt được các mục tiêu

Trang 7

cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội.

Thuật ngữ “năng lực đọc hiểu” thiên về “đọc hiểu” bởi vì có khả năngtruyền tải một cách chính xác hơn tới đối tượng người đọc không phải là –chuyên gia những nội dung mà cuộc khảo sát sẽ đo lường “Đọc hiểu” thườngđược hiểu và giải mã đơn giản, hoặc thậm chí đọc to, trong khi mục đích củacuộc khảo sát này là nhằm đo lường cái gì đó rộng hơn và sâu hơn Năng lựcđọc hiểu bao gồm một loạt các cấu trúc lớn hơn về ngôn ngữ và văn bản, đếnkiến thức về thế giới

Chương trình Ngữ văn Việt Nam từ sau năm 2000 coi dạy học đọc hiểu vănbản là một nhiệm vụ trực tiếp và quan trọng nhất của việc dạy học văn trong

nhà trường “Dạy Ngữ Văn ở nhà trường trung học nhằm đào tạo năng lực

giao tiếp bằng ngôn ngữ, mà chủ yếu là năng lực đọc (nghe) hiểu và viết (nói) thông thạo, điều kiện không thể thiếu để mỗi con người thành đạt ở đời Để có năng lực ấy, bộ môn Ngữ văn chỉ có hai nhiệm vụ chủ yếu: một là dạy đọc hiểu văn bản và hai là dạy làm các kiểu VB thông dụng”[1,186] Mục tiêu mới trong

dạy học văn chính là dạy cho học sinh năng lực đọc, kĩ năng đọc để học sinh cóthể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ việc tiếp xúc với văn bản màtrực tiếp thể nghiệm các tư tưởng cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuậtngôn từ, cảm nhận được các giá trị văn học, hình thành cách đọc riêng có cátính Đây là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực cảm thụ

thẩm mĩ “Do đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách

hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ đề của học sinh”[1,243] Hình ảnh

thành và phát triển năng lực đọc cho HS có thể được xem là một chiến lượctrong đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay.[2,102]

Như vậy, để học sinh có năng lực đọc - hiểu văn bản, người học không thểtrong vai người học sinh truyền thống, chỉ biết vâng lời thầy, tất cả việc học chỉ

là nghe giảng, ghi chép, học thuộc, mà phải là một con người hiện đại: đọc chủđộng, tích cực, có phương pháp Chúng ta đang sống trong một xã hội, một thếgiới đầy biến động, luôn diễn ra những cuộc cạnh tranh khốc liệt Thời gianngồi trong ghế nhà trường, rèn luyện năng lực đọc - hiểu là giai đoạn chuẩn bịhành trang để hoà nhập vào thế giới hiện đại ấy

Khác với giảng văn nặng về hoạt động thuyết trình của người thầy, trongdạy học đọc hiểu văn bản, giáo viên không đọc hộ, hiểu thay, áp đặt cách hiểucho học sinh mà tổ chức và hướng dẫn cho học sinh tìm cách tiếp cận, giải mãvăn bản với tư cách một bạn đọc tích cực, một chủ thể tiếp nhận sáng tạo, có cátính

Mỗi thể loại văn bản yêu cầu những kĩ năng đặc thù khác nhau Tuy nhiên,

Trang 8

dù tiếp nhận bất cứ thể loại văn bản nào, chủ thể tiếp nhận cũng cần phải cócác kĩ năng chủ yếu sau đây:

+ Kĩ năng thông hiểu ngôn ngữ của văn bản

+ Kĩ năng nhận biết thể loại văn bản có định hướng hoạt động tiếp nhận+ Kĩ năng tái hiện nội dung và cách thức thể hiện của văn bản

+ Kĩ năng đánh giá ý nghĩa nội dung và đặc sắc nghệ thuật của văn bản+ Kĩ năng tự nhận thức

2 Thực trạng của việc dạy và học đọc hiểu văn bản nghị luận trong các nhà trường phổ thông

Việc đổi mới phương pháp dạy học đã được đề ra từ nhiều năm nay nhưngtrên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế Giáo viên chưa thật sự phát huy tính tíchcực của học sinh trong giờ dạy văn, học sinh chưa thấy được cái hay cái đẹpcủa tác phẩm văn chương, học sinh không có cơ hội được rèn luyện và nângcao kĩ năng, năng lực của môn học Bên cạnh đó sự phát triển mạnh mẽ củacông nghệ thông tin nhiều loại hình giải trí ra đời thu hút các em Các em đầu

tư thời gian, trí tuệ cho các môn tự nhiên nhiều hơn các môn xã hội Năng lựccảm thụ của học sinh còn hạn chế Đa phần các em không có sự tìm tòi tri thứcmới nhất là các loại văn bản có ý nghĩa thiết thực với đời sống, còn lúng túng,

bỡ ngỡ trước những tri thức rộng lớn của đời sống xã hội Người học chưa cónhu cầu tự thân bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể Điều

đó dẫn đến trình độ học văn của học sinh có mặt bằng tương đối thấp, khiến chogiáo viên gặp rất nhiều khó khăn khi dạy học đọc - hiểu văn bản nghị luận

Hiện nay vẫn còn cơ chế dạy học văn cũ với quan niệm dạy học chủ yếuhướng vào hoạt động của người thầy nên có rất nhiều giáo viên đã tiến hànhgiờ dạy như một giờ diễn thuyết, truyền thụ kiến thức theo kiểu một chiều, giáoviên giảng giải học sinh lắng nghe ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điềugiáo viên đã truyền đạt Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức tới học sinh, ápđặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách nghĩ của mình tới học sinh Thậm chí

có những giờ giảng giáo viên còn đọc chậm cho học sinh chép lại những gì đã

có sẵn trong giáo án Những việc làm đó đã làm thui chột tính chủ động, tíchcực, sáng tạo của người học, biến các em thành những “cỗ máy” chỉ hoạt độngtheo nguyên tắc có sẵn Những điều đó tất yếu dẫn đến tình trạng học sinh chán

học văn: “Năm 1980 tại một Hội nghị giảng văn, Vụ Giáo dục phổ thông cấp

III đã công bố một số liệu điều tra cho thấy trên 80% số học sinh được hỏi ý kiến đã trả lời là không thích học văn và trên 7% khảo sát thuộc loại kém

“văn” (Đỗ Kim Hồi - Nghĩ từ công việc dạy văn, nhà xuất bản giáo dục Hà

Nội, 1988, trang 181)

Trang 9

Do tồn tại lâu đời cơ chế dạy học văn cũ, nhưng đến khi thay đổi thìchương trình, sách giáo khoa chỉnh lí hợp nhất năm 2000 vẫn bộc lộ nhiều hạnchế, mang tính hàn lâm, quá tải, chỉ chú trọng đến các dạng văn bản nghệ thuật

mà thiếu quan tâm đến văn bản nghị luận Chính điều đó đã tạo nên một suynghĩ, một cách đánh giá không đúng đắn về văn bản nghị luận ở cả giáo viên

và học sinh

3 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 11,12.

3.1 Bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận thông qua chuẩn bị bài

Dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh phải được thực hiệnqua nhiều bước, nhiều khâu khác nhau trong quy trình dạy học, trong đó baogồm cả việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của cả giáo viên và học sinh ở tất cảcác môn học Với môn Văn, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong giờ họcphải được xem như là một nguyên tắc cơ bản, phải đưa nguyên tắc ấy vào mộtkhâu trong quá trình dạy học, trong giáo án của giáo viên qua từng tiết dạy Đổimới phương pháp dạy học Văn được thực hiện qua nhiều khâu, nhiều bước,nhiều thao tác Không khí, chất lượng học Văn của học sinh trước hết phải bắtđầu từ những tiết Đọc văn Muốn phát huy vai trò chủ thể - năng lực cảm thụvăn chương của học sinh thì giáo viên phải biết khơi gợi, tổ chức, dẫn dắt HStham gia tích cực, chủ động vào bài học Muốn vậy, chính các em phải có sựchuẩn bị bài trước một cách khoa học qua phương pháp hướng dẫn của giáoviên Sách giáo khoa Ngữ văn THPT có nhiều thay đổi, được biên soạn theohướng tinh giản và tích hợp Vì thế muốn học tốt ở trên lớp, tích cực hoạt độngtrong quá trình tiếp nhận, lĩnh hội tác phẩm thì đòi hỏi học sinh phải thực hiệntốt khâu chuẩn bị bài ở nhà, và chắc chắn một điều, nếu giờ Đọc văn nào mà có

sự chuẩn bị công phu ở cả thầy lẫn trò thì giờ học đó sẽ đạt kết quả khả quanhơn Tuy nhiên, một thực trạng khá phổ biến hiện nay là nhiều GV dạy Vănchưa thực sự chú trọng đến khâu hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà, hoặc cóthực hiện thì cũng mới chỉ ở hình thức tự phát, thiếu tính khoa học Về phiáhọc sinh, các em chưa xây dựng cho mình thói quen chuẩn bị bài kĩ trong nhậnthức và hành động Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao trithức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, để cóđược những giờ học tốt, người GV cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học.Chuẩn bị và thiết kế một giờ học cũng là hoạt động cần có những kĩ thuật riêng Đổi mới phương pháp dạy học là một trọng tâm của đổi mới giáo dụcTrung học phổ thông Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theoquyết định số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ giáodục và Đào tạo đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo

Trang 10

của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điềukiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợptác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Việc hướngdẫn HS giúp các em chuẩn bị bài tốt ở nhà trở thành một yêu cầu thiết thực cógiá trị to lớn trong tiến trình dạy học trên lớp của giáo viên và học sinh, giúphọc sinh chủ động, tích cực trong quá trình học tập Việc chuẩn bị bài ở nhà làmột nội dung nằm trong phương pháp tư học, mà tự học là phương pháp cốt lõitrong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Nếu rèn luyện cho người học cóđược phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho học sinh lòngham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ đượcnhân lên gấp bội Với môn Ngữ văn, hướng học sinh vào hoạt động, tổ chứccho HS chiếm lĩnh tác phẩm theo đúng quy luật sáng tạo và cảm thụ văn họcđược xem là một trong những vấn đề cơ bản có ý nghĩa phương pháp luậntrong đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay Đọc văn là một phân môntrong bộ môn Ngữ văn ở trường THPT bên cạnh hai phân môn khác là Làmvăn và Tiếng Việt Đây là phân môn quan trọng trong ba phân môn, trước đâygọi là giảng văn, nay thay bằng tên gọi Đọc văn Giờ Đọc văn là giờ mà dưới

sự hướng dẫn tổ chức của thầy, học sinh đọc và tìm hiểu văn bản Với tư cách

là một thao tác thì đọc văn được hiểu là đọc văn bản văn học để tìm hiểu vănbản Với yêu cầu đổi mới hiện nay, học sinh là chủ thể tiếp nhận, tích cực sángtạo trong các giờ Đọc văn Đã qua rồi kiểu dạy đơn thuần thầy giảng – trònghe, thầy đọc – trò chép, giáo viên đóng vai trò tổ chức, định hướng, điềukhiển quá trình tiếp nhận của học sinh Để phát huy năng lực tiếp nhận, hiệuquả giờ Đọc văn thì giáo viên linh hoạt sử dụng nhiều phương pháp, hình thức

tổ chức dạy học, và vì thế chuẩn bị bài ở nhà là việc làm không thể xem nhẹđối với người học văn hiện nay Tất nhiên, việc chuẩn bị như thế nào phụ thuộcrất nhiều vào sự hướng dẫn của giáo viên

Cấu trúc của bài đọc - hiểu văn bản trong sách giáo khoa là: Tên văn bản - Kếtquả cần đạt - Tiểu dẫn – Văn bản - Hướng dẫn học bài – Ghi nhớ - Luyện tập Sau mỗi văn bản bao giờ cũng có mục hướng dẫn học bài của sách giáokhoa Ngữ văn Tuỳ theo phạm vi nội dung, đặc điểm, tính chất của mỗi bàihọc, mỗi văn bản mà phần hướng dẫn học bài được biên soạn khác nhau Nhìnchung, các câu hỏi ở mục này thường được sắp xếp theo một hệ thống với cácmức độ khác nhau nhằm gợi ý, dẫn dắt, định hướng cho học sinh tìm hiểu vănbản và cách học bài Hệ thống các câu hỏi này không những là cách thức tìmhiểu văn bản mà còn bao hàm phương pháp kiểm tra, đánh giá người học.Người biên soạn sách giáo khoa sắp xếp câu hỏi hướng dẫn theo trình tự từ dễđến khó; từ từng phần, chi tiết, từ những phát hiện cụ thể đến tổng hợp kháiquát Chẳng hạn sách giáo khoa Ngữ văn 11- tập hai hướng dẫn đọc bài cho

Trang 11

văn bản Một thời đại trong thi ca (Trích Một thời đại trong thi ca của Hoài

Thanh) bằng hệ thống các câu hỏi như sau:

1 Theo tác giả, cái khó trong việc tìm ra tinh thần của thơ mới là gì?

Và tác giả đã nêu ra cách nhận diện như thế nào?

2 Điều cốt lõi mà thơ mới đưa đến cho thi đàn Việt Nam bấy giờ là gì?

3 Vì sao tác giả nói “chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó” lại “đáng thương” và… “tội nghiệp”?

Những câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa Ngữ Văn là nhữngđịnh hướng học sinh chuẩn bị bài, điều đó có nghĩa là các em bước đầu tìmhiểu tác phẩm theo cách hiểu của mình Câu hỏi trong phần hướng dẫn học bàinhìn chung được sắp xếp theo một hệ thống lôgic và hợp lý Tuy nhiên ở một

số bài các câu hỏi đưa ra có lúc yêu cầu quá cao hoặc chưa phù hợp với “tầmđón nhận” của học sinh Vì vậy, trách nhiệm của giáo viên là phải biết cách giacông lại sao cho câu hỏi phù hợp với đối tượng của mình

3.2 Bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận trong quá trình lên lớp.

* Quy trình đọc hiểu văn bản nghị luận

* Lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học

- Phương pháp gợi mở: Gợi mở là một phương pháp giáo viên thông qua hệ

thống câu hỏi và lời đáp để hình thành tri thức và kĩ năng tạo lập văn bản nghịluận cho học sinh Trong giờ đọc - hiểu văn bản nghị luận, khi sử dụng phươngpháp này, giáo viên thiết kế giờ dạy như một cuộc trao đổi sôi nổi, không mangtính áp đặt, thầy là người hướng dẫn và trò là người giải quyết vấn đề Phươngpháp gợi mở có ưu điểm nổi bật là kích thích mạnh mẽ tinh thần độc lập suynghĩ, tìm tòi của học sinh, thói quen giao tiếp xã hội được phát huy một cáchtích cực Đồng thời qua hệ thống câu hỏi gợi mở, giáo viên nắm bắt học sinhmột cách cụ thể Trong giờ đọc - hiểu văn bản nghị luận nếu vận dụng tốtphương pháp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành và pháttriển tư duy học sinh

+ Yêu cầu khi sử dụng phương pháp gợi mở: Giáo viên phải thiết kế được

Trang 12

hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung bài học đồng thời dự tính được nhữnghoạt động cần thiết trong giờ học Câu hỏi phải đảm bảo tính chính xác, ngắngọn, có tính hệ thống, phong phú về kiểu dạng và phải phù hợp với trình độtiếp nhận của học sinh Đặc biệt câu hỏi phải hướng vào xác định được hệthống luận điểm của văn bản, xem lập luận đã thuyết phục chưa, đồng thờihướng vào triển khai luận chứng và luận cứ của văn bản nghị luận.

Để giờ đọc - hiểu văn bản nghị luận thành công, nhất thiết phải xây dựngđược một hay những tình huống có vấn đề và được học sinh tiếp nhận một cách

có ý thức Muốn làm được điều đó trước hết giáo viên phải xây dựng được một

hệ thống câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề là loại câu hỏi mang tính chấttổng hợp, phức tạp về nội dung, nó vạch ra được mối liên hệ hữu cơ giữa nhữngyếu tố cụ thể, những vấn đề tổng hợp của văn bản đặc biệt là nó sát hợp với vănbản và khêu gợi hứng thú ở bản thân học sinh Khi nêu được câu hỏi nêu vấn đềđòi hỏi một nghệ thuật ở ngoài người giáo viên là dự tính được mọi khả năng cóthể xẩy ra được phương thức hoạt động tối ưu để học sinh tìm kiếm Giáo viênkhông chỉ có tài năng mà còn phải có năng lực sư phạm cần thiết

+ Thao tác thực hiện:

Thao tác 1: Thiết kế hệ thống câu hỏi vừa sức, phong phú và phù hợp với

nội dung văn bản Chẳng hạn khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản Mộtthời đại trong thi ca – Hoài Thanh, giáo viên có thể đưa ra hệ thống câu hỏi gợi

mở như sau: Hãy giải thích vì sao tác giả nói chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đối của

nó lại đáng thương và tội nghiệp? Kết cấu của văn bản, nội dung của mỗiđoạn? Như vậy có nghĩa là giáo viên đã hướng dẫn học sinh xác định hệ thốngluận điểm của văn bản

Thao tác 2: Tổ chức cho học sinh trả lời câu hỏi, xác định nội dung của văn

bản Giáo viên có thể gọi học sinh trả lời cho câu hỏi: vì sao tác giả nói chữ tôivới cái nghĩa tuyệt đối của nó lại đáng thương và tội nghiệp? Sau khi học sinhtrả lời, giáo viên có thể khái quát lại vấn đề bằng hình thức lập luận

Thao tác 3: Khái quát lại nội dung văn bản Giờ đọc hiểu cứ thế diễn ra qua

sự hỏi đáp trao đổi của giáo viên và học sinh, từ đó giáo viên tổng hợp thành

nội dung bài học qua hàng loạt các vấn đề tìm hiểu Ví dụ văn bản Một thời đại

trong thi ca về cơ bản có 4 hệ thống luận điểm lớn:

1 Con đường tìm “tinh thần thơ mới”.

2 Tinh thần thơ mới gồm lại trong chữ “tôi”, tinh thần thơ cũ gồm lại trong chữ “ta”.

3 Sự vận động của thơ mới xung quanh “cái tôi” và bi kịch của nó.

Ngày đăng: 06/06/2022, 19:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w