SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THCS & THPT THỐNG NHẤT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ TRONG MÔN NGỮ VĂN 12 NHẰM PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THCS & THPT THỐNG NHẤT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ TRONG MÔN NGỮ VĂN 12 NHẰM PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH TRƯỜNG
THCS & THPT THỐNG NHẤT
Người thực hiện: Cao Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn
THANH HÓA NĂM 2022
Trang 3MỤC LỤC
1 MỞ
ĐẦU 1
1.1 Lí do chọn đề tài……… 1
1.2 Mục đích nghiên cứu……… 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 3
2 NỘI DUNG 4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.2 Thực trạng của vấn đề 5
2.3 Các giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề 6
2.3.1 Trang bị kiến thức về kiểm tra đánh giá và công cụ đánh giá cho bản thân giáo viên và học sinh 6
2.3.2 Đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh 7
2.3.3 Sử dụng Thang đánh giá (Thang đo) 11
2.3.4 Sử dụng bảng kiểm 13
2.3.5 Sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chí (Rubrics) 15
2.4 Giáo án minh họa việc sử dụng công cụ đánh giá trong 1 bài học cụ thể 18
2.5 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20
3.1 Kết luận 20
3.2 Kiến nghị
Trang 41 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu chung của nền giáo dục nước ta là: “Nâng cao dân trí, đào tạo
nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” để phục vụ đất nước trong thời đại mới.
Giáo dục phải đào tạo ra những con người không những có kiến thức mà cònphải giàu phẩm chất, năng lực, trí tuệ Xuất phát từ yêu cầu đó, năm 2018 BộGiáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra sựcần thiết phải đổi mới về chương trình các môn ở các cấp học để phát huy phẩmchất, năng lực học sinh
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn cấp THPT xác định mụctiêu giúp học sinh phát triển năng lực phẩm chất góp phần giáo dục tinh thần dântộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa vănhóa nhân loại, các phẩm chất, năng lực của người công dân Việt Nam, công dântoàn cầu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; giúp học sinh nhận thức vànhận thức rõ vai trò, đặc điểm của môn Ngữ văn cũng như sự kết nối giữa vănhọc với ngành nghề khác, tạo cơ sở để học sinh định hướng nghề nghiệp trongtương lai Bên cạnh việc đổi mới phương pháp dạy học thì đổi mới kiểm trađánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh là nhiệm vụ cần đượcchúng ta chú ý, quan tâm và hướng tới Nó vừa mang tính thời sự vừa mang tínhthực tiễn cao
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn cấp THPT xác định bốnphương pháp cơ bản để đánh giá kết quả học tập của học sinh là: phương phápviết, phương pháp quan sát, phương pháp hỏi-đáp và phương pháp đánh giá hồ
sơ học tập của học sinh Đặc biệt, theo hướng dẫn của công văn GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc xây dựng và tổ chức thực hiện Kếhoạch giáo dục của nhà trường và Thông tư 26/BGDĐT ngày 26 tháng 8 năm
5512/BGDĐT-2020 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại họcsinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông
tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo thì việc đánh giá sản phẩm học tập của học sinh là vô cùng quantrọng Tuy nhiên, do mới tiếp cận nên đa số giáo viên còn lúng túng trong việc
áp dụng Hiện tại phương pháp đánh giá sản phẩm học tập của của học sinh mônNgữ văn còn nhiều bất hợp lý, cần thay đổi Sản phẩm học tập của học sinh đơnđiệu chưa đa dạng, phong phú; phương pháp đánh giá đơn điệu chủ yếu là đánhgiá kiến thức, công cụ đánh giá chưa cụ thể; chủ yếu là giáo viên đánh giá nênchưa phát huy được năng lực và phẩm chất của học sinh
Theo các nhà tâm lí học thì học sinh THPT là lứa tuổi mà trí tuệ, thể chất,tình cảm, nhân cách đang phát triển nhanh Ở lứa tuổi này năng lực tư duy,năng lực tưởng tượng và các khả năng khác phát triển nhanh chóng Việc hướngdẫn học sinh tạo ra các sản phẩm học tập Ngữ văn phù hợp với các thang đánhgiá của giáo viên sẽ giúp học sinh phát huy được những ưu điểm của mình: pháttriển tư duy độc lập, tư duy logic, khả năng sáng tạo, khả năng khái quáthóa Nhưng trong thực tế, có rất ít giáo viên quan tâm tới việc rèn luyện, pháttriển năng lực cho học sinh mà chỉ đơn thuần là dạy và kiểm tra kiến thức líthuyết Điều đó khiến các em trở nên thụ động tiếp thu tri thức bài học và gượng
Trang 5ép trả lời câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn và nhanh mệt mỏi, không cóhứng thú với môn học.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn sáng kiến: “Một số giải pháp sử
dụng công cụ đánh giá trong môn Ngữ văn lớp 12 nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Trường THCS&THPT Thống Nhất” để nghiên cứu.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Một số vấn đề lí thuyết về dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát
triển phẩm chất, năng lực học sinh; lí thuyết xây dựng bộ công cụ đánh giá
- Bộ công cụ đánh giá trong môn Ngữ văn lớp 12
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp khảo sát- điều tra
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thực nghiệm
Những phương pháp đó không phải được sử dụng một cách độc lập, mà trongquá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiêncứu để có thể đạt được hiệu quả cao nhất
1.5 Những điểm mới của sáng kiến
Sáng kiến có tính mới và sáng tạo trong việc vận dụng định hướngchương trình giáo dục phổ thông mới vào phần thực nghiệm sư phạm, áp dụngvào thực tế giảng dạy với học sinh đại trà (không phải trường chuyên, lớp chọn).Sáng kiến của tôi đã giải quyết được những vấn đề còn hạn chế trong việc kiểmtra đánh giá Ngữ văn như: Sản phẩm học tập của học sinh còn chưa đa dạng,phong phú; phương pháp đánh giá đơn điệu chủ yếu là đánh giá kiến thức bằngcâu hỏi, bài tập, bài kiểm tra Công cụ đánh giá chưa có tiêu chí cụ thể; chủ yếu
là giáo viên đánh giá nên chưa phát huy được năng lực và phẩm chất của họcsinh Qua một thời gian thực hiện, tôi đã thu được những hiệu quả nhất địnhtrong việc tiếp cận phương pháp kiểm tra đánh giá mới, giáo viên hiểu đượcquan điểm hiện đại, qui trình, nguyên tắc của KTĐG kết quả học tập, giáo dụctheo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS Lựa chọn và vận dụng được cáchình thức, phương pháp, kĩ thuật kiểm tra đánh giá phù hợp, lựa chọn được cáccông cụ KTĐG theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS trong dạy
Trang 6học Ngữ văn Đồng thời có thể xây dựng được kế hoạch và công cụ KTĐG phùhợp cho một chủ đề/bài học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS mônNgữ văn THPT Qua đánh giá tôi ghi nhận sự tiến bộ của HS, học sinh đã pháttriển được các phẩm chất, năng lực của mình, biết gắn kiến thức vào thực tiễnđời sống Đây có lẽ là điều mà phân môn Ngữ văn rất cần để thực hiện chươngtrình giáo dục phổ thông mới.
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận
Mục đích đánh giá kết quả giáo dục Ngữ văn là xác định mức độ đáp ứngcủa HS đối với yêu cầu cần đạt về kiến thức và năng lực Ngữ văn ở từng chủ đề,từng lớp học, từ đó điều chỉnh hoạt động dạy-học nhằm đạt mục tiêu của chươngtrình Hoạt động đánh giá phải khuyến khích được sự say mê học tập, tìm hiểu,khám phá các vấn đề Ngữ văn của HS, giúp HS có thêm sự tự tin, chủ động sángtạo trong học tập
Đánh giá là quá trình đưa ra nhận xét, kết luận về một đối tượng nào đódựa trên việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật, công cụ để thu thập thông tin
về đối tượng từ đó giúp giáo viên điều chỉnh cách dạy học sao cho phù hợp
Công cụ đánh giá trong giáo dục nói chung hay trong dạy học nói riêngđược hiểu là một phương pháp, phương tiện hay kĩ thuật được sử dụng trong quátrình đánh giá nhằm đạt được mục đích đánh giá Tính năng cơ bản của các công
cụ đánh giá là “thu thập thông tin” để cung cấp cho HS và GV trong quá trìnhđánh giá và tự đánh giá
Với những quan niệm trên, đánh giá kết quả học tập theo định hướng tiếpcận năng lực cần chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong nhữngtình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá năng lực được coi là bước phát triểncao hơn so với đánh giá kiến thức, kĩ năng Để chứng minh học sinh có năng lực
ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề trongtình huống mang tính thực tiễn Khi đó học sinh vừa phải vận dụng những kiếnthức, kĩ năng đã được học ở nhà trường, vừa sử dụng những kinh nghiệm củabản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộngđồng và xã hội) để giải quyết vấn đề của thực tiễn Như vậy, thông qua việchoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánhgiá được cả khả năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm củangười học Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chươngtrình giáo dục của từng môn học như đánh giá kiến thức, kĩ năng, bởi năng lực làtổng hóa, kết tinh kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạođức,… được hình thành từ nhiều môn học, lĩnh vực học tập khác nhau, và từ sựphát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người
Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lựccủa người học Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiếnthức, … sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực
Trang 7tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sángtạo.
Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy họcsang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là mộtphương pháp dạy học;
Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sửdụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độkhó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lý phântích, lý giải kết quả đánh giá
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
Tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung vàdạy học Ngữ văn nói riêng ở nhà trường phổ thông đã được chứng minh trongthực tiễn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang thực hiện nhiều giải pháp tíchcực để nâng cao chất lượng, mà khâu then chốt là không ngừng đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.Mối quan tâm đối với giáo viên Ngữ văn ở nhà trường phổ thông là làm thếnào để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả giáodục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập, định hướng phát triểnnăng lực, phẩm chất để học sinh có thể vận dụng vào thực tiễn, tạo ra nhữngsản phẩm ngữ văn cụ thể, có thái độ và cách ứng xử giao tiếp tích cực
Tôi đã tiến hành khảo sát đối với ba giáo viên dạy Ngữ văn trong trường
về việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh khối 12trường THCS&THPT Thống Nhất [Phụ lục 1] Kết quả thu được như sau:
Nội dung Số GV thực hiện Tỉ lệ học sinh được thực
Trang 8Thang đánh giá 1 < 5%
Đồng thời Tôi tiến hành khảo sát với 176 học sinh khối 12 về việc thựchiện và tham gia đánh giá sản phẩm học tập môn Ngữ văn [Phụ lục 2] Kết quảthu được như sau:
thực hiện
Tỷ lệ
1 Các sản phẩm học tập môn Ngữ văn đã được thực hiện
3 Quyền đánh giá cuối cùng về sản phẩm học tập
Qua các phiếu khảo sát trên Tôi nhận thấy thực trạng của vấn đề như sau:Sản phẩm học tập môn Ngữ văn còn đơn điệu, chưa đa dạng phong phú,chủ yếu là cho học sinh thực hành viết bài văn, đoạn văn, phiếu học tập Thithoảng có một vài bài thực hành yêu cầu một số cá nhân thực hiện để đánh giákết quả như vẽ sơ đồ, sơ đồ tư duy, vẽ tranh
Hình thức đánh giá còn đơn điệu: chủ yếu là viết, hỏi – đáp, còn thiên vềđánh giá kiến thức, chưa chú ý đến đánh giá năng lực Hầu như không có đánhgiá sản phẩm học tập hay hồ sơ học tập
Giáo viên đánh giá chưa đưa ra công cụ đánh giá cụ thể cho giáo viên và họcsinh Đối với những nội dung kiến thức lí thuyết thì có hướng dẫn chấm, thang điểm
rõ ràng, còn đối với những sản phẩm học tập thì đánh giá còn thiên về cảm tính
Học sinh chưa có nhiều cơ hội để đánh giá sản phẩm của mình và của cácbạn Trong khi đánh giá, học sinh cũng được nhận xét bài của bạn nhưng quyềnquyết định chủ yếu vẫn là giáo viên, phần nhiều là do giáo viên tự đánh giá
Với những thực trạng trên, học sinh chưa phát huy được phẩm chất, nănglực của mình qua quá trình học tập Vì thế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đổimới kiểm tra đánh giá và đổi mới giáo dục
2.3 Giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề
2.3.1 Trang bị kiến thức về kiểm tra đánh giá và công cụ đánh giá cho bản thân giáo viên và học sinh
Giải pháp trang bị cho giáo viên những kiến thức cơ bản về kiểm tra đánh
giá trong chương trình giáo dục phổ thông mới môn Ngữ Văn, đặc biệt là nhữnghình thức, phương pháp, công cụ kiểm tra đánh giá sản phẩm học tập của học
Trang 9sinh theo hướng đổi mới nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị
về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và sự tiến bộ của học sinh
để hướng dẫn hoạt động học tập Về nội dung đánh giá, bên cạnh đánh giá kiếnthức, cần tăng cường đánh giá các kĩ năng của học sinh Chú trọng đánh giá khảnăng vận dụng tri thức vào những tình huống cụ thể Đa dạng hóa các hình thứcđánh giá, tăng cường đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh bằng cáchình thức khác nhau Kết hợp việc đánh giá của giáo viên với tự đánh giá vàđánh giá lẫn nhau của học sinh Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hìnhthức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kì, trên cơ
sở đó tổng hợp kết quả đánh giá chung về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ củahọc sinh
Căn cứ vào những định hướng về đánh giá kết quả giáo dục trong chươngtrình 2018, ngày 26/8/2020, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại HS trunghọc ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT này 8/8/2011 Chươngtrình giáo dục phổ thông mới nhằm định hướng cho GV chuyển từ kiểm tra,đánh giá kiến thức, kĩ năng sang kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩmchất, năng lực HS, trong đó tập trung vào một số nội dung như: Kết hợp giữađánh giá bằng nhận xét và điểm số, trong đó đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ
về thái độ, hành vi, kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập theo hướng pháttriển phẩm chất, năng lực của HS trong quá trình học tập môn học Hình thứckiểm tra, đánh giá gồm: kiểm tra, đánh giá thường xuyên (đánh giá kết quả thựchiện các nhiệm vụ học tập theo chương trình môn học) và kiểm tra, đánh giáđịnh kì (đánh giá kết quả giáo dục HS sau một giai đoạn học tập, rèn luyện,nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS theo chương trìnhmôn học) vào giữa kì và cuối kì Trong đánh giá thường xuyên ngoài hình thứcvấn đáp, viết còn có thể đánh giá bằng bài thuyết trình và sản phẩm học tập
Tôi đưa nội dung này thành một chủ đề trong tiết học đầu tiên của lớp 12.Tôi hướng dẫn cụ thể cho học sinh về khái niệm sản phẩm học tập, các sản phẩmhọc tập môn Ngữ văn đối với học sinh lớp 12 gồm những gì? Yêu cầu của sảnphẩm học tập? Cách đánh giá sản phẩm và công cụ đánh giá? Chủ thể đánh giásản phẩm của học sinh? (Sẽ trình bày cụ thể trong các giải pháp sau) Đặc biệtquan trọng là Tôi đã phân chia đối tượng học sinh để định hướng cho các emphát triển năng lực của mình
Kết quả áp dụng: Đa số học sinh khối lớp 12 đều biết được quan điểm đổimới của chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn theo định hướng pháttriển năng lực, phẩm chất học sinh Hiểu được mục đích, yêu cầu và phươngpháp đánh giá cũng như công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh Tôi đã xácđịnh đối tượng học sinh để phác thảo sơ bộ về các sản phẩm học tập sẽ đánh giátrong năm học Tất cả các nội dung về mặt kiến thức cơ bản trên đây đã đượcnhóm giáo viên Ngữ văn trường tôi tập huấn, tìm hiểu, trao đổi và thống nhất đểthực hiện và cụ thể hóa bằng các giải pháp dưới đây
2.3.2 Đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh.
Thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh nhằm giúp giáo
Trang 10phổ thông mới Đồng thời nhằm phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của họcsinh Việc đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh sẽ giúp việc học Ngữvăn không còn nhàm chán mà trở nên hứng thú hơn với cả giáo viên và học sinh.
Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, sản phẩm học tập của họcsinh là các bài làm hoàn chỉnh, được học sinh thể hiện qua việc xây dựng, sángtạo, được thể hiện ở việc hoàn thành được công việc một cách hiệu quả
Tôi đã nghiên cứu kĩ chương trình Ngữ văn hiện hành và CTGDPT mới,khảo sát đối tượng học sinh lớp 12 tại lớp tôi dạy ngay từ đầu năm để xác địnhnăng lực, sở trường của học sinh thông qua GVCN các lớp [Phụ lục 3] Kết quảkhảo sát thu được như sau:
Kĩ năng viết tốt
Âm nhạc (hát/
múa )
Hội họa (vẽ, thiết kế )
Có khẳ năng CNTT
Dựa vào kết quả khảo sát trên Tôi nhận thấy: Hầu hết ở các lớp học sinhngoài năng lực chung đều có những học sinh có các năng khiếu riêng như âmnhạc, hội họa, thuyết trình Để các em phát huy được tối đa năng lực, sở trườngcủa mình, Tôi lấy đó làm cơ sở đầu tiên để phân chia sản phẩm học tập mônNgữ văn 12 ra làm ba nhóm chính:
* Sản phẩm viết bao gồm: bài tập, phiếu học tập, hình vẽ, sơ đồ tư duy,biểu đồ, lược đồ, báo cáo…
* Sản phẩm dự án, NCKH: video, bài thuyết trình…
Học sinh cần chăm chỉ, nhiệt tình, sáng tạo trong các hoạt động, tăngcường tính hợp tác khi làm các sản phẩm của một nhóm học sinh
Giáo viên cần có sự tham mưu tích cực với BGH nhà trường, PHHS trongviệc chủ động tạo điều kiện cho học sinh về thời gian, về phương tiện, cơ sở vậtchất để hoàn thành sản phẩm học tập được giao
Sáng kiến được áp dụng bắt đầu từ chương trình học kì I lớp 12 tại trườngTHCS &THPT Thống Nhất Tôi đã tiến hành như sau:
Thứ nhất, giáo viên bộ môn phổ biến tới học sinh về quy định kiểm trađánh giá đối với phân môn Ngữ văn 12 như sau: Ngữ văn 12 có 3 tiết/ tuần nên
Trang 11mỗi học sinh sẽ có 4 điểm kiểm tra thường xuyên và hai điểm kiểm tra định kìtrong một học kì Riêng điểm kiểm tra thường xuyên sẽ được kiểm tra dướinhiều hình thức khác nhau Cụ thể là kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết hoặc thựchành làm các sản phẩm học tập Riêng sản phẩm học tập sẽ có ba nhóm nhưtrên Còn kiểm tra định kì sẽ chia làm hai đợt: giữa kì và cuối kì Đa phần vẫn ápdụng hình thức kiểm tra viết theo quy định chung Vì thế, việc đa dạng hóa sảnphẩm học tập của học sinh tập trung chủ yếu ở kiểm tra đánh giá thường xuyêncho các em
Thứ hai, Tôi dự kiến tỉ lệ các hình thức kiểm tra đánh giá sản phẩm họctập của học sinh Riêng phần này thì linh hoạt theo từng lớp nhưng ở mức độchung toàn khối như sau: đánh giá kết quả qua kiểm tra vấn đáp (40%), qua sảnphẩm viết (30%), sản phẩm thực hành (20%), sản phẩm là dự án, NCKH (10%)
Thứ ba: nghiên cứu chương trình Ngữ văn 12 để xác định những đơn vịkiến thức có thể áp dụng cho học sinh làm sản phẩm học tập theo ba nhóm trên
- Đối với sản phẩm viết bao gồm: bài tập, phiếu học tập, hình vẽ, sơ đồ
tư duy, biểu đồ, lược đồ, báo cáo… Tôi áp dụng với những đơn vị kiến thức líthuyết cần khái quát, tóm lược để học sinh dễ quan sát, dễ nhớ, dễ học nà nhữngbài tập nhỏ ở cuối mỗi bài học
Khi hướng dẫn học sinh tự học bài mới, tôi thường hướng dẫn HS hoànthành phiếu học tập, các câu hỏi có vấn đề, sơ đồ tư duy, biểu đồ, bài thuyếttrình, dự án học tập và các hình thức sáng tạo (vẽ + sơ đồ + thuyết trình) Tôithường áp dụng với những đơn vị kiến thức lí thuyết cần khái quát, tóm lược đểhọc sinh dễ quan sát, dễ nhớ, dễ học và những bài tập nhỏ ở cuối mỗi bài học
Với các sản phẩm là phiếu học tập GV nên sử dụng trong phần hìnhthành kiến thức để học sinh tích cực và hiểu bài hơn
Ví dụ 1: GV hướng dẫn học sinh phân tích hình tượng Sông Đà hung bạo,dữ dội trong văn bản: Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân Sử dụng
phương pháp thảo luận nhóm
- GV giới thiệu về lai lịch của sông Đà
- Tính chất hung bạo của con sông Đà được biểu hiện ở khía cạnh nào?
GV chia lớp thành 4 nhóm thảo luận thảo luận điền vào phiếu học tập
Trang 12Ví dụ 2: Khi tổ chức hoạt động Củng cố sau khi học xong văn bản Tây
Tiến của Quang Dũng giáo viên tiến hành như sau:
Bước 1: Yêu cầu học sinh lập Sơ đồ tư duy theo nhóm (4 thành viên/nhóm) trình bày kiến thức trọng tâm của văn bản Tây Tiến trên khổ giấy A1
Bước 2: HS thực hiện vẽ sơ đồ tư duy trên lớp
Bước 3: Các nhóm học sinh lên trình bày Sơ đồ tư duy đã thiết lập các nhómhọc sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện Sơ đồ tư duy về văn bản
Bước 4: Giáo viên chuẩn kiến thức của bài học thông qua Sơ đồ tư duy
mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn Nhận xét và đánh giá qúa trình thực hiện nhiệm
vụ của học sinh
- Đối với sản phẩm học tập là dự án, NCKH: video, bài thuyết trình…thì
đòi hỏi công phu hơn Tôi thường lựa chọn những bài mang tính thực hiễn địa
phương hay liên quan đến chương trình Ngữ văn địa phương để học sinh nghiên cứu
Chẳng hạn với học sinh Khối 12, một dự án mà học sinh trường tôi đã lựa
chọn và thấy khá hứng thú khi đánh giá sản phẩm học tập là dự án: “Văn học và
người lính” Dự án “Văn học và người lính” hướng tới cung cấp, bồi dưỡng cho
học sinh kiến thức, thái độ, cách nhìn nhận đúng đắn về những người lính cụ Hồthông qua các tác phẩm văn học viết về đề tài chiến tranh, đề tài người lính đãđược học trong chương trình phổ thông Đồng thời giáo dục học sinh biết trântrọng những giá trị tinh thần và vật chất mà người đi trước để lại, đề phòng trước
sự lôi kéo, dụ dỗ của các tổ chức phản động chống chính phủ Phấn đấu tronghọc tập, rèn luyện và bảo vệ tổ quốc
Với dự án này, sau khi lên ý tưởng, Tôi giao nhiệm vụ cho 2 lớp 12A1,12A4 thực hiện Mỗi lớp chia thành 4 nhóm nhỏ, các nhóm tiến hành thảo luậnnhiệm vụ của nhóm mình và lên kế hoạch thực hiện dự án, đồng thời phân côngcông việc cho từng thành viên Dự án sẽ trình bày trên file Power Point gồm cácgiai đoạn lịch sử gắn với chiến tranh và các tác phẩm văn học về người línhcùng hình ảnh minh họa có phần thuyết trình trực tiếp hoặc thiết kế video kèmthuyết trình Không khí làm việc để hoàn thành dự án diễn ra khẩn trương, sôinổi ở các nhóm, các lớp Khi học sinh báo cáo dự án xong, tôi cùng học sinh tiếnhành chia sẻ, đánh giá, rút kinh nghiệm Những việc làm được và chưa làm được
ở các nhóm, các lớp khiến tôi và các em đều phải suy ngẫm để có thể làm tốthơn ở những dự án tiếp theo Thông qua việc học theo dự án, cách học môn Ngữvăn đã có sự thay đổi tích cực: các em được chủ động trong việc học tập, được
tự mình tìm hiểu, nghiên cứu sưu tầm tài liệu, được chia sẻ thông tin, được hợptác cùng nhau làm việc, được trình bày một vấn đề trước mọi người Tôi đánhgiá cao năng lực tìm tòi, sáng tạo, năng lực hợp tác, giao tiếp của các em trongquá trình thực hiện nhiệm vụ Và thực sự đây là sản phẩm mà học sinh phát huyđược tổng hợp các năng lực, phẩm chất mà người học cần có theo yêu cầu củaChương trình GDPT mới
- Đối với sản phẩm thực hành: Gv cho Hs thực hành sáng tạo các cuốn
tranh vẽ minh họa các tác phẩm văn học
Chẳng hạn khi dạy chương trình Ngữ văn 12 kì 2, tôi đã chia mỗi lớpthành ba nhóm để làm các bộ tranh này
Trang 13Nhóm 1 Tranh minh họa tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài
Nhóm 2: Tranh minh họa tác phẩm Vợ nhặt – Kim Lân
Nhóm 3 Tranh minh họa tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh
Châu
Mỗi nhóm làm một tập tranh truyện theo phân công với tiêu chí: tậptranh trên khổ giấy A4, có các hình vẽ minh họa phù hợp, đầy đủ nội dung,trình bày khoa học, sáng tạo, là sản phẩm chung của sự hợp tác các thành viên.Sau đó các nhóm sẽ trình bày trong tiết học để các bạn học sinh và cô giáođánh giá sản phẩm và sau đó lưu vào bộ sưu tập tài liệu Ngữ văn hay tập santrong thư viện trường hoặc lưu tại phòng thiết bị làm tư liệu dạy học cho cácnăm sau
Việc đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh nhằm phát huy đượctính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập Thông qua việc sử dụng cáccông cụ đánh giá sản phẩm của học sinh cũng như kiểm tra sẽ đánh giá kết quảhọc tập Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh
2.3.3 Sử dụng Thang đánh giá (Thang đo)
Thang đánh giá là công cụ đo lường mức độ mà HS đạt được ở mỗi đặcđiểm, hành vi về khía cạnh/lĩnh vực cụ thể nào đó Có 3 hình thức biểu hiện cơbản của thang đánh giá là thang dạng số, thang dạng đồ thị và thang dạng mô tả
- Thang đánh giá dạng số: là hình thức đơn giản nhất của thang đánh giátrong đó mỗi con số tương ứng với một mức độ thực hiện hay mức độ đạt đượccủa sản phẩm Khi sử dụng, người đánh giá đánh dấu hoặc khoanh tròn vào mộtcon số chỉ mức độ biểu hiện mà HS đạt được Thông thường, mỗi con số chỉmức độ được mô tả ngắn gọn bằng lời
Ví dụ: Hãy khoanh tròn vào con số thể hiện mức độ diễn đạt ngôn ngữ
của HS trong quá trình thuyết trình (trong đó 1 – không bao giờ; 2 – hiếm khi; 3– thỉnh thoảng; 4 – thường xuyên; 5 – luôn luôn)
- Thang dạng đồ thị mô tả các mức độ biểu hiện của đặc điểm, hành vitheo một trục đường thẳng Một hệ thống các mức độ được xác định ở nhữngđiểm nhất định trên đoạn thẳng và người đánh giá sẽ đánh dấu (X) vào điểm bất
kì thể hiện mức độ trên đoạn thẳng đó Với mỗi điểm cũng có những lời mô tảmức độ một cách ngắn gọn
Ví dụ: HS tham gia vào các hoạt động chung của lớp thế nào?
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên Rất thường xuyên
- Thang mô tả là hình thức phổ biến nhất, được sử dụng nhiều nhất củathang đánh giá, trong đó mỗi đặc điểm, hành vi được mô tả một cách chi tiết, rõràng, cụ thể ở mỗi mức độ khác nhau Hình thức này yêu cầu người đánh giáchọn một trong số những mô tả phù hợp nhất với hành vi, sản phẩm của HS
Cách thức thiết kế thang đánh giá bao gồm những bước sau:
Xác định tiêu chí (đặc điểm, hành vi ) quan trọng cần đánh giá trongnhững hoạt động, sản phẩm hoặc phẩm chất cụ thể
Trang 14Lựa chọn hình thức thể hiện của thang đánh giá dưới dạng số, dạng đồ thịhay dạng mô tả.
Với mỗi tiêu chí, xác định số lượng mức độ đo cho phù hợp (có thể từ 3đến 5 mức độ) Lưu ý là không nên quá nhiều mức độ, vì người đánh giá sẽ khóphân biệt rạch ròi các mức độ với nhau
Giải thích mức độ hoặc mô tả các mức độ của thang đánh giá một cách rõràng, sao cho các mức độ đó có thể quan sát được
Ví dụ: Khi đánh giá sản phẩm học tập của học sinh là sơ đồ tư duy Tôi
sử dụng công cụ là thang đo (thang đánh giá) như sau:
TỐI ĐA
ĐIỂM HSCHẤM
Nội dung (6 điểm)
1 Đảm bảo đầy đủ các ý chính của vấn đề 2
1 Tạo hình cho nhánh chính, phụ cân đối, hài
hòa, phù hợp với nội dung khổ giấy
Ví dụ: Khi tóm tắt các văn bản Truyện: Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ… Tôi
thường sử dụng thang đánh giá để đánh giá các mức độ đạt được của học sinh nhưsau:
THANG ĐÁNH GIÁ BẢN TÓM TẮT VĂN BẢN
1 Bản tóm tắt trung thành với văn bản gốc
2 Bản tóm tắt ngắn gọn
Trang 15Bản tóm tắt làm rõ các hành động, lời nói,
tâm trạng của nhân vật theo diễn biến cốt
truyện
4 Bản tóm tắt đảm bảo yêu cầu về tính liênkết của văn bản
5 Bản tóm tắt đảm bảo yêu cầu về sử dụngtừ ngữ
6 Bản tóm tắt đảm bảo yêu cầu về ngữ pháp
7 Bản tóm tắt đảm bảo yêu cầu về chính tả
Qua kết quả trên giúp tôi đánh giá được ý thức học tập và năng lực củacác em khi chuẩn bị bài học Thang đánh giá phản ánh năng lực chung như hợptác và giao tiếp, năng lực tự chủ và tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề vànăng lực đặc thù: năng lực ngôn ngữa và năng lực văn học (Sử dụng các công cụNgữ văn) Thang đánh giá giúp cung cấp thông tin phản hồi cụ thể về nhữngđiểm mạnh và điểm yếu của mỗi bài làm của HS để giúp Tôi biết cách điềuchỉnh việc học hiệu quả hơn Nếu lưu giữ bản sao chép thang đánh giá qua một
số bài tập/nhiệm vụ khác nhau ở những thời điểm khác nhau, sẽ có một hồ sơ đểgiúp theo dõi và đánh giá tiến bộ của mỗi HS Vì thế Tôi đã sử dụng thang đánhgiá cho rất nhiều sản phẩm học tập của học sinh
2.3.4 Sử dụng bảng kiểm
Bảng kiểm là một danh sách ghi lại các tiêu chí (về các hành vi, các đặcđiểm… mong đợi) có được biểu hiện hoặc được thực hiện hay không Với mộtdanh sách các tiêu chí đã xây dựng sẵn, GV sẽ sử dụng bảng kiểm để quyết địnhxem những hành vi hoặc những đặc điểm của sản phẩm mà HS thực hiện cókhớp với từng tiêu chí có trong bảng kiểm không
GV có thể tiến hành thiết kế bảng kiểm dùng để đánh giá HS theo nhữngbước sau:
- Phân tích yêu cầu cần đạt của bài học, chủ đề và xác định các kiến thức,
kĩ năng HS cần đạt được
- Phân chia những quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc sản phẩm của HSthành những yếu tố cấu thành và xác định những hành vi, đặc điểm mong đợicăn cứ vào yêu cầu cần đạt ở trên
- Trình bày các hành vi, đặc điểm mong đợi đó theo một trình tự để theodõi và kiểm tra
Trong dạy học Ngữ Văn, bảng kiểm là một công cụ đánh giá hữu ích, cóthể sử dụng để kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc sản phẩmhọc tập của HS Điều quan trọng là cần phải xác định các yếu tố cấu thành củaquá trình thực hiện các nhiệm vụ trong các hoạt động học hay tiêu chí của sảnphẩm học tập Ngữ văn của HS, từ đó cụ thể hoá thành những hành vi, đặc điểmmong đợi căn cứ vào yêu cầu cần đạt của bài học
ST
T
Trang 161
2
Tôi sử dụng bảng kiểm để đánh giá các hành vi hoặc các sản phẩm mà
HS thực hiện như: các thao tác tiến hành khi khám phá kiến thức, thực hành, vậndụng; kĩ năng tự học khi thực hiện yêu cầu chuẩn bị nội dung bài học, tìm tòi
mở rộng; kĩ năng giao tiếp và hợp tác khi tổ chức cho HS làm việc nhóm
Ví dụ: Tìm hiểu đề tài, sự kiện, chi tiết tiêu biểu, không gian, thời gian
trong tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân), SGK Ngữ văn 12, Tập 2, NXBGD, 2011,tr.23-32:
Đề tài/Sự kiện/Chi tiết
Đánh giá vai trò củacác yếu tố trong việcthể hiện nội dung tưtưởng tác phẩm
Thời gian (Khi nào, sự vận động thời gian )
Bảng kiểm đánh giá bảng tìm hiểu đề tài, sự kiện, chi tiết tiêu biểu,
không gian, thời gian của truyện ngắn
STT TIÊU CHÍ XUẤT HIỆN XUẤT HIỆN KHÔNG
3 Liệt kê đầy đủ các sự kiện chính vào bảng(phiếu học tập).
4 Liệt kê 6-10 chi tiết quan trọng vào bảng(phiếu học tập).
5 Liệt kê đầy đủ các chi tiết tiêu biểu về thờigian vào bảng (phiếu học tập).
6 Liệt kê đầy đủ các chi tiết tiêu biểu vềkhông gian vào bảng (phiếu học tập).
7 Đề tài, sự kiện, chi tiết được trình bàyngắn gọn (từ/cụm từ/1-2 câu)
Trang 178 Đề tài, sự kiện, chi tiết đều được suy luận,đánh giá 9
Các suy luận, đánh giá tập trung làm rõ ý
nghĩa và vai trò của chúng trong việc thể
hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm
10 Các câu trả lời đảm bảo yêu cầu về sửdụng từ ngữ
11 Các câu trả lời đảm bảo yêu cầu về ngữpháp
12 Các câu trả lời đảm bảo yêu cầu về chínhtả
Kết quả thực hiện: Khi dùng bảng kiểm này đánh giá đối với các lớp12A1 và 12A4 tôi thu được kết quả như sau:
Tiêu chí 4 Xuất hiệnKhông xuất hiện 354 285 639
Qua việc đánh giá phiếu học tập của học sinh bằng công cụ bảng kiểm,Tôi đã đánh giá được tất cả năng lực chung của học sinh như: hợp tác và giaotiếp, tự chủ và tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề và năng lực đặc thù Qua cảbài thực hành Tôi nhận thấy học sinh cũng phát triển được phẩm chất: tráchnhiệm, trung thực, chăm chỉ và nhân ái
2.3.5 Sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chí (Rubrics)
Rubric chính là bảng thang điểm chi tiết mô tả đầy đủ các tiêu chí màngười học cần phải đạt được Nó là một công cụ đánh giá chính xác mức độ đạtchuẩn của HS và cung cấp thông tin phản hồi để HS tiến bộ không ngừng Mộttiêu chí tốt cần có những đặc trưng: Được phát biểu rõ ràng; Ngắn gọn; Quan sátđược; Mô tả hành vi; Được viết sao cho HS hiểu được Hơn nữa phải chắc chắnrằng mỗi tiêu chí là riêng biệt, đặc trưng cho dấu hiệu của bài kiểm tra
Quy trình thiết kế Rubric
- Bước 1: Xác định chuẩn kiến thức kĩ năng của kiến thức ở nội dung bài học
Trang 18- Bước 2: Xác định mục tiêu dạy học theo cấp độ nhận thức, nhiệm vụ côngviệc.
- Bước 3: Xác định các tiêu chí cùng HS:
+ Liệt kê các tiêu chí và thảo luận để lựa chọn, phân loại tiêu chí, từ đóxác định các tiêu chí cần thiết
+ Bổ sung thông tin cho từng tiêu chí
+ Phân chia các mức độ của mỗi tiêu chí Các mức độ phân bậc này cần
mô tả chính xác mức độ chất lượng tương ứng
+ Gắn điểm cho mỗi mức độ, điểm cao nhất ứng với mức cao nhất
+ Lập bảng Rubric
- Bước 4 Áp dụng thử HS thử nghiệm Rubric đối với các bài làm mẫu do GVcung cấp Phần thực hành này có thể gây sự tự tin ở HS bằng cách chỉ cho HScách GV sử dụng Rubric để đánh giá bài làm của các em thế nào Đồng thời nócũng thúc đẩy sự thống nhất giữa HS và GV về độ tin cậy của Rubric
- Bước 5: Điều chỉnh Rubric cho phù hợp dựa trên thông tin phản hồi từ việc ápdụng thử
- Bước 6: Sử dụng Rubric cho hoạt động dánh giá và tự đánh giá hoặc đánh giáđồng đẳng đối với HS và GV
Đối với các sản phẩm học tập cần đánh giá bằng công cụ Rubrics sẽ thiết
Ví dụ đề bài: Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
(Việt Bắc, Tố Hữu)
Khi đánh giá bài biết của các em tôi thường dựa vào Công cụ đánh giá là
phiếu đánh giá tiêu chí, cụ thể như sau:
- Tên công cụ: Phiếu đánh giá tiêu chí
- Mục đích sử dụng: phần viết bài ở nhà
- Thời điểm sử dụng: Trong giờ học
- Người đánh giá: Giáo viên - Học sinh
- Nội dung đánh giá: Đánh giá sản phẩm học tập
Trang 19- Nhiệm vụ: Viết bài văn nghị luận văn học
Tiêu chí
đánh giá
Mức độ Mức 3
(8-10 điểm)
Mức 2 (5 - 7 điểm)
Mức 1 (dưới 5 điểm)
Bố cục
Đầy đủ bố cục baphần của một bàivăn; phân chia cácđoạn hợp lí
Đầy đủ bố cục baphần của một bàivăn; chưa phân chiacác đoạn hợp lí
Không đảm bảo bốcục
Nội dung
cảm nhận
Đảm bảo các nét đặcsắc về nội dung vànghệ thuật chính củađoạn thơ (tác phẩm)
Chưa đầy đủ cácnét đặc sắc về nộidung và nghệ thuậtchính của đoạn thơ(tác phẩm) (khoảng
50 -70%)
Cảm nhận nội dung
và nghệ thuật chínhđoạn thơ (tác phẩm)còn sơ sài, khôngđảm bảo
Diễn đạt
Diễn đạt lưu loát,vốn từ phong phú, từngữ trong sáng, giàuhình ảnh
Diễn đạt chưa đượclưu loát, vốn từ cònhạn chế, còn mắclỗi dùng từ
Diễn đạt lủng củng,mắc nhiều lỗi dùng
từ, đặt câu
Chính tả Không mắc lỗi thông
thường
Mắc một vài lỗi thông thường (từ 1-
3 lỗi)
Mắc nhiều lỗi chính tả
Sáng tạo
Có sáng tạo về ý tưởng, cách viết, biết
so sánh liên hệ với các tác phẩm khác
Có sự sáng tạo trong khi cảm nhận,
đã biết liên hệ đôi chỗ còn vụng về, chưa hợp lí
Không sáng tạo trongviết bài, thiên về kể
lể, diễn xuôi thơ
Tôi áp dụng ở hai lớp mà mình giảng dạy, kết quả thu được như sau:
Tất cả các giải pháp nêu trên khi thực hiện đánh giá sản phẩm học tập củahọc sinh được Tôi xây dựng thành kế hoạch đánh giá đối với từng bài học Mỗigiáo viên ngoài định hướng phương pháp dạy là chủ yếu như trước đây, cầnquan tâm tới phương pháp đánh giá Việc có kế hoạch đánh giá rõ ràng, đặc biệt
Trang 20là đánh giá sản phẩm học tập của học sinh sẽ giúp cả giáo viên và học sinh có sựchủ động, tích cực trong việc tham gia các hoạc động dạy học
2.4 Giáo án minh họa xây dựng công cụ đánh giá cho 1 tiết học cụ thể
[Xem phần Phụ lục 4 ]
2.5 Hiệu quả của việc áp dụng các giải pháp của sáng kiến.
Qua một thời gian nghiên cứu và áp dụng các giải pháp sử dụng công cụđánh giá các sản phẩm học tập của học sinh môn Ngữ văn lớp 12 theo địnhhướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh, Tôi đã thu được những kết quả
cụ thể như sau:
Về phía học sinh: Các em đã tiếp cận khá nhanh với những hình thức
kiểm tra đánh giá của chương trình mới, phát huy được năng lực, sở trường bảnthân, hoàn thiện dần những phẩm chất vốn có Điều đó được thể hiện rõ quanhững đánh giá bằng nhận xét và điểm số thầy cô giành cho các em
Theo thống kê, từ tháng 9/2021 khi bắt đầu áp dụng sáng kiến, các giảipháp Tôi đưa ra đều có hiệu quả rõ rệt Cụ thể
Tỉ lệ học sinh các lớp tham gia làm sản phẩm học tập và kết quả đánh giá
dụng giải pháp
1 Các sản phẩm học tập môn Ngữ văn đã được thực hiện
Vẽ (sơ đồ tư duy, lược đồ,
3 Quyền đánh giá cuối cùng về sản phẩm học tập
Qua đó Tôi nhận thấy sự thay đổi tích cực về việc đa dạng hóa các sảnphẩm học tập cho học sinh, học sinh được tham gia thực hành nhiều hơn, kĩnăng cũng tốt hơn Vì thế, khi khảo sát lại về mức độ hứng thú với môn học thì
tỉ lệ học sinh yêu thích môn học tăng lên đáng kể:
Nội dung Khảo sát đầu năm
Trang 21Về phía giáo viên: có nhận thức rõ nét hơn về những điểm mới về kiểm
tra đánh giá trong chương trình GDPT 2018, chủ động tiếp cận, áp dụng nhữngthay đổi tích cực vào dạy học Các tiết dạy trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, đặcbiệt giáo viên đã chuyển giao nhiệm vụ để học sinh trở thành người tham giachính vào hoạt động học, giáo viên chỉ giữ vai trò kết nối và định hướng Khôngnhững thế, với khả năng sáng tạo không ngừng cùng những sản phẩm học sinhtạo ra, giáo viên càng có cơ hội để phát triển chuyên môn, nghiệp vụ của mình,đáp ứng được yêu cầu đổi mới Việc sử dụng các công cụ, phương pháp, hìnhthức kiểm tra đánh giá đã phong phú đã dạng hơn, đặc biệt là các sản phẩm họctập được chú ý nhiều hơn thay vì tập trung vào kiến thức Nội dung giảng dạyNgữ văn đã gắn liền với thực tiễn nhờ các sản phẩm học sinh tự nghiên cứu, tựsáng tạo gia phù hợp với năng lực sở trường của các em
- Từ những thay đổi về mặt số lượng cũng dẫn đến những biến chuyển vềchất lượng Khi áp dụng sáng kiến, chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn họcnăm học 2021-2022 của lớp 12a1 và 12a4 tôi được phân công giảng dạy cũngtăng lên rõ rệt so với năm học 2020-2021, cụ thể như sau:
Năm học 2020-2021 Năm học 2021-2022
Như vậy, việc đổi mới cách đánh giá và xây dựng được công cụ đánh giácho học sinh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành phẩm chất vànăng lực học sinh Qua một năm áp dụng sáng kiến Tôi đã thu được những kếtquả rất tốt, chất lượng dạy và học của cá nhân và của nhà trường nâng lên rõ rệt.Sáng kiến của Tôi xuất phát từ những cơ sở lí luận mang tính khoa học đã đượcxây dựng trước đó Điểm mới của sáng kiến chủ yếu nằm ở phần thực nghiệm sưphạm, áp dụng vào thực tế giảng dạy ở khối lớp học sinh đại trà (không phảitrường chuyên, lớp chọn) Với sáng kiến này giúp bản thân tôi chủ động hơn vìđược trang bị kiến thức cơ bản về kiểm tra đánh giá, đồng thời đã được áp dụngvào thực tế nên Tôi đã có những bài học kinh nghiệm trong quá trình áp dụng.Đối với bộ môn Ngữ văn , sáng kiến góp phần thay đổi cách nhìn của giáo viên,học sinh về vị trí vai trò của bộ môn đối với con người, xã hội
Trang 223.1 Kết luận
Sáng kiến “Một số giải pháp sử dụng công cụ đánh giá trong môn Ngữ
văn lớp 12 nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trường THCS
&THPT Thống Nhất” của Tôi đã giải quyết được những vấn đề còn hạn chế
trong việc kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn như: Sản phẩm học tập của học sinhcòn đơn điệu chưa đa dạng, phong phú; phương pháp đánh giá đơn điệu chủ yếu
là đánh giá kiến thức, công cụ đánh giá chưa cụ thể; chủ yếu là giáo viên đánhgiá nên chưa phát huy được năng lực và phẩm chất của học sinh Qua một thờigian thực hiện, Tôi đã thu được những hiệu quả nhất định Tôi cũng dựa vào kếtquả đánh giá để điều chỉnh, đổi mới phương pháp dạy học trong môn Ngữ văncho phù hợp Tôi nhận thấy chất lượng dạy học môn Ngữ văn của trường THCS
&THPT Thống Nhất tăng lên rõ rệt và học sinh ngày càng hứng thú hơn vớimôn học Sáng kiến đã được áp dụng trong tổ chuyên môn và được đồng nghiệpđánh giá cao về tính thiết thực và hiệu quả Nó có thể áp dụng cho cả đánh giásản phẩm học tập của môn Ngữ văn khối 10 và khối 11 đồng thời là tư liệu thamkhảo cho một số môn khoa học xã hội như Ngữ văn, Lịch Sử
3.2 Đề xuất, kiến nghị
Qua sáng kiến này tôi muốn khẳng định: Việc đưa ra các giải pháp sửdụng công cụ đánh giá sản phẩm học tập cho học sinh là vô cùng cần thiết Nókhông những góp phần phát triển năng lực của học sinh, nâng cao chất lượngdạy và học môn Ngữ văn mà còn góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng phẩmchất cho học sinh Từ kết quả đạt được bước đầu trong sáng kiến kinh nghiệm và
từ thực tiễn dạy học hiện nay, tôi xin phép được đề xuất một vài kiến nghị sau :
a Đối với học sinh:
- Học sinh phải có đủ tài liệu (sách giáo khoa, sách tham khảo,…) để
học tập, nghiên cứu môn học Học sinh phải ý thức được tầm quan trọng của
môn Ngữ văn đối với nghề nghiệp của bản thân, phải tích cực học tập để trang bịcác tri thức cần thiết cho công việc tương lai
b Đối với giáo viên:
- Bản thân giáo viên cần thường xuyên sinh hoạt chuyên môn hơn để traođổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong việc đánh giá sản phẩm Ngữ văn, đưa
ra yêu cầu của sản phẩm học tập, xây dựng các công cụ đánh giá cho từng sảnphẩm học tập của bộ môn
- Giáo viên phải chịu khó đầu tư thời gian, công sức, sắp xếp kế hoạch sửdụng công cụ kiểm tra đánh giá theo từng tiết học, từng bài học, từng phần phùhợp với nội dung và kiến thức cơ bản trong SGK
- Giáo viên cần đưa ra những yêu cầu, những tiêu chí đánh giá cụ thể đốivới học sinh trong quá trình dạy học
c Đối với Nhà trường phổ thông
- Nhà trường phổ thông phải thực sự quan tâm, tạo điều kiện, động viênkhuyến khích giao nhiệm vụ và giao trách nhiệm cho những giáo viên có đủtrình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ Tổ chức các buổi hội thảo, tập trungnhững giáo viên giỏi, có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề để chung tay chỉnh
lý và biên soạn thành hệ thống tài liệu cần thiết cho cả chương trình và kèm theo
Trang 23các phương pháp sử dụng công cụ kiểm tra đánh giá phù hợp cho từng bài, từngphần
- Tổ chuyên môn nên thành lập Câu lạc bộ “tôi yêu Ngữ văn ” để tập hợpcác em học sinh có năng khiếu và niềm đam mê môn học tham gia Các tổchuyên môn cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề sinh hoạt chuyên môn tạosân chơi bổ ích cho các em được phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực, đápứng yêu cầu đổi mới
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Vũ Văn Thành
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 05 năm 2022
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình,không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Cao Thị Huyền
Trang 24DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ GD&ĐT - Chương trình giáo dục phổ thông (tổng thể) và Chương trìnhmôn Ngữ văn năm 2018
2 Tài liệu học tập Modul 3 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinhTHPT môn Ngữ văn
3 Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), SGK Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Việt
Nam, 2018
4 Bộ GD&ĐT, Tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn THPT, Tài liệu
chuẩn của Bộ giáo dục và Đào tạo
5 Bộ Giáo dục và đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh
giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn
(Lưu hành nội bộ)
6 Đỗ Ngọc Thống, Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo yêu
cầu phát triển năng lực”, NXB Giáo dục.
7 Sái Công Hồng, Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Lê Đức Ngọc, “ Giáo trình
kiểm tra đánh giá trong dạy học”, NXB Giáo dục.
8 Nguyễn Kim Phong ( chủ biên) (2009), Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn
12, Nxb Giáo dục Việt Nam.
9 Phan Trọng Luận (chủ biên) (2009), Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
môn Ngữ văn 12, Nxb Đại học Sư phạm.
10 Trần Thị Kim Dung (2019), Xây dựng một số công cụ đánh giá năng lực đọc
hiểu của học sinh lớp 9 trong môn Ngữ văn.
Trang 25DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Cao Thị Huyền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên, Trường THCS&THPT Thống Nhất, Yên Định
Cấp đánh giá xếp loại (Phòng,
Sở, Tỉnh )
Kết quả đánh giá xếp loại (A, B, hoặc C)
Năm học đánh giá xếp loại
1 Hướng dẫn học sinh tiếp cận thể
loại kí trong chương trình Ngữ
văn THPT theo hướng tích cực,
chủ động
Cấp Sở C 2010-2011
Trang 26PHẦN PHỤ LỤC
Phụ lục 1.
PHIẾU ĐIỀU TRA
Họ và tên GV:………
Số năm công tác:………… Trường:………
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn THPT, xin thầy
cô vui lòng cho biết ý kiến về vấn đề sử dụng công cụ đánh giá trong dạy học Ngữ Văn Nếu đồng ý, thầy, cô đánh dấu (X) vào ô trống:
1.Theo thầy, cô hiện nay trong dạy học Ngữ văn, sử dụng công cụ đánh giá kếtquả học tập của học sinh có ý nghĩa quan trọng không?
Xin em vui lòng cho biết tình hình học tập môn Ngữ Văn của mình ởtrường phổ thông Đánh dấu X vào ô trống:
1.Em có thích học môn Ngữ văn hay không? Vì sao?
Thích
Bình thường
Không thích
Trang 27Vì:
2 Các sản phẩm học tập môn Ngữ văn đã được thực hiện là:
Đoạn văn, bài văn
Không bao giờ
4 Quyền đánh giá cuối cùng về sản phẩm học tập?
Xin em vui lòng cho biết một số thông tin sau về bản thân:
1 Hãy cho biết kết quả xếp loại học lực các môn học của em ở năm học trước:
Trang 28Phụ lục 4.
Giáo án minh họa áp dụng công cụ đánh giá trong bài “Người
lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Kiến thức:
- Thấy được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm Người
lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân Từ đó, nhận ra nét riêng, độc đáo của phong
cách Nguyễn Tuân trong văn học Việt Nam hiện đại
- Hiểu được đặc trưng thể loại tùy bút văn học Việt Nam hiện đại
- Thấy được sự cần thiết phải vận dụng kết hợp phương thức diễn đạt và các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận
2 Kĩ năng:
- Vận dụng những tri thức về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm, ngôn ngữ để đọc hiểu văn bản
- Nhận diện thể tùy bút và giải thích ý nghĩa của việc sử dụng thể tùy bút
- Nhận diện đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo của bài tùy bút
- Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại:
+ Nhận diện và phân tích ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật trong bài tùy bút.+ Nhận diện và phân tích được cái tôi trữ tình của tác giả trong các bài
+ Nhận diện và phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của các bài tùy bút+ Đọc diễn cảm, sáng tạo những đoạn văn hay, độc đáo
- Vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để đọc hiểu những bài tùy bút hiện đại khác Việt Nam ( Ngoài sách giáo khoa)
- Vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt, các thao tác lập luận để viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về tác phẩm Người lái đò sông Đà
3 Thái độ:
- Yêu mến, tự hào, trân trọng vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người
- Có cách ứng xử thân thiện, tích cực với môi trường; ý thức giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống
4 Các năng lực hướng tới hình thành và phát triển ở học sinh:
+ Năng lực tự quản bản thân về cảm xúc, hành vi…
- Nhóm năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực giao tiếp tiếng Việt: