Phật giáo:...8 Phân tích mặt phải, mặt đúng, mặt tốt của vấn đề là tìm ý nghĩa, tác dụng của vấn đề ấy ở các mặt: đối với bản thân, đối với mọi người xung quanh và đối với toàn xã hội..
Trang 1MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 3
B NỘI DUNG 3
I Cơ sở lý luận: 3
II Thực trạng: 4
III Giải pháp: 5
a Xã hội: 5
b Chính trị : 5
c Bản sắc văn hóa: 5
d Môi trường: 5
a Quan hệ với thế giới tự nhiên: 6
b Quan hệ với quốc gia, dân tộc: 6
c Quan hệ với xã hội: 6
d Quan hệ với bản thân: 6
a Nho giáo: 6
b Đạo giáo : 7
c Phật giáo: 8
Phân tích mặt phải, mặt đúng, mặt tốt của vấn đề là tìm ý nghĩa, tác dụng của vấn đề ấy ở các mặt: đối với bản thân, đối với mọi người xung quanh và đối với toàn xã hội 10
Ví dụ: Viết đoạn văn nghị luận bàn về vấn đề hạnh phúc 10
Ở bước này học sinh cũng thường lúng túng, bài học thường được nêu ra một cách khô khan, cứng nhắc Đối với bài làm của học sinh giỏi, đòi hỏi bài học phải thật sự có ý nghĩa, có giá trị chung cho bản thân và tất cả mọi người Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách viết phần liên hệ phải chân thật và mang tính khách quan, có tác dụng tác động vào nhận thức của người đọc, người nghe 13 a Đề tài: 16
a Đề tài: 17
b Cấu trúc triển khai tổng quát: 17
c Đề tham khảo: Phía sau lời nói dối 17
b Cấu trúc triển khai tổng quát: 18
c Đề tham khảo: Theo anh (chị) đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) đã góp phần phê phán những chuyện gì trong xã hội hiện nay 18
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy 19
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làm nghề dạy học, ai cũng muốn có học sinh giỏi, đặc biệt là với nhữngngười tâm huyết nghề nghiệp, họ luôn dồn hết sức lực và trí tuệ của mình để đạtđược mong muốn đó Tuy nhiên, muốn có được như thế thì đòi hỏi sự nỗ lực từnhiều phía (kể cả người học, người dạy và phụ huynh) chứ không chỉ phía ngườidạy, do đó mong muốn chính đáng của người giáo viên không chỉ dựa vào sự nỗlực của chủ quan mà thành hiện thực được và giáo viên văn cũng không phải làngoại lệ, đó là chưa nói đến để có được học sinh giỏi văn còn có nhiều cái khóhơn các môn khác
Dẫu biết đây là công việc nhiều gian nan của những ai thật sự tâm huyếtvới nghề, song tôi vẫn luôn luôn nỗ lực hết mình trong công tác giảng dạy, bồidưỡng học sinh giỏi Lặng lẽ mà miệt mài, âm thầm mà tận tụy – tôi cùng cácthầy giáo, cô giáo trong nhà trường cùng với các thế hệ học sinh trong đội tuyểnmôn Ngữ văn trường THPT DTNT Ngọc Lặc đã liên tục ghi những nét son trongbảng vàng thành tích học tập của nhà trường
Tôi biết rằng, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở các trườngphổ thông không phải là một điều mới mẻ Những điều chúng tôi nêu ra có thểđồng nghiệp ở trường bạn đã làm và làm rất thành công Nhưng tôi lựa chọn đề
tài nghiên cứu: “Một vài kinh nghiệm nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận xã hội trong đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12” với mong muốn đây sẽ là
dịp thuận lợi để nhóm giáo viên Ngữ văn của trường cùng nhìn nhận, đánh giálại và định hướng những gì mình đã, đang và sẽ làm Những ý kiến đưa ra trướchết là bài học kinh nghiệm cho chính bản thân tôi; sau nữa là mạnh dạn chia sẻvới đồng nghiệp Hi vọng chúng ta sẽ cùng trao đổi, học tập, cùng cảm thông,thấu hiểu và cùng tiến bộ trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn
2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu lớn nhất mà đề tài hướng tới là giúp học sinh có kiến thức và kĩnăng làm tốt phần câu hỏi nghị luận xã hội trong đề thi học sinh giỏi cấp Tỉnhhàng năm, tạo tâm thế tự tin, chủ động cho học sinh khi viết đoạn văn nghị luận
xã hội Qua quá trình khảo sát, đánh giá công tác giảng dạy và ôn luyện học sinhgiỏi môn Ngữ văn của trường trong những năm qua cũng là cơ hội rút ra nhữngbài học kinh nghiệm nhằm duy trì và phát huy hơn nữa thành tích học tập -giảng dạy môn Ngữ văn của nhà trường
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác giảng dạy ôn luyện học sinh giỏi văn củatrường
- Đối tượng nghiên cứu: Giáo viên và nhóm học sinh ôn luyện trong độituyển học sinh giỏi môn Ngữ văn của nhà trường
4 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Phương pháp nghiên cứu tổng hợp (văn hoá, tâm lí học, lí luận vănhọc )
Trang 3+ Phương pháp phân tích
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp khảo sát, thống kê
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Trong các năm qua, có những sáng kiến và hội thảo khoa học, một số thựctrạng ôn luyện học sinh giỏi môn Ngữ văn đã được nêu ra, một số giải pháp đãđược thảo luận, một số đề xuất đã được ứng dụng đạt hiệu quả đáng khen ngợi.Tuy nhiên, bên cạnh những nét chung có thể thống nhất về quan điểm giảipháp…cho việc ôn luyện học sinh giỏi môn Ngữ văn thì từ đó đến nay, việc ônluyện học sinh giỏi môn Ngữ văn tại trường THPT DTNT Ngọc Lặc luôn khôngngừng biến đổi theo quá trình phát triển của nhà trường, thay đổi theo nội dungchương trình, hình thức kiểm tra đánh giá của sách giáo khoa mới, cách ra đề và
chấm theo hướng mở… Vì vậy, khi chọn đề tài nghiên cứu “Một vài kinh nghiệm nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận xã hội trong đề thị học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12”, tôi mong muốn một lần nữa đánh giá, tổng hợp lại
những kinh nghiệm có tính chất truyền thống mà tôi đã và vẫn đang làm; đồngthời đề xuất một số giải pháp mới có thể vận dụng trong quá trình ôn luyện họcsinh giỏi Văn của trường trong thời điểm hiện tại Đề tài mà tôi nghiên cứumang tính chất tiếp nối, kế thừa, và sáng tạo Điểm mới của SKKN của tôi chính
là ở cách đưa ra các giải pháp mới trong khâu hướng dẫn làm bài bằng cáchcung cấp kiến thức văn hóa, cụ thể hóa các bước, cách thực hiện các thao tác lậpluận trong đoạn văn nghị luận xã hội
B NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận:
Môn ngữ văn (bao gồm ba phần: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là mộtmôn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trongcác môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh
Cùng với việc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần Làmvăn được chú trọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng thực hành, sáng tạocủa học sinh Làm văn gồm hai dạng: nghị luận văn học và nghị luận xã hội.Trong chương trình hiện nay, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ 20% số điểm trong đề,nhằm mục đích tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội, tạo chohọc sinh năng lực chủ động đề xuất, phát biểu những suy nghĩ của chính mìnhtrước nhiều vấn đề trong cuộc sống
Nghị luận xã hội đã được học ở cấp trung học cơ sở, nhưng khi phải trình
bày những suy nghĩ, ý kiến cá nhân về các vấn đề tư tưởng đạo lý, hiệntượng xã hội…thì đa số học sinh rất lúng túng và có phần “sợ” kiểu bàinày
Nguyên nhân vì sao? Khác với nghị luận văn học, nội dung kiếnthức đã được học trước và thiên về cảm xúc, thì nghị luận xã hội yêu cầu kiếnthức rộng hơn và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận và lý lẽ
Trang 4Thật ra ở sách giáo khoa và sách giáo viên đều có phần hướng dẫnphương pháp làm bài khá cụ thể Nhưng dù có áp dụng theo cách hướng dẫn làmbài ấy, nhiều học sinh cũng thấy rất khó khăn khi viết - viết mươi dòng đã hết ý!
Đó là vì các em thiếu một phần vô cùng quan trọng: Kiến thức văn hóa và vốnsống Vậy kiến thức này lấy ở đâu? Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng
tự học, tự đọc, tự thu thập kiến thức của học sinh
Ngày nay, với các phương tiện hiện đại thì việc truy cập thông tin là điềuđơn giản, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại - học sinh rất nghèo vốn kiếnthức xã hội, văn hóa
Vì vậy, học sinh cần phải được giáo viên định hướng, nắm bắt nhữngkiến thức cơ bản để làm tốt văn nghị luận xã hội
Việc cung cấp kiến thức cho học sinh là điều rất khó vì số tiết quy địnhtrong chương trình có giới hạn
Tư liệu về nghị luận xã hội không phong phú như nghị luận văn học nêncũng ít thuận lợi trong việc soạn giảng Từ những thực tế trên, tôi xin đưa ra một
số kinh nghiệm cá nhân khi dạy nghị luận xã hội để đồng nghiệp tham khảo
II Thực trạng:
Việc dạy và học đối với học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn trong bối cảnh nềnkinh tế xã hội hiện nay tôi nhận thấy: thực trạng kinh tế xã hội đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc dạy – học Văn, nhất là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữvăn Bởi vì, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin như ngày nay, học sinhđược tiếp xúc rất sớm với các trang thiết bị hiện đại Điều này giúp các em cóthể cập nhập thông tin một cách nhanh chóng nhưng mặt khác cũng khiến nhiều
em lười suy nghĩ, có thói quen ỷ lại vào máy móc Thói lười suy nghĩ ngại tìmtòi từ ngữ, khiến cho khả năng diễn đạt của học sinh trước một vấn đề nào đóthường lúng túng, “bí từ”, thậm chí rất ngô nghê Thêm vào đó cuộc sống hiệnđại khiến các em có một quan niệm sống và xu hướng chọn ngành nghề rất thực
tế Nhiều em không thích lựa chọn các ngành nghề khoa học xã hội vì ra trườngkhó xin việc làm, thu nhập thấp…
Từ thực trạng trên mà việc dạy và học bộ môn Ngữ văn ở các trường phổthông gặp không ít khó khăn Những em có niềm đam mê thực sự với môn Vănngày càng ít ỏi Nhiều học sinh cảm thụ văn học không có tính hình tượng,không bằng trí tưởng tượng, sự liên tưởng mà bằng cái nhìn “trần trụi”, thực tếcủa các em ngoài đời
Việc ôn luyện, bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở trường THPT DTNT Ngọc Lặc
có những thuận lợi và khó khăn cơ bản như sau:
Về thuận lợi: học sinh học tập tại trường hầu hết là con em vùng sâu, vùng xacác em được lớn lên gắn bó với núi rừng, sông nước với một tâm hồn hết sứctrong sáng, vì vậy những cảm xúc văn chương trong tâm hồn các em hầu nhưcòn được lưu giữ nguyên vẹn, chưa bị cái phồn tạp của cuộc sống đô thị làm chomai một, mài mòn Những tâm hồn trong sáng ấy lại được những bàn tay, khối
óc của các thế hệ thầy cô giáo nơi đây ngày đêm miệt mài vun xới, như mộtmảnh đất màu mỡ, gặp dòng nước mát lành và đôi tay cần cù, khối óc sáng tạo
Trang 5của người gieo hạt nên đã cho kết quả những vụ mùa bội thu Hơn nữa các em
có bản tính chăm chỉ, chịu khó, có khả năng học tốt các môn xã hội
Về khó khăn: học sinh đa phần lớn lên từ miền quê nghèo nên ít được vachạm tiếp xúc với cuộc sống ngoài xã hội, hiểu biết xã hội còn hạn chế, không
có nhiều sách tham khảo nâng cao như học sinh ở các vùng kinh tế phát triển.Những khó khăn đó khiến nhiều em trước khi bước vào ôn luyện đội tuyển cóvốn kiến thức rất hạn hẹp Từ đó khiến cho giáo viên ôn đội tuyển gặp không ítkhó khăn cần phải nỗ lực, đặc biệt là sự khó khăn khi giảng dạy phần văn nghịluận xã hội
Hiểu theo nghĩa hẹp, cộng đồng xã hội chính là những cộng đồngnghề nghiệp chính trị, tôn giáo, văn hóa…trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia
b Chính trị :
Ngày nay, chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mốiquan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc mà cốt lõi của nó là vấn đề giànhchính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việccủa nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động củanhà nước (Từ điển bách khoa Việt Nam)
c Bản sắc văn hóa:
Bản sắc văn hóa là cái riêng, cái độc đáo mang tính bền vững và tích cựccủa một cộng đồng văn hóa Văn hoá Việt có bản sắc riêng trong mối quan
hệ với các nền văn hóa khác Bản sắc này hình thành từ chính thực tế địa lý, lịch
sử, đời sống cộng đồng của người Việt và quá trình giao lưu, tiếp xúc, tiếp nhận,biến đổi các giá trị văn hóa của một số nền văn hóa khác (Trung Hoa, Ấn Độ).Văn hóa Việt giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hòa trên mọi phươngdiện (tôn giáo, nghệ thuật, ứng xử, sinh hoạt)
d Môi trường:
Môi trường tự nhiên là tổng thể các nhân tố tự nhiên như: bầu khí quyển,nước, thực phẩm, động vật, thổ nhưỡng, nham thạch, khoáng sản, bức xạ mặttrời…Môi trường nhân tạo là hệ thống môi trường được tạo ra do con người lợidụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên
Trang 6Vì môi trường nhân tạo được sáng tạo và phát triển trên cơ sở môi trường
tự nhiên nên môi trường nhân tạo bị môi trường tự nhiên chi phối, và ngược lại,
nó cũng ảnh hưởng nhiều tới môi trường tự nhiên
1.2 Mối quan hệ giữa con người với cuộc sống:
a Quan hệ với thế giới tự nhiên:
Người Việt Nam yêu thiên nhiên, yêu những thắng cảnh hùng vĩ, mĩ lệcủa non sông đất nước và cũng yêu cảnh vật gần gũi, thân quen trong cuộc sốnghàng ngày (cây cỏ, hoa lá, chim muông…) Đó là cội nguồn của tình yêu quêhương đất nước
b Quan hệ với quốc gia, dân tộc:
Đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam là cuộc đấu tranh gần như liên tục
và quyết liệt để giành độc lập và bảo vệ độc lập Người Việt Nam giàu lòng yêunước, tự hào dân tộc, sẵn sàng xả thân để bảo vệ độc lập tự do dân tộc; quá khứanh hùng thêm sức mạnh cho hiện tại
Ngày nay, giặc ngoại xâm không còn nhưng tinh thần đấu tranh của dân tộcvẫn được phát huy để chống cái ác, cái xấu, cái tiêu cực…
c Quan hệ với xã hội:
Người Việt yêu hòa bình, chuộng công lý, tôn trọng những giá trị nhânvăn Tư tưởng nhân đạo bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của người Việt,chịu ảnh hưởng những giá trị nhân văn tích cực của Phật giáo, Nho giáo, Đạogiáo; biểu hiện qua lối sống “thương người như thể thương thân”; qua nhữngnguyên tắc đạo lý, thái độ ứng xử tốt đẹp giữa người với người, khẳng địnhquyền sống quyền hạnh phúc; lên án những thế lực tàn bạo; đề cao phẩm chất tàinăng của con người
d Quan hệ với bản thân:
Giàu lòng nhân ái, coi trọng tình nghĩa, yêu gia đình, làng xóm,quê hương; sống theo đạo lý làm người mang tính truyền thống của dân tộc,hướng thiện, giàu tinh thần lạc quan
1.3 Các nguồn tư tưởng khác
Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo là những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh nhấtđến văn hóa truyền thống và đời sống của người Việt Nam từ xưa đến nay Phầnnày chúng ta chỉ đề cập đến những vấn đề mang tính ảnh hưởng chứ không đisâu tìm hiểu về cội nguồn hoặc lịch sử phát triển của các tôn giáo này
Học sinh cần nắm một số kiến thức cơ bản, để khi gặp những đề bài cóliên quan các em sẽ làm bài đúng hướng và sâu sắc hơn (Ví dụ: Thế nào là “tiênhọc lễ, hậu học văn”?, “Công, dung, ngôn, hạnh” có ý nghĩa như thế nào trongcuộc sống hiện đại?, Ý kiến của anh, chị về quan niệm “đời là bể khổ”?, “Cần,kiệm, liêm, chính” là gì? Những đức tính ấy có còn giá trị với con người hiệnđại? )
a Nho giáo:
Khái lược những tư tưởng về luân lý, đạo đức liên quan đến đời sống thực
tế của con người trong xã hội mà người đời thường gọi là lễ giáo, Nho phong…
Dù ở thời hiện đại nhưng trong quan hệ giữa người với người, những quan niệm
Trang 7nhân sinh của Nho giáo như : Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, đạo cha con, tình thầytrò…vẫn còn có ý nghĩa tích cực Một số quan điểm thường gặp trong Nho giáo:
- Tam cương: ba giềng mối kết hợp cá nhân để tạo nên một xã hội có trật
- Ngũ luân: năm cách ăn ở cho hợp với nhân luân, tức đạo làm người:
+ Vua - tôi: Vua hiền, tôi trung
+ Cha - con: Cha từ, con hiếu
+ Vợ - chồng: Chồng xướng, vợ tùy
+ Anh - em: Anh nhường, em kính
+ Bằng hữu: Tin nhau, giúp nhau
- Ngũ thường: năm đức tính thiết yếu hằng ngày mà mỗi cá nhân phải
trau dồi để thực hiện tốt trong cuộc sống Đó là:
+ Nhân: Yếu tố cơ bản của tình cảm Đó không chỉ là lòng thương người,
thương mình, khoan dung độ lượng mà còn là đạo làm người
+ Nghĩa: Cư xử cho đúng phép với tất cả mọi người Trong hành xử,
nghĩa thường kèm theo lợi, bởi vậy mà cần suy nghĩ chín chắn, chọn cái nghĩalàm đầu
+ Lễ: Sự cúng tế và tôn kính trời-thần, và cũng là nghi thức phải áp dụng
khi giao tiếp với người khác
+ Trí: Dùng sự hiểu biết và kinh nghiệm để xét người, xét sự vật trước khi
hành xử
+ Tín: Thành thật với mình, với người để gây được lòng tin ở người khác
- Tam tòng: Ba điều phải theo:
+ Tại gia tòng phụ: Khi còn ở nhà, phải theo sự dạy dỗ của cha mẹ
+ Xuất giá tòng phu: Khi lấy chồng phải theo chồng, phải làm tròn nhiệm
vụ của người vợ
+ Phu tử tòng tử: Chồng chết thì phải thủ tiết nuôi con để giữ gìn phẩmhạnh cho mình và cho con
- Tứ đức: Bốn đức tính cần học cho thuần thục lúc còn ở nhà với cha mẹ
để chuẩn bị đi lấy chồng:
+ Công: Khéo léo trong công việc nội trợ
+ Dung: Vẻ mặt hiền hậu, dịu dàng
+ Ngôn: Nói năng nhỏ nhẹ, nghiêm trang
+ Hạnh: Tính tình thuần hậu, kín đáo
b Đạo giáo :
Trang 8Cũng như Nho giáo, Đạo giáo là nguồn tư tưởng lớn ảnh hưởng đến đờisống người Việt xưa, đặc biệt là tầng lớp trí thức trung đại.
Đạo giáo cao siêu, thâm viễn; giáo viên chỉ cần nói khái lược về thuyết vô
vi, lối hành xử đúng theo bản tính tự nhiên, sống theo chân tính tự nhiên của con
người; thú tiêu dao, an nhiên tự tại, biết đủ, không tranh giành, xong việc thì rútlui, lấy đức báo oán, yêu tất cả mọi người, không nô lệ dục vọng…Chử Đồng
Tử được coi là ông tổ của Đạo giáo Việt Nam nên còn gọi là Chử Tổ Đạo
c Phật giáo:
Dù được du nhập vào nước ta sau Nho giáo và Đạo giáo nhưng Phật giáolại ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của người dân bởi sức hòa đồng, hướngthiện, phù hợp với tinh thần người Việt
Giáo lý Phật giáo có sức mạnh vô hình ngăn chặn những hành động xấu
xa, có hại cho con người, cho xã hội Đó là: quan niệm nhân quả, nghiệp báo, ácgiả ác báo; khuyến thiện, tránh ác, giữ tâm trong sạch; từ bi cứu khổ, yêu thươngđồng loại, giàu lòng vị tha…
2 Hướng dẫn cho học sinh thực hiện các bước cụ thể bằng các thao tác lập luận cơ bản của văn nghị luận xã hội
Bài văn nghị luận của một học sinh giỏi phải là vương quốc của sự độc đáo Do đó, đòi hỏi người viết phải sử dụng thành thạo các thao tác lập luận và mài sắc khả năng tìm tòi, sáng tạo Bởi lẽ, khi nghị luận là lúc người viết phát huy hết khả năng sáng tạo của mình để làm mới mình, làm mới cho văn chương,
để văn chương lay thức lương tri, thức tỉnh tâm hồn người đọc Do đó, rèn luyện
kĩ năng sử dụng sáng tạo các thao tác lập luận là yêu cầu bức thiết đặt ra Việc làm này giúp người viết có một chiếc chìa khóa vạn năng để làm tốt và làm hay các đề văn nghị luận dạng mở hiện nay.
2.1 Giới thiệu vấn đề bằng hình thức gián tiếp
Giới thiệu vấn đề là phần nêu lên vấn đề cần nghị luận Phần mở đầu làphần cần tạo được ấn tượng với người đọc, vì vậy có thể coi đây là phầnrất quan trọng trong nội dung đoạn văn nghị luận xã hội Phần giới thiệutrong đoạn văn nghị luận xã hội trong đề học sinh giỏi đòi hỏi vừa phảihấp dẫn mà lại vừa phải ngắn gọn, xúc tích vì dung lượng có giới hạn.Thông thường có hai cách giới thiệu là trực tiếp và gián tiếp Cách mởtrực tiếp thì khó hấp dẫn, còn mở gián tiếp thì đòi hỏi người viết phảithực sự “chắc chắn”, mở vừa nêu được vấn đề vừa thuyết phục đượcngười đọc, vừa không được quá dài Để thực hiện được bước này giáoviên hướng dẫn học sinh mở bằng cách đưa ra những câu lập luận mangtính triết lí về cuộc sống hoặc các câu danh ngôn, châm ngôn, những câunói của các bậc danh nhân
Ví dụ, các giới thiệu vấn đề cho đề bài:
Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến Nhà thơ Mỹ Robert Frost:
“Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi không có dấu chân người”.
Trang 9Cách 1: Khi bước vào tầm tuổi đôi mươi, tôi nghĩ trong mỗi người,
dù ít hay nhiều cũng đều có cái gọi là sự trưởng thành Sở dĩ nói như vậy bởi đó
là khi chúng ta bắt đầu phải suy nghĩ, phải lựa chọn một hướng đi cho cuộc đời mình Nối gót những bậc tiền bối trên con đường họ đã mở ra hay tự chọn cho mình một lối đi mới? Ta cũng phải suy nghĩ nhiều lắm để trả lời câu hỏi ấy Còn với nhà thơ người Mỹ Robert Frost – một trong những nhà thơ danh tiếng nhất của Hoa Kỳ thì:
Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi không có dấu chân người
2.2 Giải thích vấn đề bằng thao tác lập luận giải thích:
- Để làm sáng tỏ vấn đề, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm,
đi vào nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những cách nói
tế nhị bóng bẩy để hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽkhiến người ta nói như vậy Trong thao tác giải thích, ta vừa dùng lý lẽ để phântích, lý giải là chủ yếu; vừa dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập mộtcách hiểu đúng đắn, sâu sắc có tính biện chứng nhằm chống lại cách hiểu sai,hiểu không đầy đủ, không hết ý
- Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụngkhi đã tìm hiểu được chân lý Phương hướng để vận dụng những chân lý này vàocuộc sống hàng ngày, tuỳ theo cho cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vậndụng phù hợp, và mỗi chúng ta phải như thế nào?
Ví dụ, chúng tôi hướng học sinh luyện tập thao tác lập luận giải thích với
đề bài sau:
Nhà thơ Mỹ Robert Frost có viết:
“Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi không có dấu chân người”.
Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?
Hướng dẫn các bước giải thích câu nói như sau:
– Trong rừng: nơi hoang vu rậm rạp.
– Lối đi: Con đường, cách thức dẫn ta tới đích.
– Có nhiều lối đi: Cuộc sống có rất nhiều con đường, cách thức khác nhau
để ta lựa chọn Cách diễn đạt hình ảnh chỉ sự phong phú, đa dạng của cuộc sống
để con người có nhiều sự lựa chọn
– Lối đi không có dấu chân người: Con đường chưa được khai mở, khám
phá, nơi ẩn chứa những điều mới mẻ nhưng cũng nhiều hiểm họa khôn lường
– Tôi chọn: Khẳng định bản lĩnh, sự chủ động tích cực của con người
trong việc lựa chọn hướng đi cho chính mình Chọn con đường khó khăn là thái
độ dũng cảm đương
đầu với thử thách, là khát vọng khám phá, sáng tạo
Ý nghĩa của câu nói: Đề cao bản lĩnh, sự chủ động tích cực của con ngườitrong việc lựa chọn, khám phá và chinh phục cái mới để tạo ra những giá trị thực
sự có ý nghĩa cho cuộc sống
Đoạn viết sử dụng thao tác giải thích hoàn chỉnh tham khảo:
Trang 10Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi không có dấu chân người
“Lối đi” là con đường, cách thức dẫn ta đến cái đích, cái kết quả mà mình mong muốn Và thực tế có rất nhiều lối đi! Lối mòn, ngõ cụt, đường quanh
co, có con đường dài, còn có cả đường tắt… Cuộc đời thực cũng có rất nhiều con đường tựa như “một khu rừng có nhiều lối đi”, ngã rẽ, tựa như một bó những sợi dây định mệnh ta cầm trên tay mà không biết sợi nào là dành cho mình Cuộc đời cũng như một cái mạng nhện khiến ta dễ đi lạc để rồi “mắc bẫy” nếu thiếu sự chủ động và tỉnh táo “Tôi chọn” là sự chủ động, tích cực trong việc lựa chọn hướng đi cho chính mình Và ở đây, nhà thơ người Mỹ chọn một “lối đi không có dấu chân người” Đó là con đường mà chưa ai từng men theo, là một con đường mới, cách thức mới, là kết quả của sự sáng tạo, của những nỗ lực tự khẳng định chính mình Có thể thấy, Robert Frost có sự chiêm nghiệm sâu xa về lẽ ở đời của riêng ông, rằng những con đường đi tới thành công, tới một cuộc sống hạnh phúc cũng giống như sáu tỉ cánh cửa dẫn tới cõi Niết Bàn, nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm ra cánh cửa của riêng mình với một
sự chủ động tích cực, để tạo ra những giá trị thực sự cho cuộc sống.
để mở rộng nội dung ý nghĩa…
Phân tích mặt phải, mặt đúng, mặt tốt của vấn đề là tìm ý nghĩa, tác dụngcủa vấn đề ấy ở các mặt: đối với bản thân, đối với mọi người xung quanh
và đối với toàn xã hội
Phân tích mặt trái, mặt sai, mặt xấu của vấn đề thì ngược lại là tìm tác hạinếu không có vấn đề ấy trong cuộc sống về các mặt: đối với bản thân, đối vớimọi người xung quanh và đối với toàn xã hội
Ví dụ: Viết đoạn văn nghị luận bàn về vấn đề hạnh phúc.
- Hạnh phúc chỉ được cảm nhận rõ ràng khi ta đã từng qua đau khổ: Ngọc chỉ có trong đá, sen chỉ ở dưới bùn Không thể nào tìm kiếm ngọc ở ngoài
đá hay tìm kiếm sen ở ngoài bùn, cũng như không có cái hạnh phúc nào từ trên trời rơi xuống, cũng không có cái thiên đường nào chỉ toàn là hạnh phúc, bởi ý niệm hạnh phúc chỉ có khi con người biết cảm nhận khổ đau Nếu không có khổ đau thì ta sẽ không biết thế nào là hạnh phúc Từng bị đói ta mới biết cái quý giá của thức ăn, đã từng chịu cái giá rét của mùa đông ta mới mong đợi nắng
ấm về, đã từng bị mất mát chia lìa ta mới nâng niu từng phút giây đoàn tụ, đã
Trang 11từng trải qua tai nạn thập tử nhất sinh ta mới biết yêu thương cuộc sống.
(http://onthi247.com)
2.4 Chứng minh vấn đề bằng thao tác lập luận chứng minh
- Bước đầu tiên là phải tìm hiểu điều cần phải chứng minh, không những
chỉ bản thân mình hiểu, mà còn phải làm cho người khác thống nhất, đồng tìnhvới mình cách hiểu đúng nhất
- Tiếp theo là việc lựa chọn dẫn chứng Từ thực tế cuộc sống rộng lớn, tưliệu lịch sử rất phong phú, ta phải tìm và lựa chọn từ trong đó những dẫn chứngxác đáng nhất, tiêu biểu, toàn diện nhất (nên chỉ cần một đến ba dẫn chứng đểlàm sáng tỏ điều cần chứng minh) Dẫn chứng phải thật sát với điều đang muốnlàm sáng tỏ và kèm theo dẫn chứng phải có lý lẽ phân tích - chỉ ra những nét,những điểm ta cần làm nổi bật trong các dẫn chứng kia Để dẫn chứng và lý lẽ
có sức thuyết phục cao, ta phải sắp xếp chúng theo một hệ thống mạch lạc vàchặt chẽ: theo trình tự thời gian, không gian, từ xưa đến nay, từ xa đến gần, từngoài vào trong hoặc ngược lại miễn sao hợp logic
- Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sốnghôm nay để đề xuất phương hướng nỗ lực Chân lý chỉ giá trị khi soi rọi cho tasống, làm việc tốt hơn Ta cần tránh công thức và rút ra kết luận cho thoả đáng,thích hợp với từng người, hoàn cảnh, sự việc
Ví dụ: Chúng tôi tiến hành chứng minh một luận điểm (Cuộc đời luôn có
nhiều cơ hội và khả năng lựa chọn Vì vậy mỗi người muốn tìm ra cho mình một lối đi riêng dẫn đến thành công thì cần phải có sự hiểu biết về thực tế cuộc sống; chủ động, phát huy năng lực, sở trường; cần nhạy bén nắm bắt cơ hội, rèn luyện ý chí bản thân để nâng cao giá trị cuộc sống) trong đề bài đã nêu trên:
Đoạn viết sử dụng thao tác chứng minh hoàn chỉnh tham khảo:
Tận dụng thế mạnh cũng có nghĩa là bạn đang tận dụng tối đa năng lực của mình để hoàn thành công việc một cách tốt đẹp nhất Cũng như chỉ có những hạt mầm tốt mới có thể gieo trồng nên những cái cây đầy sức sống nhất Bạn biết không, trong thế giới của chúng ta có những “ông trùm” – họ rất thú
vị và khôn khéo từ khi còn nhỏ Như ông trùm xứ Omaha, người giàu thứ ba thế giới Warren Buffett, từ khi chỉ mới là một đứa trẻ mười một tuổi, thường lân la đến nơi cha làm việc đã tự mình tìm hiểu về những con số khô khan trên bản niêm yết giá ở Harris Upham Ông còn có một khả năng tính toán rất nhanh và chính xác và từ khi lên tám tuổi đã đọc các cuốn sách về thị trường chứng khoán Những tư duy đầu đời đó đã khơi nguồn cho ý tưởng mua cổ phiếu và đầu tư, những bước đi đầu tiên trên chặng đường làm giàu Ta tự hỏi nếu như những con số kia không lọt vào óc của cậu bé Warren Buffett, nếu như cậu bé đó không biết tận dụng những đồng tiền nhỏ lẻ của mình để mua cổ phiếu, nếu như cậu bé không biết tận dụng khả năng tính toán chính xác của mình vào các chiến lược đầu tư kinh doanh, thì hẳn ta đã không biết đến một nhà đầu tư tài
ba bậc nhất Warren Buffett của ngày hôm nay Còn ông trùm máy tính Bill Gates thì sau khi đã nạp đầy bộ nhớ của mình những cuốn tạp chí kinh doanh khi mới mười lăm tuổi, đã cùng một người bạn thân đi kinh doanh huy hiệu