Lí do chọn đề tài Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy không chỉ môn hóa mà các môn học tự nhiên muốn trả lời tốt câu hỏi lí thuyết và làm tốt các bài tập tính toán thì đòi hỏi học si
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy không chỉ môn hóa mà các môn học tự nhiên muốn trả lời tốt câu hỏi lí thuyết và làm tốt các bài tập tính toán thì đòi hỏi học sinh phải nắm vứng được danh pháp, cấu tạo và tính chất của các chất Nhất là đối với hóa học hữu cơ, tính chất của các chất phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm cấu tạo của chất đó Tuy nhiên qua thời gian giảng dạy tại trường
PT Nguyễn Mộng Tuân, với chất lượng đầu vào của nhà trường thấp nên khả năng tiếp thu và tư duy của các em còn rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn khi học phần hóa học hữu cơ Kết hợp với khả năng tự học, tự tìm tài liệu thấp do đó dẫn đến các vấn đề sau:
- Học sinh thường không hào hứng khi học phần hóa hữu cơ vì hóa hữu
cơ công thức dài, có nhiều tên gọi (như tên thay thế, tên thường, tên gốc chức…) nên các em rất khó nhớ Từ đó khi trả lời câu hỏi lí thuyết thường hay sai
- Trong các đề thi của các năm gần đây dạng câu hỏi lí thuyết biến đổi đa dạng và học sinh không chỉ nhớ máy móc mà còn phải có sự tư duy và suy luận nhiều hơn
- Từ thực tế giảng dạy, bản thân thấy học sinh thật khó khăn để nhớ và học thuộc lý thuyết và nhớ các dạng bài tập Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy đối với học sinh có học lực yếu và trung bình các em chỉ cần nắm một số đơn vị kiến thức hết sức cơ bản và sử dụng được máy tính cầm tay thì có thể đỗ tốt nghiệp với kết quả cao hơn
- Bài tập điền khuyết được giáo viên thiết kế dưới nhiều dạng khác nhau:
sơ đồ, bảng, biểu theo nội dung bài học để học sinh tự học, tự tìm tài liệu, ôn tập kiến thức bài học nhằm kích thích tư duy độc lập, sự sáng tạo đặc biệt là rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh Bài tập điền khuyết giúp hỗ trợ trong việc tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa giáo viên, học sinh với bài học và giữa các học sinh với nhau Như vậy, việc thiết kế và sử dụng bài tập điền
khuyết trong giảng dạy nói chung là cần thiết để học sinh phát huy tốt năng lực
tự học, tư duy, sáng tạo, dưới sự dẫn dắt, gợi ý của giáo viên
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ của mình giúp các em học sinh lớp 12 có thể nhớ được các kiến thức hóa hữu cơ một cách logic để từ đó trả lời một cách nhanh nhất và chính xác các câu
hỏi lí thuyết trong đề thi nên tôi lựa chọn giải pháp: “Áp dụng hệ thống bài tập điền khuyết vào dạy ôn luyện lí thuyết hóa hữu cơ đối với học sinh học lực trung bình yếu lớp 12 tại trường PT Nguyễn Mộng Tuân Năm học 2020-2021”
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu
- Nâng cao kỹ năng thiết kế bài dạy phù hợp với đối tượng học sinh trung bình, yếu Thiết kế hệ thống bài tập điền khuyết giúp học sinh hệ thống lí thuyết hóa hữu cơ lớp 12 để ôn thi tốt nghiệp
- Từ hệ thống bài tập điền khuyết giúp học sinh tự học, tự tìm tài liệu, ôn tập kiến thức bài học nhằm kích thích tư duy độc lập, sự sáng tạo, tạo ra giờ học
lý thú bổ ích Rèn luyện tốt thêm các kỹ năng: diễn đạt, tổ chức lớp học giao tiếp
- Từ bài tập điền khuyết giúp hỗ trợ trong việc tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa giáo viên, học sinh với bài học và giữa các học sinh với nhau
- Khắc phục được nỗi sợ của học sinh vì lí thuyết hóa hữu cơ dài, nhiều công thức dài, nhiều tên gọi
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lí thuyết hóa hữu cơ trong sách giáo khoa hóa học cơ bản
12 thông qua bài tập điền khuyết
1.4 Phương pháp nghiên cứu: Có thể sử dụng các phương pháp như sau
+ Phương pháp quan sát trực quan
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp ý kiến của học sinh
+ Phương pháp thuyết trình
+ Phương pháp ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học + Phương pháp tổ chức dạy học theo dự án, dạy học theo hoạt động nhóm, dạy học nêu vấn đề
+ Phương pháp điều tra: phát phiếu điều tra cho học sinh để đánh giá
1.5 Những điểm mới của SKKN:
- Thiết kế bài tập điền khuyết dưới dạng sơ đồ, biểu đồ, bảng theo từng bài học, theo từng chương hóa học hữu cơ trong sách giáo khoa lớp 12 nhằm hệ thống kiến thức đã học và giúp học sinh tóm tắt và ghi nhớ lại nội dung bài học
- Giúp học sinh vận dụng và hứng thú làm các bài tập trắc nghiệm mức nhận biết, thông hiểu và vận dụng thấp
+ Hình thành kỹ năng: tư duy, sử dụng sách giáo khoa, tích cực, sáng tạo trong học tập, giờ học sôi nổi
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trang 3Phát hiện thực trạng của việc lĩnh hội những kiến thức kỹ năng cơ bản và việc hình thành những năng lực phẩm chất cần thiết
a) Năng lực tự học: là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự
giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập ; tự đánh giá và điều chỉnh kế hoạch học tập hình thành cách học tập riêng của bản thân; tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập
b) Năng lực giải quyết vấn đề: là khả năng phân tích được tình huống trong
học tập, trong cuộc sống và nêu được tình huống có vấn đề Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề; đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề, lựa chọn giải pháp phù hợp nhất và thực hiện giải pháp
đó
c) Năng lực sáng tạo: là khả năng xem xét sự vật hiện tượng với những góc
nhìn khác nhau, hình thành kết nối các ý tưởng; nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau d) Năng lực thể chất: là khả năng sống thích ứng và hài hòa với môi trường;
biết rèn luyện sức khoẻ thể lực và nâng cao sức khoẻ tinh thần
e) Năng lực giao tiếp: là sự chủ động trong giao tiếp; tôn trọng lắng nghe,
có phản ứng tích cực trong giao tiếp Biết lựa chọn nội dung, ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp
f) Năng lực hợp tác: là khả năng cùng làm việc giữa hai hay nhiều người để
giải quyết những vấn đề nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên
g) Năng lực tính toán: là khả năng sử dụng các phép tính và đo lường, công
cụ toán học để giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống
h) Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): là khả năng sử
dụng thiết bị kỹ thuật số, máy tính, phần mềm… để tìm kiếm thông tin phục vụ tích cực và hiệu quả cho học tập và cuộc sống; là khả năng sàng lọc và tham gia truyền thông trên môi trường mạng một cách có văn hóa
i) Năng lực định hướng nghề nghiệp: là khả năng đánh giá được yêu cầu
của thế giới nghề nghiệp và nhu cầu của xã hội, đánh giá được năng lực và phẩm chất của bản thân trong mối tương quan với yêu cầu của nghề nghiệp
j) Năng lực khám phá và sáng tạo: thể hiện tính tò mò, ham hiểu biết, luôn
quan sát thế giới xung quanh mình, thiết lập mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật hiện tượng; thể hiện ở khả năng tư duy linh hoạt, mềm dẻo tìm ra được phương pháp độc đáo và tạo ra sản phẩm độc đáo
k) Năng lực tham gia và tổ chức hoạt động: thể hiện ở sự tích cực tham gia
hoặc thiết kế, tổ chức các hoạt động, đặc biệt các hoạt động xã hội, các cá nhân tham gia giải quyết vấn đề và sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ mọi người
Trang 42.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.2.1 Thực tế giảng dạy học sinh học lực trung bình, yếu lớp 12 tại trường
PT Nguyễn Mộng Tuân.
- Đối với bộ môn Hóa học tại PT Nguyễn Mộng Tuân những năm gần đây
số HS hứng thú với môn hóa học giảm đi rất nhiều Nhiều học sinh khối 10, khối
11 vẫn còn xếp học lực yếu bộ môn hóa học Số học sinh đăng kí thi THPT quốc gia môn hóa học chỉ khoảng 25% HS khối 12 (năm 2020-2021), thậm trí có năm còn có 15%( năm 2018 - 2020) Nguyên nhân là do nhiều em còn yếu môn học này, nhiều em chưa nắm vững kiến thức cơ bản, một số em khác lại không thể vận dụng kiến thức để giải bài tập, Vì vậy, việc phụ đạo cho HS học yếu môn hóa học ở trường PT Nguyễn Mộng Tuân là rất cần thiết Bên cạnh đó cũng cần tạo hứng thú học tập môn Hóa học cho HS, để các em tự mình chiếm lĩnh tri thức, vận dụng được kiến thức, các công thức Hóa học vào giải các bài tập có liên quan
- Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt
ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dung đồng loạt một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Do phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ kiến thức một chiều Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hóa học, có như vậy mới làm tăng hứng thú học tập cho học sinh
Sau đây là kết quả kiểm tra đầu năm học 2020 – 2021 tại lớp 12A1, 12A2 khi chưa áp dụng đề tài này vào bài giảng:
trung bình HS yếu
Tổng HS trung bình yếu
2.2.2 Thực trạng về việc sử dụng bài tập điền khuyết môn hóa tại trường
PT Nguyễn Mộng Tuân
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên trường tôi chưa thiết kế và sử dụng dạng bài tập điền khuyết Mà chủ yếu đưa ngay câu hỏi trắc nghiệm từng bài
Do vậy học sinh tỏ ra lúng túng và ngại tìm hiểu lại bài học để làm cho chính xác Chính vì vậy, tôi đã có suy nghĩ thiết kế bài tập điền khuyết dưới dạng sơ
Trang 5đồ, biểu đồ, bảng theo từng bài học, nhằm hệ thống kiến thức đã học và giúp học sinh tóm tắt và ghi nhớ lại nội dung bài học Từ đó giúp học sinh vận dụng
và hứng thú làm các bài tập trắc nghiệm mức nhận biết, thông hiểu và vận dụng thấp
2.3 Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Phân loại chính xác đối tượng học sinh học môn hóa học lớp 12
trường PT Nguyễn Mộng Tuân
- Căn cứ 1: Điểm bộ môn năm học qua, tham khảo thêm điểm một số môn học
có liên quan hoặc gần gũi như Toán, Lý
- Căn cứ 2: Điểm khảo sát chất lượng học sinh đầu năm
- Căn cứ 3: Những biểu hiện và quá trình học tập trên lớp, các con điểm hiện tại Căn cứ vào những khía cạnh trên, học sinh trung bình, yếu lớp 12 có thể chia thành những nhóm sau:
- Nhóm 1: Học sinh mất căn bản kiến thức chung nhưng có khả năng tiếp thu bài
- Nhóm 2: Có ý thức học tập nhưng khả năng tiếp thu bài chậm so với học sinh bình thường
- Nhóm 3: Có ý thức học tập nhưng chưa có phương pháp học tập đúng đắn Sau khi phân loại cần:
1 Lập danh sách học sinh học yếu môn hóa học tại các lớp mình phụ trách thông qua bài kiểm tra chất lượng đầu năm và quá trình học tập trên lớp để tổ chức phụ đạo cho các em
2 Điểm danh học sinh mỗi buổi học, ghi nhận và báo với GVCN những trường hợp học sinh bỏ học phụ đạo để có biện pháp khắc phục
3 Thường xuyên trao đổi, phối hợp với cha mẹ học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp
4 Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền (những kiến thức cơ bản, có nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu hỏi và bài tập) trong tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh
5 Đối với học sinh học yếu không nên mở rộng, chỉ dạy phần trọng tâm, cơ bản, làm bài tập nhiều lần và nâng dần mức độ của bài tập sau khi các em đã nhuần nhuyễn dạng bài tập đó
6 Nhắc lại kiến thức cơ bản, công thức cần nhớ mà các em đã hổng, cho bài tập
lý thuyết khắc sâu để học sinh nhớ lâu
7 Đối với bài tập GV cần hướng dẫn học sinh biết cách xác định các dữ kiện đề cho, vận dụng công thức và định hướng cách giải
Trang 68 Thiết kế hệ thống bài tập điền khuyết phần hóa học hữu cơ lớp 12 Từ đó để học sinh vận dụng nhằm khắc sâu kiến thức cơ bản, tạo kỹ năng làm bài tập trắc nghiệm một cách nhanh nhất và chính xác
2.3.2 Áp dụng hệ thống bài tập điền khuyết vào dạy ôn luyện lí thuyết hóa hữu cơ
Giáo viên hướng dẫn học sinh ở nhà đọc lại sách giáo khoa và vở ghi bài học Từ đó vận dụng vào làm bài tập điền khuyết để ghi nhớ và khắc sâu lí thuyết đã học ( học sinh hoàn thành ở nhà ) Trên lớp giáo viên cho học sinh trình bày, học sinh khác nhận xét Sau đó giáo viên sửa bài và nhấn mạnh các điểm học sinh hay phạm sai Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn học sinh làm một
số dạng bài tập trắc nghiệm ở mức độ nhận biết và thông hiểu cơ bản
2.3.3.1 Chương 1: Este – Lipit
A CỦNG CỐ KIẾN THỨC ESTE:
Điền thông tin còn thiếu vào ô trống thích hợp trong bảng sau
Câu 1: Bảng 1: Viết đồng phân cấu tạo của este
este đơn chức
C3H6O2
C4H8O2
C4H6O2
este đa chức tạo bởi axit và ancol
C4H6O4
este đơn chức chứa vòng benzen
C8H8O2
Trang 7Câu 2: Bảng 2: Tên gọi của gốc axit, gốc hiđrocacbon
CÔNG THỨC GỐC
AXIT (RCOO– )
TÊN GỌI GỐC AXIT (RCOO– )
CÔNG THỨC GỐC HIĐROCACBON (R’)
TÊN GỌI GỐC HIĐROCACBON (R’)
-C2H5COO- CH3CH2CH2-
Câu 3: Bảng 3: Cấu tạo, danh pháp của este
CÔNG THỨC ESTE
(RCOOR’)
TÊN GỌI CỦA ESTE
=TÊN GỐC R’+TÊN GỐC RCOO
-Công thức phân tử Số liên kết pi
(π)
HCOOCH3
CH3COOC2H5
HCOOC6H5 (vòng
benzen)
CH2=CHCOOCH3
CH3CH2COOCH3
CH3COOCH(CH3)2
Isoamyl axetat Vinyl acrylat Anlyl axetat Benzyl fomat Metyl metacrylat Propyl axetat Câu 4: Đánh dấu ۷ (có, đúng) vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Bảng 4: Tính chất hóa học của este Công thức Phản ứng thủy phân Phản ứng
với H2
(to, Ni)
Phản ứng với
dd Br2
Phản ứng với dd AgNO3/NH3
trong dd NaOH
trong dd
H2SO4
HCOOCH3
CH3COOCH3
HCOOC6H5
(phenyl fomat)
CH2=CHCOOCH3
CH3COOCH=CH2
Câu 5: Đánh dấu ۷ (có, đúng) vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Bảng 5: Tính chất hóa học của este
Trang 8CÔNG THỨC ESTE
(RCOOR’)
SẢN PHẨM CỦA PHẢN ỨNG THỦY PHÂN TRONG DUNG DỊCH NaOH DƯ
HCOOCH3
CH3COOC2H5
HCOOC6H5 (có vòng benzen)
CH2=CHCOOCH3
CH3CH2COOCH3
CH3COOCH(CH3)2
CH3COOCH2CH2CH(CH3)2
C2H5COOCH=CH2
CH3COOCH2CH=CH2
HCOOCH2C6H5
CH3COOC6H4CH3 (có vòng
benzen)
CH3COOCH2CH2CH3
CH3COOC(CH3)=CH2
B CỦNG CỐ KIẾN THỨC LIPIT:
Câu 6: Điền thông tin còn thiếu vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Bảng 6: Tên gọi của axit béo và chất béo
CÔNG THỨC
AXIT BÉO
TÊN GỌI
Số liên kết
pi (π)
CÔNG THỨC CHẤT
BÉO
TÊN GỌI Tri+tên axit béo – “ic” +
“in”
Số liên kết pi (π)
CH 3 [CH 2 ] 14 COOH
hay C 15 H 31 COOH
Tripanmitin
CH 3 [CH 2 ] 16 COOH
hay C 17 H 35 COOH
Tristearin
Axit oleic
C 3 H 5 (OOCC 17 H 33 ) 3 hay C 17 H 33 COO) 3 C 3 H 5 Axit
linoleic
C 3 H 5 (OOCC 17 H 31 ) 3 hay (C 17 H 31 COO) 3 C 3 H 5
Câu 7: Đánh dấu ۷ (có, đúng) vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Bảng 7: Tính chất hóa học của chất béo
CÔNG THỨC PHẢN ỨNG THỦY PHẢN PHẢN PHẢN ỨNG
Trang 9PHÂN ỨNG VỚI
H 2 (t o , Ni)
ỨNG VỚI
dd Br 2
VỚI dd AgNO 3 /NH 3
trong dd NaOH
trong dd
H2SO4
C3H5(OOCC17H35)3
C3H5(OOC15H31)3
C3H5(OOC17H31)3
C3H5(OOC17H33)3
2.3.3.2 Chương 2: CACBOHIĐRAT
Câu 8: Điền thông tin còn thiếu vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Bảng 8: Phân loại cacbohiđrat
Là nhóm cacbohiđrat đơn giản nhất, không thể thủy phân được Ví dụ: Glucozơ và fructozơ
Là nhóm cacbohiđrat mà khi thủy phân mỗi phân tử sinh ra hai monosaccarit Ví dụ: Saccarozơ và matozơ
Là nhóm cacbohiđrat khi thủy phân đến cùng sinh ra nhiều monosaccarit Ví dụ: Tinh bột và xenlulozơ
Trang 10Câu 9: Bảng 9: Tên gọi, công thức phân tử, đặc điểm cấu tạo
TÊN GỌI CÔNG THỨC
PHÂN TỬ
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO
Hợp chất tạp chức, phân tử có 5 nhóm -OH và một nhóm -CHO
Hợp chất tạp chức, phân tử có 5 nhóm -OH và một nhóm -CO-
Là đissaccarit được tạo tạo thành từ một gốc glucozơ và một gốc fructozơ
Là polisaccarit, phân tử có nhiều gốc α-glucozơ liên kết với nhau Các α-glucozơ liên kết với nhau tạo thành dạng là amilozơ và amilopectin
Là polisaccarit, phân tử có nhiều gốc β-glucozơ liên kết với nhau thành mạch kéo dài, có khối lượng phân tử rất lớn
Câu 10: Đánh dấu ۷ (có, đúng) vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Bảng 10: Tính chất hóa học của glucozơ, fructozơ
CÔNG
THỨC
PHẢN ỨNG THỦY PHÂN
PHẢN ỨNG VỚI
H 2 (t o , Ni)
PHẢN ỨNG VỚI
dd Br 2
PHẢN ỨNG VỚI
dd
AgNO 3 /NH 3
PHẢN ỨNG VỚI
O 2 (t o , xt)
PHẢN ỨNG VỚI
Cu(OH) 2
PHẢN ỨNG VỚI
O 2 (t o )
trong
dd
NaOH
trong
dd HCl,
H 2 SO 4
Glucozơ
(C 6 H 12 O 6 )
Frutozơ
(C 6 H 12 O 6 )
Câu 11: Đánh dấu ۷ (có, đúng) vào ô trống thích hợp trong bảng sau:
Bảng 11: Tính chất hóa học của saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ
Công thức Phản ứng thủy
phân
Phản ứng với
H 2
(t o , Ni)
Phản ứng với
dd
Br 2
Phản ứng với dd AgNO 3 /NH 3
Phản ứng với
O 2
(t o , xt)
Phản ứng với Cu(OH) 2
Phản ứng với HNO 3
đặc
trong
dd NaOH
trong
dd HCl,
dd
H 2 SO 4
Saccarozơ
(C 12 H 22 O 11 )