1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Dân chủ trong giờ học ngữ văn - hướng tới giờ học thông minh, giờ học hạnh phúc Bài họcPhỏng vấn và trả lời phỏng vấn

23 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 3,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 3.1 Lí thuyết chung về việc đưa tinh thần dân chủ hóa vào tiết học ngữ văn, phát triển tư duy độc lập cho học sinh, làm cho học sinh cảm nhậ

Trang 1

1 Cơ sở lí luận:

1.1 Xuất phát từ yêu cầu của việc dạy học Ngữ văn

1.2 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới về dạy học

1.3 Xuất phát từ yêu cầu về đổi mới dạy học

4

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5

3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

3.1 Lí thuyết chung về việc đưa tinh thần dân chủ hóa vào tiết học ngữ

văn, phát triển tư duy độc lập cho học sinh, làm cho học sinh cảm nhận

được mỗi giờ học văn là một giờ hạnh phúc

3.2 Thực hiện “ Dân chủ trong giờ học ngữ văn - hướng tới giờ học thông

minh, giờ học hạnh phúc – Bài học“Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”

3.3 Kết quả chung của hình thức tổ chức phát huy tính dân chủ, phát triển

tư duy độc lập, khả năng phản biện của người học, xây dựng giờ học tích

cực, hạnh phúc

3.4 Những chú ý trong quá trình dạy học phát triển tư duy độc, phát huy

tính dân chủ ở học sinh, xây dựng giờ học hạnh phúc

7

4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với

bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

Trang 2

1 Lí do chọn đề tài

Đem đến tri thức, bồi đắp tâm hồn, đó là sứ mệnh, là vinh dự, là khả năngđặc biệt của văn chương, nhưng đem đến hứng thú, sức hấp dẫn để thu hút ánhnhìn, cảm xúc, nhận thức của học sinh với văn chương trong thời buổi mà vậtchất lên ngôi, niềm tin vào cái đẹp, cái tốt, vào giá trị văn hoá ít nhiều lung laylại là trách nhiệm và tài năng của người thầy Dạy văn là làm khoa học và nghệthuật Nó đòi hỏi sự sáng tạo, đòi hỏi tâm huyết và nỗ lực không ngừng củangười thầy

Nhưng trong thời đại mới, với xu hướng phát triển và hội nhập, tư tưởng,khát vọng, niềm tin, quan niệm, tình yêu và việc tôn vinh những giá trị của đờisống có khác đi so với trước đây, việc người thầy làm cho môn văn hấp dẫn, thuhút trong giờ học văn là chưa đủ, mà phải tiếp cận với nhu cầu, xu hướng, củahọc trò, của con người trong thế kỉ mới, để dạy làm người và dạy cách sống tốtnhất cho người học, đó cũng là cách phát triển ý nghĩa của việc dạy học mônngữ văn trong nhà trường Thời đại mà công nghệ bùng nổ, con người khát khaovượt thoát những giới hạn của bản thân, tìm kiếm cái mới, nỗ lực trong hànhđộng sẽ đòi hỏi mỗi người trong hành trình sống phải có những cuộc dấn thânmới, con người phải chủ động, phải tích cực, phải sáng tạo Một bài học ngữ vănkhông chỉ đem đến cho các em tri thức, nhận thức về thiên nhiên, xã hội, conngười, bồi đắp cho học sinh những vẻ đẹp trong tâm hồn, trong tư tưởng và cảmxúc, quan trọng hơn, nó cũng tham ra trong quá trình phát triển con người sángtạo, con người với cách nghĩ riêng, độc lập, tự chủ, tự tin chính vào bản thânmình Chúng ta có thể đem đến cho các em không chỉ niềm vui và hứng thú ởviệc cảm nhận, mà còn có thể giúp các em khám phá con người bên trong, conngười tiềm năng của chính mình, đáp ứng nhu cầu thời đại mới

Qua thực tiễn giảng dạy, tôi nhận thấy một thực tế ở nhà trường, môn ngữvăn vẫn được xem như môn học mà người dạy phải mang đến cho các em hệthống kiến thức hàn lâm, các thầy cô về cơ bản vẫn yêu cầu các em phải bắtbuộc thuộc những kiến thức cơ bản, hiểu theo ý nghĩa sao cho chung nhất, đểkhi thi cử, không đi lệch với đáp án Nghĩa là học để thi Tất nhiên, đề thi nhữngnăm gần đây đã là dạng đề mở, có sự thay đổi linh hoạt, hướng đến sự phát triểnnăng lực của người học, nhưng tôi vẫn thấy, học sinh vẫn rơi vào tình trạng họccông thức Đối với việc thi cử, và nhất là với đối tượng học sinh ít có sự tìm tòi,sáng tạo, việc dạy như thế, học như thế là “an toàn” Tuy nhiên, tôi vẫn muốn,bên cạnh việc đảm bảo cho các em về vấn đề học – thi – lấy điểm, chúng ta, mỗithầy cô giáo phải biết khai thác tối đa những ưu thế của môn mình, để không chỉđáp ứng nhu cầu mang tính chất “thời vụ”, mà còn “trồng người” bằng cách khơidậy những vẻ đẹp đáp ứng với nhu cầu của tương lai: con người chủ động, năngđộng, độc lập, giờ học văn không chỉ là một môn học bắt buộc theo yêu cầu của

Bộ giáo dục mà còn là niềm vui, là hạnh phúc với những trải nghiệm thú vị vàmới mẻ

Từ thực trạng cuộc sống hiện đại với những đòi hỏi mới, từ thực tế dạyhọc học sinh còn thụ động, phụ thuộc vào thầy cô, từ sự thật nhiều thầy cô vẫncòn muốn có tư tưởng áp đặt với người học, tôi mạnh dạn đề xuất một khía cạnh

Trang 3

liên quan tới việc giáo dục tư duy tích cực đối với người học từ một tiết giảngvăn cụ thể Tôi nghĩ, đây là một việc làm cần thiết

Trong phạm vi nhỏ hẹp của đề tài, tôi xin trình bày quan điểm của mình

về việc “ Dân chủ trong giờ học ngữ văn - hướng tới giờ học thông minh,

giờ học hạnh phúc – Bài học“Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”

2 Mục đích nghiên cứu

Học văn, muốn đem đến bất cứ một điều gì, đầu tiên cũng là giải mã vănbản Phải tìm con đường giải mã văn bản đơn giản, khoa học, hiệu quả, để đemlại hứng thú, rèn cho học sinh kĩ năng đọc hiểu văn thơ trữ tình, văn xuôi, kịch,văn bản nghị luận, chính luận… Khi đọc văn, các em không chỉ chiếm lĩnh trithức, mà còn tự bồi đắp tâm hồn, có thể vận dụng tri thức, đem các bài học nhânsinh rút ra từ văn bản để làm giàu cho cuộc sống Mục đích của bài đọc này làđem đến cho học sinh những cái nhìn và tư duy độc lập, hướng tới niềm vui,niềm hạnh phúc của người học để đi đến cách ứng xử, cách sống có văn hóa, bảotồn cái đẹp trong con người vốn dĩ có từ xa xưa, theo quan niệm của thanh niênhiện đại

3 Đối tượng nghiên cứu

Từ một bài học văn cụ thể, từ kinh nghiệm trong quá trình giáo dục, đề tàinày nghiên cứu và tổng kết về việc cần thiết biết vận dụng những hiểu biết về từkiến thức sách vở vào đời sống, hoạt động xã hội để sống đẹp – sống có đạođức và văn hóa trong đời thực, sống năng động, sáng tạo và biết cống hiến

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp chính: Nghiên cứu, thực nghiệm:

+ Sưu tầm, tập hợp các tư liệu về mục tiêu giáo dục, các bài viết về thựctrạng lối sống thụ động của con người, về nhu cầu đổi mới con người hiện đại,các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; Tổng hợp các tài liệu sau khi đọc,vận dụng vào việc xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài

+ Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin sau khi đã vận dụng vàobài đọc văn các cách thức để khơi dậy nhận thức về trách nhiệm, về lối sống cần

có, về việc nuôi dưỡng con người năng động, văn hóa ở các lớp đề án, lớp đạitrà…tại trường THPT Lê Hồng Phong – Bỉm Sơn – Thanh Hóa

+ Thống kê, xử lý số liệu: tổng hợp và đưa ra kết luận trên cơ sở các

thông tin và số liệu đã có

- Những phương pháp kết hợp : Phân tích, suy luận logic ; So sánh ; Diễn dịch; Quy nạp

Ở đề tài này chúng tôi tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Tiến hành khảo sát quan niệm về tinh thần dân chủ, về cách ứng xử cần

có của học sinh qua các tình huống thực tế tại trường học

Bước 2: Dạy thể nghiệm theo bài học theo theo hướng phát huy tính dân chủ, phát triển tư duy độc lập của học sinh ở một số lớp

Bước 3: Khảo sát và lấy kết quả sau mỗi tiết học

Bước 4: Đối chiếu kết quả và kết luận

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trang 4

1 Cơ sở lí luận:

1.1 Xuất phát từ yêu cầu của việc dạy học ngữ văn:

Dạy học văn phải bắm sát đặc trưng thể loại văn bản Nghiên cứu đặctrưng thể loại văn học là một trong những cách tiếp cận tác phẩm văn học của thi

pháp học.Theo Từ điển thuật ngữ văn học ( PGS Lê Bá Hán, GS TS Trần Đình

Sử, GS Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên): “ Thể loại văn học là dạng thức củatác phẩm văn học được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trìnhphát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tácphẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chấtcủa mối quan hệ, của nhà văn đối với các hiện tượng của đời sống ấy”

Là hình thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm văn học, thể loại văn họcchính là sự thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản,một phương thức chiếm lĩnh đời sống Đây là một trong những phạm trù cơ bảnnhất của sáng tác, nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học Người sáng tácmuốn thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình trước đời sống phải lựa chọn, mộtcách thức tổ chức nào đó phù hợp Người tiếp nhận muốn giải mã được tầnghàm nghĩa, thông điệp tư tưởng của nhà văn cũng không thể không xuất phát từđặc trưng của thể loại

Môn Văn là môn học đặc biệt và đặc thù Nó vừa là khoa học vừa là nghệthuật (nghệ thuật ngôn từ) Việc cảm nhận, đánh giá một vấn đề văn học có thểthay đổi theo thời gian và theo thị hiếu thẩm mĩ của mỗi người, mỗi thời đại Cónhững vấn đề hôm nay là đúng nhưng ngay mai thì chưa chắc, ngược lại, cónhững vấn đề ngày trước sai nhưng bây giờ lại đúng Nhiều vấn đề có nhiềucách hiểu, gây tranh cãi nhiều thập kỉ mà không tìm ra chân lí Vì vậy tronghọc văn, rất cần có cái nhìn mới, cách cảm mới để tìm ra những giá trị mới Họcsinh là những bạn đọc sáng tạo có thể lập luận để đưa ra chân lí đúng đắn hơncho vấn đề Đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu đào tạo conngười toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc và phải có nền tảng đạođức và văn hóa vững chắc thì việc khơi dậy những thức nhận về trách nhiệm, vềmục tiêu phát triển năng lực bản thân cho học sinh là vô cùng cần thiết

1.2 Xuất phát mục tiêu dạy học đối với THPT: Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông nêu rõ:

- Mục tiêu của bậc THPT là “giúp học sinh tiếp tục phát triển nhữngphẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách côngdân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệpphù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếptục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứngvới những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới”

- Hướng tới hình thành 5 phẩm chất, 10 năng lực chủ yếu của người học:+ Những phẩm chất chủ yếu : yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực,trách nhiệm

Trang 5

+ Những năng lực cốt lõi gồm: Những năng lực chung, được tất cả cácmôn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ

và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

1.3 Xuất phát từ yêu cầu về đổi mới dạy học:

- Phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học, cách thức

dạy học là những yếu tố căn bản quyết định đến chất lượng giờ dạy, đến hiệuquả tác động với học sinh, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, năng lựcgiao tiếp…Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học vàcách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sángtạo

- Phương tiện cần thiết và phù hợp: SGK, TLTK, SGV, máy chiếu, giáo

án điện tử, bảng…

- “Phương pháp – theo giáo sư Trần Đình Sử - nói chung là cách thức tác

động vào một đối tượng nào đó để đạt đến mục đích Phương pháp dạy học làmột yếu tố trong quá trình dạy học phụ thuộc vào bản chất của hoạt động dạyhọc Phương pháp được (…) hình dung như một hệ thống các nguyên tắc, cáchthức, biện pháp được sử dụng trong quá trình dạy học Trong quan niệm dạy họchiện đại theo mô hình lấy học sinh làm trung tâm, học sinh là chủ thể, nhómhoạt động thực hành có vị trí chủ đạo, nhóm lời nói và trực quan là phụ trợ”.Việc tổ chức các bước lên lớp, vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học phảisáng tạo, phù hợp với yêu cầu của bài học, không thể máy móc áp dụng theomột thứ tiêu chuẩn cứng nhắc, hướng học sinh tới mục tiêu giáo dục hiện đại:Phẩm chất và năng lực của con người

1.4 Xuất phát từ nhu cầu học tập, bộc lộ của học sinh hiện nay:

- Nhu cầu bộc lộ bản thân của học sinh là một cơ sở quan trọng để pháthuy tiềm năng học tập, khả năng phản biện vấn đề Học sinh ngày nay luôn cónhu cầu tự bộc lộ mình, nhất là trong những tình huống được động viên, khích

lệ, có hứng thú Các em không thích lối tư duy thụ động, phụ thuộc vào ngườikhác Cũng không muốn bị áp đặt bởi cách hiểu của người khác Các em thíchtìm lí lẽ của riêng mình, có cách nghĩ của bản thân, thậm chí có khi đó là cáchcảm, cách nghĩ táo bạo, vượt khỏi khuôn khổ Nhưng do quan niệm truyềnthống, lạc hậu nên nhiều khi vô tình chúng ta đã cản bước tiến của các em Cũng

có thể, lối suy nghĩ của các em chịu ảnh hưởng và tác động của thực tế cuộcsống hiện đại, nhiều khi rất thực dụng Nhiệm vụ của người dạy văn là dẫn dắt,định hướng, thuyết phục để học sinh hiểu, chấp nhận và tự tìm giải pháp đúngđắn, hành động đúng đắn

=>Với đặc thù của bộ môn ngữ văn, với yêu cầu của thực tiễn khách

quan, yêu cầu về con người, yêu cầu về mục tiếu giáo dục…mỗi thầy cô giáocần phải phát huy những điểm mạnh của bộ môn mình và hướng tới mục đíchgiáo dục toàn diện, khơi gợi hứng thú sang tạo trong người học, đem đến niềmvui, niềm hạnh phúc cho người học khi được là chính mình trong suy nghĩ, tronghành động, trong cảm xúc

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

- Từ quá trình khảo sát tài liệu sách giáo khoa, từ quá trình giảng dạy các ở

cả ba khối, dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy:

Trang 6

+ Trong chương trình ngữ văn THPT, các bài đọc văn thuộc đủ thể loại vàcác kiểu dạng: văn bản nghệ thuật (thơ, văn xuôi, kịch); văn bản chính luận, vănbản nhật dụng, văn bản phê bình…Khi dạy học các bài đọc văn, các thầy cô giáochủ yếu hướng học sinh đi tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của văn bản, từ đó màhướng tới mục tiêu giáo dục nhận thức, ý thức ở người học là chính

+ Nhiều thầy cô giáo chỉ chú ý đến việc truyền thụ kiến thức, hướng họcsinh đến việc hiểu văn bản, thể hiện việc học tập, vận dụng kiến thức đã học đểviết bài kiểm tra, thể hiện lại việc nắm kiến thức, hiểu bài…chứ chưa có mấythầy cô chú ý đặc biệt tới việc rèn luyện các kĩ năng khác như đọc, giao tiếp, làmviệc nhóm, thể hiện suy nghĩ cá nhân khác với những gì quen nhìn, quen hiểu,thành ra, tính sáng tạo ở người học, sự phát hiện riêng ở mỗi cá nhân chưa đượckhai thác đầy đủ, các em bị nghĩ theo một lối tư duy, ép phải “thấy” như “người

ta thấy”, mà thực sự không thoải mái, không hài lòng, vì các em chưa được đitìm, chỉ là công nhận kết quả Cái này một phần ở hệ thống kiến thức phải tiếpnhận còn nặng nề, tâm lí học để thi cử, một phần do lối mòn dạy học tạo nên

+ Việc dạy học ngữ văn còn vấp phải những rào cản lớn không thể không

kể đến, đó là thói quen thụ động trong học tập và chiếm lĩnh kiến thức của họcsinh, đặc biệt, sự lép vế của các môn xã hội trong xu hướng chọn ngành nghềdấn đến không có nhiều học sinh thật sự yêu thích, đam mê môn Văn

+ Trong khi đó, tư duy độc lập, góc nhìn con người cá nhân, ý kiến riêng củangười viết lại vô cùng cần thiết, trước hết là ở ngay trong chính những bài thi, đềthi, đáp ứng với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá Trong những năm gần đây, BộGD&ĐT yêu cầu toàn ngành phải có những đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh.Theo đó, hướng kiểm tra, đánh giá, ra đề thi của môn Ngữ văn có mấy điểm tíchcực sau đây :

* Đề thi mở : đây là hướng ra đề nhằm phát huy tính tích cực, chủ độngtrong suy nghĩ, luận giải của học sinh Không có một đáp án duy nhất, chỉ cầnhọc sinh trình bày, lập luận vấn đề, thuyết phục được người đọc theo cách nghĩcủa mình một cách hợp lí, đều được chấp nhận và đánh giá cao

* Đề thi yêu cầu tính phản biện : đây là dạng đề thi mới, với yêu cầu chốngviệc học vẹt, học tủ, ghi nhớ kiến thức máy móc Học sinh có kiến thức cũngchưa chắc đã làm tốt được mà đòi hỏi phải có khả năng vận dụng kiến thứcmột cách linh hoạt sáng tạo

+ Thực tế cuộc sống cũng cho chúng ta thấy một điều, học sinh dám nghĩ,dám nói những điều mà các em thấy, các em hiểu, thậm chí có thể thấy và hiểusai lệch, vẫn dám thẳng thắn ra ý kiến, lập luận cho bằng thuyết phục điều màcác em cho là đúng Nhiều khi, nó đi ngược lai với những giá trị truyền thống.Nhiệm vụ của chúng ta là phát huy suy nghĩ độc lập của các em, nhưng dẫn dắt

và định hướng để các em nghĩ theo chiều hướng tích cực nhất, bảo vệ những giátrị cơ bản của cuộc sống được phản ánh trong văn chương và cũng từ nhữnghiểu biết trong tác phẩm, các em bước ra ngoài cuộc sống tốt hơn, tích cực hơn

- Là giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi luôn trăn trở, kiếm tìm những giảipháp cho mỗi giờ học, nhằm kéo học sinh trở về với niềm yêu thích môn văn,truyền cho các em hứng thú tìm hiểu các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của một vănbản văn học, gắn văn chương với đời sống, không chỉ học để thi, không biến giờ

Trang 7

học chỉ để “tải đạo”, “ngôn chí” mà để sống trong đời thực sao cho vừa hiện đại,vừa gìn giữ được những tiêu chí căn cốt của con người trên cơ sở những giá trịđạo đức tốt đẹp Ở phạm vi của đề tài, tôi cố gắng chuyển hoá ý tưởng bằng việclồng ghép mục tiêu dạy học, hình thành cho học sinh những năng lực tư duy độclập bồi đắp ở học sinh những quan điểm, tư tưởng tích cực, tôn trọng nhữngphát hiện của cá nhân, khơi dậy khả năng dám nói, giám nghĩ, góp phần hìnhthành phẩm chất người học hiện đại trong một thiết kế giờ dạy đọc văn Tôi vậndụng kết hợp các phương pháp, phương tiện, kĩ thuật, kiến thức liên môn trongtừng phần của thiết kế Tôi chú trọng khai thác tư duy độc lập, khả năng phảnbiện của học sinh, dân chủ trong cái nhìn, trong ứng xử, trong tranh luận vàhướng các em tới những giá trị văn trong một vài điểm nhấn của bài học

“Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn” Bước đầu, tôi đã thu nhận được những kếtquả đáng ghi nhận từ đối tượng là học sinh của trường THPT Lê Hồng Phong –Bỉm Sơn

3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

- Tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh thông qua tình huống phản biện, Tạokhông khí đối thoại tự do, dân chủ, trân trọng quan điểm cá nhân, màu sắc cáthể, tôn trọng ý kiến người học, ngay cả khi đó là những quan điểm cực đoan

- Tổ chức cho học sinh tranh luận, phản biện, đối thoại, khơi gợi để học sinh cóthể “ trải lòng”, thể hiện chính xác những điều mình nghĩ, những thứ mình muốnnói: Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong tiết đọc văn cụ thể,hướng tới các mục tiêu khác nhau, trong đó có mục tiêu rèn luyện tư duy độclập, khả năng phản biện của học sinh Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích

cực như: nêu vấn đề, nêu câu hỏi, kĩ thuật mảnh ghép, khăn phủ bàn, động não (hay công não), bể cá, hay tia chớp… Trong giới hạn của đề tài này, tôi muốn đi

sâu vào khai thác bài học “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn” trên cơ sở pháttriển duy độc lập của học sinh để vừa khơi dậy được con người độc lập, conngười cá nhân trong quan điểm, cách nhìn vừa hướng các em tới cách sống tráchnhiệm, cách ứng xử văn hóa, tích cực

- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức học văn là học cách tư duy, học cách thể hiệncon người nhân cách, bản lĩnh , học đời sống, học cách ứng xử văn hóa, học đạođức làm người hiện đại bên cạnh những năng lực khác mà con người hướng tới

- Xây dựng hệ thống bài tập, đề kiểm tra phát triển con người độc lập, con ngườisẵn sàng nhập cuộc, con người văn hóa, con người đạo đức phẩm chất tốt đẹptrong mỗi học sinh

3.1 Lí thuyết chung về việc đưa tinh thần dân chủ hóa vào tiết học ngữ văn, phát triển tư duy độc lập cho học sinh, làm cho học sinh cảm nhận được mỗi giờ học văn là một giờ hạnh phúc.

* Dân chủ và dân chủ hóa

- Khái niệm này vốn dĩ có nghĩa gốc là do dân làm chủ TS Huỳnh Công Minh

có lần chia sẻ: Dân chủ là một chế độ tiến bộ của xã hội, ở đó mọi người dân đềuđược tôn trọng, có quyền tự do bình đẳng, được luật pháp bảo vệ Nhân loại đãphải mất bao nhiêu công sức, hy sinh cả xương máu đấu tranh để xây dựng vàphát triển dân chủ, phát huy tốt bản chất nhân văn của con người

Trang 8

- Dân chủ trong giờ học chính là trao cho các em niềm tin vào năng lực củachính mình, tin mình có thể thẻ hiện quan điểm, lập trường nhận thức cá nhân vàđươc tôn trọng, tin rằng sẽ nhận được sự công bằng, khách quan, trong đánh giá,tin rằn tiếng nói của cá nhân mình sẽ được lắng nghe, được phân tích và đượchiểu.

- Dân chủ hóa giờ học văn là đưa tư tưởng dân chủ vào giờ học, vào nhận thức,tình cảm của người học Và người dạy phải đặc biệt coi trọng tinh thần dân chủbên cạnh chú ý đến mục tiêu giáo dục, phát triển năng lực Việc quan tâm đến sựsáng tạo và niềm hạnh phúc trong các em học sinh cần phải đồng hành cùngnhau trong giờ học văn Giờ học văn thật sự là giờ học hạnh phúc khi tất cả mọithành viên trong lớp học đều được sống thực với cảm xúc, nghĩ và nói thốngnhất Kết quả đạt được và tình yêu môn học trong một tiết học văn phải songhành cùng nhau Người học không chỉ hiểu văn, mà còn phải sống với nó, yêuquý nó, tự hào về nó

* Ý nghĩa của tinh thần dân chủ trong giờ học:

- Hiện nay, một trong những luận điểm cơ bản của quá trình đổi mới phươngpháp dạy học văn trong nhà trường là đề cao vai trò chủ động, tích cực của họcsinh , coi “học sinh là bạn đọc sáng tạo” Với luận điểm này, quá trình dạy họcvăn sẽ là những cuộc đối thoại bình đẳng, phong phú và sinh động giữa nhữngngười đọc văn trong một không khí học tập cởi mở, có định hướng

- Mối quan hệ giao tiếp thật sự giữa các chủ thể tiếp nhận văn học được xác lập,tất cả để hướng đến mục tiêu cao nhất là trong những giờ học văn, học sinh đượctrở thành người đọc văn đích thực, được nói lên tiếng nói cảm nhận, rung độngnghệ thuật của mình; và hiệu quả tiếp nhận văn học của học sinh không chỉ đượchình thành từ quá trình đối thoại với chính mình mà còn có sự đóng góp rất tíchcực của quá trình đối thoại với những người đọc khác Vì thế, thiết kế những giờhọc đối thoại trong dạy học văn được coi là một hướng đi rất đáng chú ý, cụ thể:+ GV cần phải xác định được phương pháp và hình thức đối thoại áp dụng trongmỗi tiết học, mỗi bài học khác nhau

+ Tạo không khí dân chủ trong giờ học

+ Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề

+ Giúp học sinh đối thoại trong hoạt động phân tích và bình quá, áp dụng thựctiễn

* Tư duy độc lập:

- Tư duy độc lập là lối tư duy không dập khuôn theo lối mòn; là khả năng

tự nghiên cứu, tự tìm hiểu học hỏi và đúc kết lại như một kinh nghiệm

- Tư duy độc lập là một dạng kỹ năng tư duy phân tích, tư duy phản biện

* Ý nghĩa của tư duy độc lập

- Giúp mỗi người có thể đối diện và xử lý hàng loạt các vấn đề luôn chờtrực xảy ra trong thế giới mà biến động tính theo từng giây

Tư duy độc lập thể hiện rõ cái tôi của một người về chính bản thân mỗingười trong cuộc sống, giúp khẳng định được con người cá nhân, cá tính, độcđáo và duy nhất; giúp cho việc đưa ra các thông tin thực sự hợp lý và đúng đắntheo nhận thức riêng của mỗi người, không bị chi phối và lệ thuộc

Trang 9

Những người có tư duy độc lập thường nhận được những khả năng tiềm

ẩn nơi mình; họ biết phát huy khả năng vốn có và đạt đến thành công trong cuộcsống

=> Phát triển, phát huy tư duy độc lập của học sinh là nhằm phát triểnlòng tự trọng, tự tin và khả năng suy nghĩ độc lập để giải quyết vấn đề khó khăngặp phải trong cuộc sống

3.2 Thực hiện “ Dân chủ trong giờ học ngữ văn - hướng tới giờ học thông minh, giờ học hạnh phúc – Bài học“Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”

- Tiến hành bài học theo giáo án đã soạn với các bước của một giáo án hướng tới

sự phát triển năng lực tư duy độc lập của người học ( Phụ lục đính kèm)

Các hoạt động tổ chức giờ dạy học nhằm mục tiêu chung: Thấy

được mục đích, tầm quan trọng của phỏng vẫn và trả lời phỏng vấn trong đời sống; Nắm được những yêu cầu cơ bản và cách thức thực hiện phỏng vấn cũng như trả lời phỏng vấn.

GV đặt câu hỏi:

Câu hỏi chung : - Kể lại một số hoạt động phỏng vấn mà em biết?

HS phân tích, kết nối và trả lời câu hỏi

GV khơi gợi vấn đề phản biện, phát triển tư duy độc lập , phát huy tinh thần dân chủ :

? Có bạn nào cho rằng, phỏng vấn và trả lời phỏng vấn là một hoạt động mang tính chất hình thức, không phục vụ cho các nhu cầu trực tiếp của đời sống xã hội hay không?

+ Với câu gợi ý này, học sinh có thể nhìn nhận ra nhiều vấn đề: rõ ràng,

nó là một bài học có tính chất của lý thuyết trong chương trình SGK, nó chủ yếudiễn ra khi có các sự kiện, sự việc, khi nảy sinh các tình huống có vấn đề Phỏngvấn và trả lời phỏng vấn thường thấy trên báo đài, trên ti vi, trên các chươngtrình trò chuyện, quảng cáo

+ Với câu hỏi này, học sinh có thể phát hiện được vấn đề ngược lại: Nókhông phải là thuần túy lí thuyết, nó gắn chặt với đời sống, nó phục vụ trực tiếpcho các nhu cầu xã hội của con người, nó gắn liền với những vấn đề nóng, mới,gây tranh luận, trong các trường hợp muốn đi đến một cách thức đúng đắn, mộtchân lí cụ thể

Các em đã có một cuộc thảo luận sôi nổi về mục đích của việc phỏng vấn

và trả lời phỏng vấn, hiểu biết về các trường hợp phải sử dụng đến kĩ năng nghe,nói trong đời sống, được tiếp nhận thêm những thông tin lí thú về các trườnghợp thực hiện phỏng vấn và nhận ra được tính chất đa dạng và cần thiết của hoạtđộng phỏng vấn

(Khi các em thảo luận, cắt nghĩa, giáo viên gợi ý và đi đến hướng dẫn đểcác em tiếp nhận một cách tự nhiên nhất về mục đích, yêu cầu, tầm quan trọngcủa phỏng ván và trả lời phỏng vấn trong đời sống xã hội

Trang 10

Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm đọc và tìm lời giải đáp cho câu hỏi tình huống của mình Mỗi câu hỏi đặt ra, đều có những gợi ý trong quá trình học sinh trình bày.

- Tiến hành thảo luận Socratic trong các tình huống sau:

Nhóm 1

- Từ thực tiễn đời sống vừa tìm hiểu, anh chị hãy nói về khái niệm, mụcđích, yêu cầu của Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn?

( có thể thay thế bằng hai câu hỏi nhỏ

- Mục đích của việc phỏng vấn và trả lời phỏng vấn ?

- Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn có vai trò gì đối với xã hội?

HS phân tích, suy luận trả lời câu hỏi

GV khơi gợi vấn đề phản biện, phát triển tư duy độc lập:

* Các cuộc hỏi đáp mà em gặp có phải đều là phỏng vấn và trả lời phỏng vấn?

- Các em học sinh lí trả lời câu hỏi của cô giáo, các học sinh khác bày tỏ băn khoăn bằng câu hỏi, tìm cách lí giải Vấn đề dần được làm sáng tỏ khi các em

chỉ ra đúng khái niệm phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

- Sau khi thảo luận, học sinh rút ra kết luận và tập trung đến cách hiểu câu hỏi tình huống.

- Kết quả thảo luận học trò tự rút ra trên phiếu học tập

Kết quả cần đạt sau quá trình thảo luận:

Trang 11

Nhóm 2: Trước khi phỏng vấn ta cần chuẩn bị những gì?

GV khơi gợi vấn đề phản biện, phát triển tư duy độc lập:

- Có ý kiến cho rằng, Phỏng vấn thực ra là một hoạt động tôn trọng những suy nghĩ tự nhiên, nên không nhất thiết phải chuẩn bị nhiều Kể cả người phỏng vấn lẫn người trả lời phỏng vấn Anh chị hiểu như thế nào?

Hs đã thảo luận bày tỏ quan điểm, đi tìm chân lí bằng cách lắng nghe, sàng lọc, phân tích và rút ra kết luận chung

GV gọi học sinh trình bày kết luận Kết quả trên phếu học tập của học sinh.

Kết quả cần đạt được sau thảo luận:

Ngày đăng: 06/06/2022, 19:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Sách giáo viên Ngữ văn 10 (Tập 1, Chương trình cơ bản), Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 10 (Tập 1, Chương trình cơ bản
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục
3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Phan Trọng Luận ( chủ biên), Thiết kế bài học Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 10, tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
7. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Quốc gia Hà Nội
4. Tài liệu Skkn phát huy khả năng phản biện của học sinh thpt trong dạy học văn ( Nguồn Internet) Khác
6. Trần Đình Sử, Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn Khác
9. Phát triển tư duy phản biện trong dạy học văn qua hình thức thảo luận Socratic ( Nguồn Internet) Khác
10. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn THPT Nguyễn Thúy Hồng Nguyễn Quang Ninh, Nhà xuất bản Giáo Dục 2008 Khác
11. Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường Nguyễn Huy Quát - Hoàng Hữu Bội, Nhà xuất bản Giáo Dục- 2001 Khác
12. Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa- Lê Nguyên Cẩn – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.3 Kết quả chung của hình thức tổ chức phát huy tính dân chủ, phát triển tư duy độc lập, khả năng phản biện của người học, xây dựng giờ học tích cực, hạnh phúc:     - (SKKN 2022) Dân chủ trong giờ học ngữ văn - hướng tới giờ học thông minh, giờ học hạnh phúc Bài họcPhỏng vấn và trả lời phỏng vấn
3.3 Kết quả chung của hình thức tổ chức phát huy tính dân chủ, phát triển tư duy độc lập, khả năng phản biện của người học, xây dựng giờ học tích cực, hạnh phúc: (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w