1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) đa dạng hóa hoạt động luyện tập nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn GDCD 12

24 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 908,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 5 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP

NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12

Người thực hiện: Nguyễn Thị Toan Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn SKKN thuộc môn: Giáo dục công dân

THANH HÓA NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 1 MỞ ĐẦU 2

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 4

2 NỘI DUNG 4

2.1 Cơ sở lí luận 4

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 7

2.3.1 Luyện tập bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm 7

2.3.2 Luyện tập bằng sử dụng các tình huống, câu chuyện pháp luật 9

2.3.3.Luyện tập bằng thiết kế sơ đồ tư duy 12

2.3.4 Luyện tập bằng tổ chức trò chơi 14

2.3.5 Luyện tập bằng " dính giấy note” hoặc “trọng tâm vào chìa khóa” 15

2.4 Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 17

2.4.1 Đối với hoạt động giáo dục 17

2.4.2 Đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 18

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 19

3.1 Kết luận 19

3.1.1 Bài học kinh nghiệm

19 3.1.2 Khả năng ứng dụng và phát triển sáng kiến kinh nghiệm 19

3.2 Kiến nghị 19

3.2.1 Đối với đồng nghiệp 19

3.2.2 Đối với các cấp lãnh đạo 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN 21

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Sau gần 9 năm thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW (04/11/2013) về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nền giáo dục nước ta đã đạt được nhiềuthành quả quan trọng song cũng còn những hạn chế, khó khăn cần khắc phục Vì

vậy, Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, “Chú trọng hơn giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi ”[1]

Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, bên cạnh sự nỗ lực của các cấp quản lýngành giáo dục thì vai trò của mỗi giáo viên cũng là yếu tố then chốt Giáo viênkhông chỉ là người truyền thụ tri thức mà còn là người truyền cảm hứng, giúphọc sinh phát huy tính sáng tạo, khả năng tương tác để vận dụng kiến thức đãhọc vào thực tiễn cuộc sống Vậy nên mỗi giáo viên cần chủ động tự thay đổimình, làm mới công việc của mình, bắt đầu đổi mới từ chính những giờ lên lớp,

từ chính những trang giáo án Mỗi thầy cô cần linh hoạt trong lựa chọn phươngpháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giáphù hợp để kích thích được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như

William A.Warrd đã từng nói: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng.”

Chính vì vậy, đa số giáo viên hiện nay đều có tinh thần tự đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh; tuy nhiên phần lớncác thầy cô giáo đều hướng đến việc đổi mới trong hoạt động khởi động và hìnhthành kiến thức là chủ yếu, chưa quan tâm đúng mức tới hoạt động luyện tậpcũng như vai trò của hoạt động luyện tập trong dạy học Cụ thể, giáo viênthường thực hiện hoạt động này một cách nhanh chóng, đại khái thông qua mộtvài câu hỏi trắc nghiệm nhanh hoặc thông qua tổng kết chủ quan của bản thân,chưa chú ý nhiều đến việc tạo điều kiện để học sinh thấy được giá trị của bài học

và cơ hội vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống của các em

Đối với bộ môn Giáo dục công dân nói chung, bài học Giáo dục công dân

12 nói riêng với đặc thù kiến thức là các nội dung về bản chất, vai trò của phápluật, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, việc giúp học sinh hiểu rõ được

ý nghĩa bài học và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống có vai trò đặcbiệt quan trọng trong việc định hướng sự phát triển về nhân cách, thái độ sống,học tập và lao động của học sinh trong tương lai Tuy nhiên, thực tế trong hoạtđộng này học sinh vẫn đóng vai trò thụ động lắng nghe, cảm xúc, hứng thú mới

chỉ dừng lại ở sự “lây lan” từ giáo viên sang học sinh chứ không phải được khơi

dậy, hình thành từ hoạt động của bản thân các em

Trang 4

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên: do xu hướng phát triển củathời đại khoa học, nhu cầu của xã hội, yêu cầu của nghề nghiệp, sự định hướngcủa gia đình Song một trong những nguyên nhân chủ yếu đó là do phương phápcủa giáo viên chưa tạo được hứng thú và niềm say mê học tập ở học sinh, hìnhthức luyện tập còn đơn điệu, nhàm chán, rời rạc và cứng nhắc nên chưa làm chohọc sinh thấy được, hiểu được ý nghĩa của bài học với sự phát triển, bồi dưỡng giátrị sống tích cực cho bản thân

Là giáo viên dạy Giáo dục công dân, đặc biệt là dạy chương trình môn

Giáo dục công dân 12, tôi luôn xác định rằng:“Muốn khơi dậy niềm đam mê, bồi đắp tình yêu lâu bền của học sinh đối với môn học cần phải chú trọng đổi mới không chỉ trong hoạt động khởi động; hình thành kiến thức mà cả trong hoạt động luyện tập của bài học”

Xuất phát từ những lí do trên và qua nhiều năm giảng dạy, tôi đã chọn đề

tài: “Đa dạng hóa hoạt động luyện tập nhằm phát huy tính tích cực của học

sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân 12” làm sáng kiến kinh nghiệm

của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc tổ chức hoạt động luyện tập trong mỗitiết học Giáo dục công dân nói chung và Giáo dục công dân 12 nói riêng

- Đề xuất các giải pháp đổi mới trong tổ chức hoạt động luyện tập bài học

ở các tiết dạy Giáo dục công dân 12

- Nâng cao kết quả học tập môn Giáo dục công dân 12

- Rèn luyện, nâng cao kĩ năng sống cho học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu nội dung chương trình Giáo dục công dân 12 và việc học tậpcủa học sinh đối với bài học

- Học sinh khối 12 trường THPT Triệu Sơn 5

- Giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân – trường THPT Triệu Sơn 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu của phép biện chứng duy vật: Lôgic, lịch sử,phân tích, tổng hợp, so sánh

- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn

- Phương pháp thực nghiệm

1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

- Thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, đa dạng hóa hìnhthức dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá đối với môn Giáo dục công dân

- Hình thành và phát triển cho người học các phẩm chất, năng lực cốt lõi

và đặc thù mà chương trình phổ thông mới đang hướng tới, bao gồm:

+ Phẩm chất: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm

+ Năng lực cốt lõi: Năng lực tự học và tự chủ, năng lực giao tiếp và hợptác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

+ Năng lực đặc thù: Năng lực phát triển bản thân, năng lực điều chỉnhhành vi, năng lực tư duy phê phán

Trang 5

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Giải thích một số khái niệm

- “Luyện tập”: là “rèn luyện cho thành thạo”.[2]

- “Tính tích cực của học sinh”: Có thể là tích cực trong học tập, trong

hoạt động trải nghiệm sáng tạo hay cả trong các hoạt động vui chơi Với đề tàinày, tôi xin được đề cập tới khái niệm tích cực của học sinh trong nhận thức học

tập: “Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức cao các chức năng tâm lí (như hứng thú, chú ý, ý chí ) nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao.”[3]

2.1.2 Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo

cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.”[4]

Đáp ứng yêu cầu đó, Bộ Giáo dục và đào tạo có Công văn số5555/BGDĐT-GDTrH, 08/10/2014 cụ thể hóa những yêu cầu đổi mới phương

pháp theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh: “Hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh.”[5]

Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”[1]

Ngoài ra, yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học còn được cụ thểhóa trong các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm của BộGiáo dục và đào tạo; hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục

và đào tạo; kế hoạch năm học của nhà trường và của mỗi giáo viên

2.1.3 Vai trò của hoạt động luyện tập trong dạy học

Giáo dục công dân 12

Hoạt động luyện tập hay hoạt động củng cố kiến thức (theo cách gọi cũ)

như NM.LACOPLEP đã khẳng định: “là khâu không thể thiếu trong quá trình giảng dạy Nó thể hiện được tính toàn vẹn của bài giảng Thông qua việc củng

cố, ôn luyện mà giáo viên có thể khắc sâu kiến thức cho học sinh”.

Bài giảng dù hay, hấp dẫn đến đâu nếu không làm tốt hoạt động luyện tậpthì cũng có thể coi là chưa hoàn thiện Như vậy, luyện tập là giai đoạn chốt lại

Trang 6

những tri thức, kĩ năng quan trọng đã truyền thụ; là căn cứ quan trọng để đánhgiá hiệu quả giáo dục của tiết học

Có thể khẳng định hoạt động luyện tập giữ vai trò quan trọng trong quá

trình dạy học Cụ thể:

Đối với học sinh: Giúp học sinh nhớ tốt các kiến thức đã học; giúp họcsinh rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức; rèn luyện cách diễn đạt, trả lời, táihiện; hệ thống hóa lại các kiến thức đã học

Đối với giáo viên: Giúp giáo viên đánh giá được chất lượng bài dạy; mức

độ lĩnh hội kiến thức của học sinh, từ đó có biện pháp bổ sung, sửa chữa kịp thờiphương pháp lên lớp của mình

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Để làm rõ thực trạng việc thiết kế và thực hiện hoạt động luyện tập tronggiờ học Giáo dục công dân 12, tôi đã tiến hành một số khảo sát sau:

Bảng 1: Khảo sát việc thiết kế và thực hiện hoạt động luyện tập của giáo viên dạy học Giáo dục công dân 12

được khảo sát Tỉ lệ (%)

- Kiểm kê kiến thức của học sinh 2 66,7

- Củng cố, hoàn thiện kiến thức, biến những

5 Mức độ thu hút học sinh của luyện tập 3 100

Bảng 2: Khảo sát hiệu quả của việc tổ chức hoạt động luyện tập

trong dạy học Giáo dục công dân 12

được khảo sát Tỉ lệ (%)

1 Em có hào hứng với hoạt động luyện tập trong 280 100

Trang 7

tiết học không?

2 Hoạt động luyện tập có giúp em tổng hợp lại

kiến thức đã học của bài không?

Đa số giáo viên bộ môn trong quá trình thiết kế các hoạt động dạy học đều

có phần củng cố kiến thức (thực chất là một hình thức luyện tập) để khái quát,tổng kết nội dung bài học

Đa số học sinh đều có nhu cầu có được hoạt động luyện tập sinh động,hấp dẫn để kích thích tư duy của các em, chủ động vận dụng kiến thức vừa tiếpthu được ở hoạt động hình thành kiến thức

Hạn chế:

Đa số giáo viên thường luyện tập bằng cách gọi một học sinh đứng dậy trảlời một vài câu hỏi trắc nghiệm nhanh hoặc giáo viên sẽ thực hiện luôn bằngphương pháp thuyết trình Hoạt động luyện tập còn mang tính hình thức

Hoạt động luyện tập diễn ra vào thời điểm cuối của tiết học nên học sinhthường lơ là, chưa có sự hứng thú, chưa có động lực để học tập tích cực

*Nguyên nhân:

Nguyên nhân khách quan:

Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là phương pháp đã được nói đếnnhiều trong vài năm trở lại đây Tuy nhiên, hiện nay những tiết học thực sự đổimới để giáo viên có thể tham khảo và học hỏi còn hạn chế

Chương trình kiểm tra, thi ở môn học hiện nay còn phân bố số điểm tươngđối nhiều cho việc ghi nhớ Do đó, giáo viên khi dạy còn áp lực nhiều về việccung cấp đủ kiến thức cho học sinh

Nguyên nhân chủ quan:

Đối với giáo viên:

Một số giáo viên bộ môn chưa chủ động trong việc học hỏi, tiếp thuphương pháp và kĩ năng dạy học tích cực để vận dụng trong quá trình dạy học

Tâm lí giáo viên còn nặng về truyền thụ kiến thức bài học mới, còn sợ

dành nhiều thời gian cho hoạt động luyện tập có thể bị “cháy giáo án”.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong một số tình huốngchưa tốt

Trang 8

Đối với học sinh:

Nhiều học sinh có tâm lí học lệch, thiên về các môn khoa học tự nhiênnên ở các môn khoa học xã hội, đặc biệt là môn Giáo dục công dân còn chưa có

sự đầu tư, chưa quan tâm đến việc chuẩn bị bài, dẫn đến tiết học còn thụ động

Áp lực học nhiều bộ môn khác nhau trong cùng một buổi học nên khả năngtập trung tư duy tích cực và sáng tạo dành cho môn Giáo dục công dân còn ít

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Luyện tập bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm

Việc sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cuối mỗi tiết học là hình thứcluyện tập mà được nhiều giáo viên lựa chọn Thông qua các đáp án cho sẵn họcsinh sẽ phải lựa chọn, từ đó ghi nhớ nhanh và lâu hơn, đồng thời cũng nhẹ nhànghơn rất nhiều khi yêu cầu học sinh nhớ lại và trình bày một khối lượng kiến thứctoàn bài ở cuối mỗi tiết học Đây cũng là hình thức giúp các em làm quen với kỹnăng trả lời câu hỏi trắc nghiệm, chuẩn bị tốt cho các kì thi học kì, thi học sinhgiỏi và thi tốt nghiệp Trung học phổ thông

Ví dụ 1: Thiết kế hoạt động luyện tập Bài 1: Pháp luật và đời sống (Tiết 1)

*Mục tiêu:

- Củng cố kiến thức về khái niệm và các đặc trưng của pháp luật

- Rèn luyện năng lực tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giảiquyết vấn đề cho học sinh

*Nội dung: Nghe và trả lời các câu hỏi trắc nghiệm liên quan đến bài học

bằng kĩ thuật động não.

Câu 1: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước xây dựng, ban hành

và được bảo đảm thực hiện bằng

A các văn bản pháp luật B quyền lực nhà nước.

C cơ quan nhà nước D Hiến pháp, pháp luật.

Câu 2: Nội dung cơ bản của pháp luật bao gồm

A các chuẩn mực, quy tắc của xã hội đề ra.

B các quy tắc của cơ quan có thẩm quyền.

C quy định về quyền và nghĩa vụ công dân

D việc được làm, phải làm, không được làm.

Câu 3: Những quy tắc xử sự chung, khuôn mẫu chung, được áp dụng nhiều lần, ở

nhiều nơi, đối với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực thể hiện pháp luật có

A tính quy phạm phổ biến B tính quyền lực, bắt buộc chung

C tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức D tính phổ biến rộng rãi.

Câu 4: Đặc trưng nào làm nên giá trị công bằng, bình đẳng của pháp luật?

A Tính quy phạm phổ biến B Tính quyền lực, bắt buộc chung.

C Tính chặt chẽ về mặt hình thức D Tính nghiêm minh của pháp luật.

Câu 5: Đặc trưng nào dưới đây là đặc điểm để phân biệt sự khác nhau giữa pháp luật

với quy phạm đạo đức?

A Tính quyền lực, bắt buộc chung B Tính cưỡng chế, bắt buộc.

C Tính chặt chẽ về mặt hình thức D Tính quy phạm phổ biến.

Câu 6: Đặc trưng nào dưới đây là ranh giới để phân biệt sự khác nhau giữa pháp luật

với quy phạm xã hội khác?

A Tính quyền lực, bắt buộc chung B Tính cưỡng chế, bắt buộc.

C Tính chặt chẽ về mặt hình thức D Tính quy phạm phổ biến.

Trang 9

Câu 7: Ở nước ta, chủ thể nào dưới đây có quyền công bố luật?

A Chính phủ B Quốc hội C Chủ tịch nước D Thủ tướng Chính phủ.

Câu 8: Trong các văn bản quy phạm pháp luật dưới đây, văn bản nào có hiệu lực pháp

lý cao nhất?

A Hiến pháp C Luật B Bộ luật Hình sự D Bộ luật Dân sự.

Câu 9: Ở nước ta việc soạn thảo, thông qua Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục,

trình tự giải thích Hiến pháp do chủ thể nào quy định?

A Chính phủ B Quốc hội C Chủ tịch nước D Thủ tướng Chính phủ.

Câu 10: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt

trong gia đình” thể hiện đặc trưng nào của pháp luật?

*Tổ chức thực hiện:

- Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên trình chiếu câu hỏi trắc nghiệm, học

sinh theo dõi

- Thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh suy nghĩ, thảo luận; giáo viên

theo dõi, hỗ trợ

- Báo cáo, thảo luận: Giáo viên có thể gọi mỗi học sinh trả lời một câu,

hoặc nhiều học sinh cùng lên trình bày kết quả để có cơ sở so sánh và đối chiếucũng như đánh giá mức độ nhận thức chung của các học sinh với bài học

- Kết luận, nhận định: Giáo viên đưa ra các kết quả chính xác nhất, nhận

xét, đối chiếu và so sánh kết quả để có căn cứ điều chỉnh nội dung dạy học

Ví dụ 2: Thiết kế hoạt động luyện tập Chủ đề: Công dân bình đẳng trước pháp luật (Tiết 1)

*Mục tiêu:

- Củng cố khái niệm, nội dung công dân bình đẳng trước pháp luật

- Rèn luyện năng lực hợp tác và giao tiếp, tìm kiếm và xử lí thông tin

*Nội dung: Nghe và trả lời các câu hỏi trắc nghiệm liên quan đến bài học

bằng kĩ thuật động não.

Câu 1: Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân được hưởng quyền và nghĩa vụ

như nhau, nhưng mức độ sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu phụ thuộc nhiều vào yếu tố nào dưới đây?

A Khả năng về kinh tế, tài chính B Khả năng, điều kiện và hoàn cảnh.

C Các mối quan hệ xã hội D Trình độ học vấn cao hay thấp.

Câu 2: Mọi công dân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đều được ứng cử vào

Hội đồng nhân dân các cấp là thể hiện bình đẳng về

A bổn phận B trách nhiệm C quyền D nghĩa vụ.

Câu 3: Theo quy định của pháp luật, bình đẳng về trách nhiệm pháp lí có nghĩa là bất

kì công dân nào vi phạm pháp luật đều

A được giảm nhẹ hình phạt B được đền bù thiệt hại.

C bị xử lí nghiêm minh D bị tước quyền con người.

Câu 4: Công dân dù ở cương vị nào, khi vi phạm pháp luật đều bị xử lí theo quy định

có nghĩa là

Trang 10

A công dân bình đẳng về kinh tế B công dân bình đẳng về nghĩa vụ.

C công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lí D công dân bình đẳng về quyền.

Câu 5: Hiến pháp năm 2013 quy định mọi công dân đều

A bình đẳng về quyền lợi B bình đẳng trước pháp luật.

C bình đẳng trước Nhà nước D bình đẳng về nghĩa vụ.

Câu 6: Anh A sống độc thân, anh B có mẹ già và con nhỏ Cả 2 anh làm việc cùng một

cơ quan và có cùng một mức thu nhập Cuối năm anh A phải đóng thuế thu nhập cao hơn anh B Điều này thể hiện

A bình đẳng về trách nhiệm pháp lí B sự bất bình đẳng.

C bình đẳng về quyền và nghĩa vụ D sự mất cân đối.

Câu 7: Bất kì công dân nào vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm

A hòa giải B điều tra C liên đới D pháp lí.

Câu 8: Mọi công dân không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, thực hiện

nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm pháp lí theo quy định của pháp luật là

A bình đẳng về trách nhiệm pháp lí B bình đẳng trước pháp luật.

C bình đẳng về quyền và nghĩa vụ D bình đẳng về quyền con người.

Câu 9: Bình đẳng quyền và nghĩa vụ có nghĩa là bình đẳng về hưởng quyền và làm

nghĩa vụ trước

A gia đình theo quy định của dòng họ.

B tổ chức, đoàn thể theo quy định của Điều lệ.

C tổ dân phố theo quy định của xã, phường.

D Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật.

Câu 10: Ở nước ta quyền bình đẳng của công dân được quy định trong văn bản nào

*Tổ chức thực hiện:

- Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên trình chiếu câu hỏi trắc nghiệm, học

sinh theo dõi

- Thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh suy nghĩ, thảo luận; giáo viên

theo dõi, hỗ trợ

- Báo cáo, thảo luận: Giáo viên có thể gọi mỗi học sinh trả lời một câu,

hoặc nhiều học sinh cùng lên trình bày kết quả để có cơ sở so sánh và đối chiếucũng như đánh giá mức độ nhận thức chung của các học sinh với bài học

- Kết luận, nhận định: Giáo viên đưa ra kết quả chính xác nhất, nhận xét,

đối chiếu và so sánh kết quả của cả lớp để có căn cứ điều chỉnh nội dung dạy học

2.3.2 Luyện tập bằng sử dụng các tình huống, câu chuyện pháp luật

Sử dụng các tình huống, câu chuyện pháp luật sẽ tạo được ấn tượng sâusắc, mạnh mẽ, khơi dậy niềm đam mê, sự tự tin và hứng thú trong học tập của

học sinh; giúp học sinh nắm vững kiến thức theo nguyên lí:“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”[6] Mặt khác vớinhững tình huống, câu chuyện pháp luật đã chứng minh nó có sức mạnh thứctỉnh lòng trắc ẩn tiềm tàng ở mỗi con người Từ đó mà học sinh đã tự giác vàchủ động điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tích cực Tạo hứng thú cho

Trang 11

học sinh sau khi kết thúc tiết học và có cảm xúc chờ đợi những điều thú vị củanhững tiết học mới

Ví dụ 1: Thiết kế hoạt động luyện tập Bài 6: Công dân với các quyền tự

do cơ bản (Tiết 2)

Mục tiêu:

- Củng cố kiến thức về quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sứckhỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân

- Rèn luyện năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề

*Nội dung: Học sinh xem video “Nữ sinh Trà Vinh đánh bạn bị u não”[7] và trả lời các câu hỏi do giáo viên đưa ra bằng kĩ thuật sơ đồ tư duy.

1 Hành vi của bạn học sinh nữ đó đã vi phạm quyền tự do cơ bản nào củacông dân?

2 Biểu hiện của quyền tự do cơ bản đó qua video?

3 Câu chuyện có ý nghĩa gì đối với bản thân em?

4 Em thấy mình cần phải làm gì để thực hiện trách nhiệm của bản thânvới quyền tự do cơ bản đó?

*Sản phẩm:

*Tổ chức thực hiện:

- Chuyển giao nhiệm vụ: Học sinh điền vào sơ đồ tư duy theo hệ thống

câu hỏi

- Thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh làm việc theo nhóm hoặc cá nhân

vẽ vào giấy A4 sau đó thu lại làm cơ sở để theo dõi khả năng tiếp thu bài và làmviệc của học sinh Giáo viên theo dõi, hỗ trợ

- Báo cáo, thảo luận: Một số học sinh lên trả lời, các học sinh khác nhận

xét, bổ sung

- Kết luận, nhận định: Giáo viên đưa ra các kết quả chính xác nhất, nhận

xét, đối chiếu và so sánh kết quả của cả lớp để từ đó có căn cứ điều chỉnh nộidung dạy học

Ví dụ 2: Thiết kế hoạt động luyện tập Bài 2: Thực hiện pháp luật (Tiết 3)

Trang 12

*Mục tiêu:

- Củng cố kiến thức về các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí

- Rèn luyện năng lực tư duy phê phán, năng lực giải quyết vấn đề

*Nội dung: Học sinh theo dõi các tình huống và trả lời các câu hỏi do

giáo viên đưa ra bằng kĩ thuật đặt câu hỏi.

Hỏi: Những cá nhân vi phạm pháp luật dưới đây thuộc loại vi phạm pháp

luật nào? Người vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào đối với hậu quả mà họ gây ra?

Tình huống 1 Ngày 20/2/2020 Công An huyện Yên Thành triệu tập ông Đào

Văn T, xóm 6 xã Tăng Thành về trụ sở làm việc về nội dung đăng tải video không đúng sự thật trên mạng xã hội với nội dung: Người Trung Quốc tràn qua cửa khẩu Lạng Sơn

Tình huống 2 Ngày 10/7/2020, thông tin từ phòng cảnh sát kinh tế (Công An

Nghệ An) cho biết đơn vị vừa phá chuyên án, bắt giữ Nguyễn Hữu Khánh, huyện Yên Thành thu giữ 600 kg pháo nổ các loại (Baonghean.vn ngày 10/7/2020)

Tình huống 3 Anh Nguyễn Văn C trú tại xóm 5 Lăng Thành có giấy chứng

nhận tâm thần Cuối tháng 5 năm 2018 anh C đi theo nhóm học sinh xem các hoạt động lễ hội do anh chị sinh viên tổ chức Do không kiềm chế được hành vi anh C đã đập vỡ tivi 42 inch của nhà trường

Tình huống 4 Do cần tiền chơi điện tử T (13 tuổi trú tại xóm X, xã Lăng

Thành) đã bán chiếc xe đạp diện bố mua cho để đi học với giá 2 triệu đồng cho ông M thợ sửa xe trước cổng trường khi phát hiện con không đi xe đạp về nhà, sau nhiều lần tra hỏi, bố T mới biết việc mua bán đó Bố T đã tìm gặp ông M đã tìm gặp ông M đề nghị được chuộc lại chiếc xe và hoàn trả ông 2 triệu đồng nhưng ông M không đồng ý

vì cho rằng việc mua bán giữa ông và T là hoàn toàn tự nguyện, ông không có trách nhiệm phải trả lại chiếc xe

Tình huống 5 Với chiêu bài huy động tiền cho người cần đảo khế vay với lãi

suất cao, nữ cán bộ Phạm Thị Thủy (SN1982), nhân viên Agribank huyện Yên Thành

đã móc nối một đối tượng khác lừa đảo chiếm đoạt khoảng 5 tỷ đồng (Báo 6.Nghean.vn ngày 21/8/2019)

Tình huống 6 Một số hộ dân kinh doanh trên quốc lộ 7B, quốc lộ 48E và

đường nội thị Yên Thành lấn chiếm hành lang an toàn giao thông.

*Sản phẩm:

ST

T

1 Ông T đăng tin sai sự thật gây

hoang mang cho người dân

2 Nguyễn Hữu Khánh buôn bán,

Ngày đăng: 06/06/2022, 19:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3 Hình thức luyện tập 3 100 - (SKKN 2022) đa dạng hóa hoạt động luyện tập nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn GDCD 12
3 Hình thức luyện tập 3 100 (Trang 6)
- Củng cố kiến thức về khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật. - (SKKN 2022) đa dạng hóa hoạt động luyện tập nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn GDCD 12
ng cố kiến thức về khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật (Trang 15)
(Hoặc: Giáo viên có thể vẽ sẵn sơ đồ tư duy trên bảng, để học sinh viết và dán lên các nhánh của sơ đồ). - (SKKN 2022) đa dạng hóa hoạt động luyện tập nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn GDCD 12
o ặc: Giáo viên có thể vẽ sẵn sơ đồ tư duy trên bảng, để học sinh viết và dán lên các nhánh của sơ đồ) (Trang 18)
Bảng 3: Khảo sát giáo viên dự giờ tiết dạy của tác giả đề tài - (SKKN 2022) đa dạng hóa hoạt động luyện tập nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn GDCD 12
Bảng 3 Khảo sát giáo viên dự giờ tiết dạy của tác giả đề tài (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w