Luật Giáo dục, điều 24.2: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học,bồi
Trang 11 MỞ ĐẦU
Môn Vật lý là môn khoa học nghiên cứu những sự vật, hiện tượng xảy ra hàng ngày, có tính ứng dụng thực tiễn cao Mục đích của môn học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học của bộ môn Học vật lý là
để hiểu và giải thích được các vấn đề của tự nhiên trong cuộc sống thông qua các kiến thức đã được học Học sinh phải có một thái độ học tập nghiêm túc, có
tư duy sáng tạo về những vấn đề mới nảy sinh để tìm ra hướng giải quyết phù hợp
Để đạt được mục đích của học vật lý trong trường phổ thông thì người giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng là nhân tố tham gia quyết định chất lượng
Do vậy ngoài những hiểu biết về kiến thức vật lý thì người giáo viên dạy vật lý còn phải có phương pháp truyền đạt gây hứng thú cho học sinh, người giáo viên phải biết vừa tổ chức vừa lãnh đạo điều khiển mọi hoạt động nhận thức của học sinh Vậy phương pháp dạy học giữ vị trí quan trọng trong việc nắm kiến thức của học sinh
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện mục tiêu đào tạo môn Vật lý ở trường trung học phổ thông, cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, có hệ thống và tương đối toàn diện
Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển của khoa học vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức vật lý có giá trị lớn trong đời sống và trong sản xuất, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luật Giáo dục, điều 24.2: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học,bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đối với môn Vật lý còn có một sắc thái riêng, Vật Lí là môn khoa học thực nghiệm, nếu không có sự trải nghiệm nhất định trong thực tế thì sự lĩnh hội tri thứckhông thể sâu sắc và bền chặt được Đối với khoa học thực nghiệm, có thể nói “ Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” phải huớng tới việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động thực nghiệm và cao hơn nữa, cho học sinh tập dượt giải quyết một số vấn đề vật lý trong thực tế Do vậy giáo viên cần
có phương pháp dạy học phù hợp mới phát huy tốt trí tưởng tượng óc sáng tạo nhanh nhạy đối với những tình huống có vấn đề trong kiến thức cũng như trong thực tế của học sinh
Trong thời đại 4.0, công nghệ thông tin phát triển, hầu như học sinh nào cũng
có điện thoại di động, việc tự học,tự nghiên cứu của học sinh dễ dàng hơn,các
em có thể lên mạng để tham khảo, tìm hiểu về một vấn đề mình cần nghiên cứu
Trang 2Từ những suy nghĩ trên ,tôi đã nghiên cứu trao đổi với các nhóm bộ môn cũng như với giáo viên dạy bộ môn Vật lý về vấn đề khai thác các thí nghiệm khi dạy Vật lý, vận dụng kiến thức Vật Lí vào giải thích các hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày Nhận thức được tầm quan trọng trong việc đáp ứng mục
tiêu của bộ môn Vật lí, tôi đã chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh tự làm một số thí nghiệm đơn giản và giải thích các hiện tượng vật lí xảy ra trong cuộc sống hàng ngày khi dạy vật lý 10- chương trình cơ bản” làm nội dung cho đề
tài nghiên cứu của mình
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Tìm ra phương pháp giảng dạy mới khắc phục lối truyền thụ một chiều, cách dạy mới khi liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn để học sinh vận dụng vào trong cuộc sống giúp các em yêu thích môn học, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên cứu cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Qúa trình giảng dạy bộ môn vật lý tại các lớp 10B5,10B6 của trường THPT Lam Kinh
- Các phương pháp dạy học mới, phương pháp tổ chức thảo luận nhóm, phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạy học tích hợp
- Các phần mềm tin học ứng dụng trong soạn giáo án
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Tham khảo các tài liệu, sách giáo khoa, sách giáo viên
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế tại các lớp giảng dạy
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh
- Điều tra, khảo sát kết quả học tập của học sinh trước và sau khi vận dụng phương pháp dạy học mới tại lớp 10B5,10B6 Điều tra kết quả học tập của học sinh giữa lớp được vận dụng và lớp không được vận dụng phương pháp mới, từ
đó thấy dược mức độ và hiệu quả đạt được khi thực hiện đề tài
1.5 Những điểm mới của SKKN.
Phân nhóm học sinh rồi giao nhiệm cụ về nhà cho từng nhóm : Thiết kế thí nghiệm Vật Lí đơn giản phục vụ cho bài học, hoặc giải thích các hiện tượng vật
lí xảy ra trong cuộc sống hàng ngày
2 NỘI DUNG
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đào tạo của đất nước hiện nay
Phải đào tạo ra thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ đất nước, có trình độ văn hóa cơ bản, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Những con người có trí tuệ và năng lực sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt
Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại hội Đảng và nhiều văn kiện
khác của nhà nước, của Bộ Giáo dục - Đào tạo đều nhấn manh việc đổi mới
phương pháp là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cấp học và bậc học ở nước ta, nhằm đào tạo những con người tích cực, tự giác, năng động sáng tạo, có
Trang 3năng lực giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào cuộc sống Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về những giải pháp chủ
yếu trong giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục - Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS ”.
Để đạt được mục tiêu đó thì trong giảng dạy ở nhà trường phổ thông điều quan trọng nhất là phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập Hoạt dộng giáo dục phải lấy học sinh làm trung tâm, làm chủ thể của việc nhận thức với sự hướng dẫn giúp đỡ giảng dạy tích cực có hiệu quả của giáo viên và việc học tập tích cực,tự giác, sáng tạo của học sinh Vì vậy việc dạy học không chỉ quan tâm đến nhiệm vụ làm cho học sinh tiếp thu được một số kiến thức nào đó, mà còn phải quan tâm tới nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho học sinh, người giáo viên phải có phương pháp dạy học phát triển được ở học sinh năng lực áp dụng kiến thức trong tình huống mới, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Từ thực tế giảng dạy hiện nay, không ít giáo viên chỉ chăm lo cung cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết để các em làm bài điểm cao, chưa quan tâm tới việc phát huy trí lực, óc sáng tạo, tự tìm tòi của học sinh, dẫn tới việc nhiều em sau khi học xong các hiện tượng vật lý, các định luật vật lý các em không biết vận dụng các hiện tượng, định luật đó vào giải thích các hiện tượng tự nhiên và không chỉ ra được rộng rãi của nó trong khoa học kỹ thuật Do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phải lấy học sinh làm trung tâm, có như vậy mới phát huy được năng lực của học sinh, năng lực của học sinh phải được hình thành từ thường phổ thông
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Trong quá trình giảng dạy tại trường THPT Lam Kinh tôi nhận thấy đa số học sinh cho rằng môn vật lý là một môn học khó, học sinh ít hứng thú học tập, nhất
là đối với học sinh mới vào học lớp 10, khi thi vào lớp 10 các em thi ba môn Toán, Ngữ Văn, Ngoại Ngữ , do vậy trong thời gian dài ở THCS các em chú tâm vào học ba môn thi trên, một số em xem môn Vật lý là môn phụ chưa chú tâm học, đa số các em quên kiến thức cơ bản môn Vậy Lý đã học ở lớp dưới, Vậy làm thế nào để các em yêu thích môn Vật Lý, cảm thấy giờ học vật lý không quá nặng nề, không gây căng thẳng, mệt mỏi cho học sinh, qua quá trình dạy tôi đã mạnh dạn đưa ra một số đổi mới trong phương pháp dạy nhằm kích thích tư duy sáng tạo của học sinh và gây hứng thú cho học sinh trong giờ học vật lý, từ đó hình thành cho các em năng lực tư duy ,tự học, tự nghiên cứu Trong những năm gần đây qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy khi lồng ghép cách dạy này vào quá trình dạy học bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực nhất định Một trong
những phương pháp dạy học mà tôi đã áp dụng đó là “ Hướng dẫn học sinh tự làm một số thí nghiệm đơn giản và giải thích các hiện tượng vật lí xảy ra trong cuộc sống hàng ngày khi dạy vật lý 10- chương trình cơ bản”
Trang 42.3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
2.3.1 Thí nghiệm vật lí đơn giản ở nhà.
Thí nghiệm ở nhà là một loại bài thực hành mà giáo viên giao cho từng học sinh hoặc từng nhóm học sinh thực hiện ở nhà với những dụng cụ thông thường, đơn giản và dễ kiếm, nhằm tìm hiểu một hiện tượng, xác định một đại lượng, kiểm chứng một định luật, một quy tắc vật lý nào đó
Thí nghiệm ở nhà được tiến hành trong điều kiện không có sự giúp đỡ, hướng dẫn và kiểm tra trực tiếp của giáo viên Do đó, nó có tác dụng tốt trong việc phát huy tính tự giác và tự lực của học sinh trong học tập Thí nghiệm ở nhà chỉ đòi hỏi học sinh tiến hành với những dụng cụ thí nghiệm tự kiếm, hoặc những dụng
cụ tự tạo từ những vật dụng đơn giản Chính đặc điểm này đã tạo nhiều cơ hội cho sự phát triển hứng thú học tập và sự ham mê yêu thích môn học của học sinh Thí nghiệm ở nhà là cơ hội tốt để rèn luyện cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo thực hành , là điều kiện tốt để giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh Ngoài ra, thí nghiệm ở nhà còn có tác dụng phát triển năng lực sáng tạo của học sinh qua việc đề xuất, thiết kế , chế tạo các dụng cụ thí nghiệm nhằm thực hiện các nhiệm
vụ học tập
Thí nghiệm ở nhà có tác dụng mạnh mẽ đối với học sinh trên cả hai mặt giáo dục và giáo dưỡng thông qua việc tự lực thiết kế các phương án thí nghiệm, chế tạo hoặc lựa chọn các dụng cụ, bố trí tiến hành thí nghiệm và xử lí kết quả…Thí nghiệm vật lí ở nhà có tác dụng tiếp tục rèn luyện và phát triển những kĩ năng, kĩ xảo thực hành, những thói quen của người làm thực nghiệm mà học sinh thu được qua thí nghiệm trực diện và thí nghiệm thực hành vật lí ở lớp
Khi tiến hành thí nghiệm ở nhà, đòi hỏi học sinh phải phát huy nhiều mặt, nhiều năng lực khác nhau, nên nó có tác dụng tốt đối với sự phát triển toàn diện của học sinh
Nội dung của thí nghiệm ở nhà rất phong phú và đa dạng, có thể là đề xuất các phương án thí nghiệm, chế tạo dụng cụ thí nghiệm , tiến hành thí nghiệm, giải thích các hiện tượng…Thí nghiệm ở nhà cũng có thể là thí nghiệm định tính hoặc thí nghiệm định lượng
Khi sử dụng loại thí nghiệm này, giáo viên cần lựa chọn những đề tài phù hợp với khả năng và điều kiện của học sinh, nhất là trong khâu tìm kiếm dụng cụ cũng như tiến hành thí nghiệm
Sau mỗi tiết học giáo viên giao nhiệm vụ về nhà cho các nhóm học sinh bằng các thí nghiệm đơn giản chuẩn bị cho bài học sau
Kết quả thí nghiệm phải được báo cáo trước lớp thông qua các video mà học sinh hoặc các nhóm đã quay lại khi thực hiện thí nghiệm và phải nhận được sự đánh giá của giáo viên, nhằm động viên và khuyến khích học sinh
Ví dụ 1: Sự rơi của các vật trong không khí.
a) Mục đích thí nghiệm: Học sinh kết luận được yếu tố ảnh hưởng đến sự rơi nhanh hay chậm của vật trong không khí là do sức cản của không khí chứ không phải vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ
Trang 5b) Vật liệu thí nghiệm: Hai tờ giấy giống hệt nhau, 1 hòn sỏi (nặng hơn 1 tờ giấy); một tấm bìa nặng hơn hòn sỏi
c) Tiến hành các thí nghiệm:Trong các thí nghiệm này ta đồng thời thả nhẹ nhàng hai vật rơi xuống từ cùng độ cao, rồi quan sát xem vật nào rơi xuống đất trước
TN1: Thả cùng lúc tờ giấy và hòn sỏi (nặng hơn tờ giấy)
TN2: Như TN 1 nhưng tờ giấy vo tròn và nén chặt lại
TN3: Thả 2 tờ giấy cùng kích thước, nhưng 1 tờ để phẳng, 1 tờ vo tròn lại
TN4: Thả hòn sỏi nhỏ và tấm bìa phẳng đặt nằm ngang (nặng hơn hòn sỏi) d) Kết quả thí nghiệm: Các nhóm học sinh quay video và trình chiếu cho cả lớp xem, từ đó rút ra kất luận
Sau đây là một số hình ảnh cắt ra từ video đã quay của học sinh:
Trang 6Ví dụ 2 : Thí nghiệm lịch sử của Ga-li-lê.
a) Mục đích thí nghiệm: Làm lại thí nghiệm lịch sử của Ga-li-lê phát hiện một loại lực “giấu mặt” là lực ma sát
b) Dụng cụ thí nghiệm: hai máng nghiêng giống nhau , viên bi
c) Tiến hành các thí nghiệm: Yêu cầu các nhóm học sinh tự nghiên cứu SGK Vật Lí 10- trang 59 để tiến hành thí nghiệm
d) Kết quả thí nghiệm: Sau đây là một số hình ảnh cắt ra từ video đã quay của học sinh:
Ví dụ 3 : Độ lớn của lực đàn hồi của lò xo.
a) Mục đích thí nghiệm: tìm hiểu mối quan hệ giữa độ dãn của lò xo và độ lớn của lực đàn hồi F tỉ lệ thuận với l
b) Dụng cụ thí nghiệm: 1 lò xo, 3 quả cân giống nhau( giáo viên có thể phát cho các nhóm), 1 giá treo, 1 thước đo
c) Tiến hành các thí nghiệm: + Đo chiều dài lò xo khi chưa treo quả cân
+ Đo chiều dài lò xo khi treo lần lượt 1,2,3 quả cân
Khi quả cân đứng yên : F=P = mg
Độ dãn: l= l-lo
d) Kết quả thí nghiệm: Các nhóm lập bảng và tính ti số F/l Nạp lại bảng số liệu
Ví dụ 4 : Cách xác định trọng tâm của một vật phẳng mỏng bằng phương pháp thực nghiệm:
Trang 7a) Mục đích thí nghiệm: Xác định được trọng tâm của một vật phẳng mỏng bằng phương pháp thực nghiệm:
b) Dụng cụ thí nghiệm: Tấm bìa mỏng phẳng có hình dạng bất kì, sợi chỉ,viên phấn, thước dài
c) Tiến hành các thí nghiệm: Yêu cầu các nhóm học sinh tự nghiên cứu SGK Vật Lí 10- trang 97 để tiến hành thí nghiệm
d) Kết quả thí nghiệm: Nạp lại các video đã thực hiện
Sau đây là một số hình ảnh cắt ra từ video đã quay của học sinh:
Trang 8
Ví dụ 5 : Thí nghiệm về hiện tượng căng bề mặt của chất lỏng.
a) Mục đích thí nghiệm: Nhận biết sự có mặt của lực căng bề mặt của chất lỏng b) Dụng cụ thí nghiệm: Khung thép uốn thành hình tròn, có sọi chỉ buộc ngang, chậu nước xà phòng
c) Tiến hành các thí nghiệm: Nhúng khung thép vào nước xà phòng rồi lấy ra, chọc thủng một bên, quan sát hiện tượng và nhận xét
d) Kết quả thí nghiệm: Sau đây là một số hình ảnh cắt ra từ video đã quay của học sinh:
2.3.2 Giải thích các hiện tượng vật lí xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
Học sinh vẫn còn thói quen học vẹt, xem quá trình học tập là một qua trình ghi nhớ, học thuộc bài.Từ đó, học sinh không rèn luyện được ý thức và thói quen vận dụng những điều đã học vào cuộc sống hàng ngày, vì vậy để khắc phục cách học trên thì giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm bằng các câu hỏi để học sinh
Trang 9tự vận dụng giải thích Vì thời lượng mỗi tiết học có hạn nên giáo viên ra các câu hỏi về nhà và yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học để trả lời, sau đó kiểm tra vào đầu tiết học sau Khi học xong bài học mà hoc sinh thấy được kiến thức đó được ứng dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, sẽ hứng thú, tò mò và chủ động tư duy để tìm hiểu, qua đó kiến thức sẽ nhớ lâu hơn, và cũng nhờ thế giúp giáo viên thu được thông tin phản hồi từ học sinh về mức độ hiểu bài của học sinh
Sau đây là một số câu hỏi mà học sinh về nhà đã giải thích được khá tốt
Câu hỏi về nhà bài 10: Ba định luật Niu-Tơn.
Nhóm 1:
Câu 1: Khi bị trượt chân hay bị vấp người ta ngã như thế nào? [3]
Câu 2: Tại sao lúc rơi xuống, các vận động viên thể thao nhảy cao và nhảy xa
phải co hai chân lại? [3]
Trả lời
Câu 1: Khi một người bị vấp thì hai chân ngừng bước đột ngột, theo quán tính
thân người vẫn tiếp tục chuyển động,vì thế người sẽ bị ngã đập mặt xuống, còn khi bị trượt chân thì sẽ bị ngã ngửa
Câu 2: Nhờ co hai chân ở giai đoạn cuối bước nhảy, vận động viên tạo thêm
được đường để hãm nà nhờ thế giảm bớt được lực va xuống đất
Nhóm 2:
Câu 1: Tại sao chạy lấy đà trước ta lại nhảy được xa hơn là đứng tại chổ nhảy
ngay? [3]
Câu 2: Có nhiều động vật khi ở dưới nước lên đều lắc mình rũ nước Các động
vật đó đã áp dụng định luật vật lý nào, giải thích? [3]
Trả lời
Câu 1: Khi ta chạy lấy đà thì chuyển động theo quán tính được cộng thêm vào
chuyển động xuất hiện do việc đẩy người rời khỏi măt đất, do vậy nhảy được xa hơn
Câu 2: Có nhiều động vật khi ở dưới nước lên đều lắc mình rũ nước Các động
vật đó đã áp dụng định luật quán tính, khi lắc mình thì các hạt nước chuyển động theo quán tính nên bắn ra ngoài
Nhóm 3:
Câu 1: Tại sao ô tô chở nặng đi trên các đoạn đường đá gồ ghề lại êm hơn ô tô
không chở hàng? [1]
Câu 2: Định luật III Niu-Tơn đã được vận dụng thế nào trong sự chuyển động
của con cá trong nước [5]
Trả lời
Câu 1: Ô tô chở nặng đi trên các đoạn đường đá gồ ghề lại êm hơn ô tô không
chở hàng vì ô tô chở hàng có tổng khối lượng lớn hơn nên theo định luật II Niu-Tơn thì gia tốc thu được khi tương tác với đường ( chổ gồ ghề) bé hơn, sự thay đổi vận tốc theo phương thẳng đứng của xe rất bé nên xe đi cảm giác êm hơn
Câu 2: Các con cá bơi được nhờ đuôi vẫy đi, vẫy lại nên đẩy nước về đằng sau, theo
định luật III Niu-Tơn nước phản lại một lực, nhờ thế chúng chuyển động được
Trang 10Nhóm 4:
Câu 1: Màng bơi ở chân vịt hay ngỗng có tác dụng gì?
Câu 2: Vì sao xe đạp dễ phanh hơn xe máy, ô tô và tàu hỏa? [2]
Trả lời
Câu 1: Muốn chuyển dịch được nhanh về phía trước, cần phải đẩy lại phía sau
một lượng lớn nước, do đó các chân bơi hầu như bao giờ cũng rộng và phẳng Khi chân chuyển động về phía trước thì màng bơi bị uốn cong, nên chân chịu một lực cản nhỏ Khi chân chuyển động về phía sau thì con vật dang rộng bàn
chân để đẩy đủ nước và do đó tiến nhanh lên phía trước
Câu 2 Vì khối lượng tàu hỏa, ô tô, xe máy lớn hơn xe đạp nên có mức quán tính
lớn hơn, vận tốc lớn hơn nên khi muốn dừng lại cần phải có thời gian dài, nên việc phanh cũng khó khăn hơn xe đạp, chính vì vậy khi đi qua các chổ rẽ nhất là nơi giao nhau với tàu hỏa cần quan sát kỹ vì xe máy, ô tô và đặc biệt tàu hỏa có quán tính lớn không thể dừng lại lập tức để tránh được Các xe phóng nhanh vượt ẩu, lạng lách trên đường rất nguy hiểm vì chúng có đà rất mạnh, khi gặp chướng ngại vật xe cũng lết đi chứ không dừng ngay được
Câu hỏi về nhà bài 12: Lực đàn hồi;
Câu 1: Một quả bóng nếu bơm căng quá khi đá sẽ rất khó khăn, thậm chí cầu
thủ có thể bị đau chân khi đá vào quả bóng này Vì sao vậy? [2]
Câu 2: Cân đồng hồ lò xo hoạt động dựa trên nguyên tắc nào? Giải thích? [5] Trả lời
Câu 1: Khi bơm căng quá, bóng khó biến dạng nên giảm tính đàn hồi.
Câu 2: Cân hoạt động dựa trên nguyên lý đàn hồi của lò xo, tạo trạng thái cân
bằng khi lò xo chịu tác dụng nén (cân đĩa) hoặc kéo ( cân móc treo), bên trong
có cơ cấu bánh răng, thanh răng sẽ chuyển đổi chuyển động thẳng( do kéo hoặc nén) của lò xo sang chuyển động xoay tròn, kết hợp với kim chỉ, mặt đồng hồ để chỉ thị kết quả đo
Câu hỏi về nhà bài 1 3 : Lực ma sát
Câu 1: Tại sao khó cầm được con cá còn sống trên tay? [3]
Câu 2: Vì sao các đôi giày, đôi dép dưới mặt đế lại có nhiều các rãnh nhỏ?
Câu 3: Vì sao khi ta đi trên nền nhà lát gạch hoa có nước thì rất dễ ngã?
Câu 4: Vì sao các lốp xe ô tô, xe máy, xe đạp lại được khía các rãnh và mặt
lốp ô tô vận tải lại được khía sâu hơn mặt lốp xe đạp? [1]
Câu 5: Tại sao khi ta sơn nhà thì sơn bám được lên tường nhà, hoặc khi ta viết
bảng thì phấn bám vào bảng, muốn phấn bám vào bảng nhiều hơn để nhìn rõ thì
ta phải làm gì?
Câu 6 : Khi chế tạo dây cáp, người ta không dùng một sợi to mà dùng nhiều sợi
nhỏ bện với nhau Vì sao cần như vậy? [2]
Trả lời
Câu 1: Do ma sát giữa cá và tay nhỏ, do đó cá dễ tuột khỏi tay.
Câu 2: Các đôi giày (đôi dép) dưới mặt đế lại có khía nhiều các rãnh nhỏ để
tăng ma sát giữa giày (dép) với mặt đất khi ta bước đi đễ ta đỡ bị trượt ngã