TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ THU HỒNG THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ TÀU NGŨ SẮC Carassius auratus GIAI ĐOẠN TỪ BỘT LÊN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ TÀU NGŨ SẮC
(Carassius auratus) GIAI ĐOẠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ TÀU NGŨ SẮC
(Carassius auratus) GIAI ĐOẠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts BÙI MINH TÂM
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ TÀU NGŨ SẮC
(Carassius auratus) GIAI ĐOẠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
THỬ NGHIỆM CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ TÀU NGŨ SẮC
(Carassius auratus) GIAI ĐOẠN TỪ BỘT LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts BÙI MINH TÂM
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cám ơn
- Thầy Bùi Minh Tâm
- Quý thầy cô Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ
- Quý thầy cô, anh, chị và cán bộ công nhân viên Trại cá thực nghiệm, Bộ môn kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt – Đại học Cần Thơ
- Cùng các bạn lớp Quản lý nghề cá khóa 31
Đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Xin chân thành cám ơn
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
Trang 6TÓM TẮT
Nghiên cứu thực hiện nhằm tìm ra loại thức ăn thích hợp cho tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống cao nhất cho việc ương cá tàu ngũ sắc giai đoạn từ bột lên hương và từ hương lên giống Nghiên cứu được thực hiện tại trại cá Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ từ 02/2009 – 05/2009 Ở giai đoạn từ bột lên hương với cá loại thức ăn là: trứng nước, trứng gà và thức ăn viên và giai đoạn từ hương lên giống với các loại thức ăn là: trùn quế, trùn quế xay trộn thức ăn viên
và thức ăn viên Kết quả nghiên cứu các yếu tố môi trường trong hai thí nghiệm đều thích hợp với quá trình ương nuôi cá tàu ngũ sắc Ở giai đoạn từ bột lên hương với thức ăn là trứng nước cho tỉ lệ sống và tăng trưởng cao nhất 80,7% (1,53 – 1,69 mg/ngày) và giai đoạn từ hương lên giống thì có tỉ lệ sống và tăng trưởng cho kết quả tương tự nhau, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách Bảng v
Danh sách Hình vi
Chương I: Giới thiệu 1
Chương II: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm hình thái 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Hình dáng 3
2.1.3 Màu sắc 4
2.2 Đặc điểm môi trường sống 4
2.3 Đặc điểm sinh sản 5
2.3.1 Phân biệt giới tính 5
2.3.2 Sinh sản 6
2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 7
2.4.1 Cá bột 7
2.4.2 Cá con 7
2.4.3 Cá trưởng thành 8
2.5 Thí nghiệm ương trên một số đối tượng khác 8
2.5.1 Một số đặc điểm của Moina 8
2.5.2 Một số đặc điểm của trùn quế 9
Chương III: Phương pháp nghiên cứu 10
3.1 Vật liệu nghiên cứu 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu 10
3.2.1 Thí nghiệm 1 10
3.2.2 Thí nghiệm 2 10
3.2.3 Quản lý hệ thống thí nghiệm 11
3.2.4 Chuẩn bị thức ăn 12
3.2.5 Xử lý số liệu 13
Chương IV: Kết quả thảo luận 14
4.1 Ảnh hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá tàu ngũ sắc giai đoạn từ bột lên hương 14
Trang 84.1.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường 14
4.1.2 Kết quả ương nuôi 15
4.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá tàu ngũ sắc giai đoạn từ hương lên giống 17
4.2.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường 17
4.1.2 Kết quả ương nuôi 18
Chương V: Kết luận và đề xuất 21
Tài liệu tham khảo 22
Phần phụ lục 23
1 Bảng theo dõi trọng lượng, chiều dài, tỉ lệ sống thí nghiệm 1 23
2 Bảng theo dõi trọng lượng, chiều dài, tỉ lệ sống thí nghiệm 2 25
3 Kết quả xử lý thống kê DWG, DLG, TLS thí nghiệm 1 29
4 Kết quả xử lý thống kê DWG, DLG, TLS thí nghiệm 2 30
5 Bảng theo dõi nhiệt độ, pH, oxy thí nghiệm 1 32
6 Bảng theo dõi nhiệt độ, pH, oxy thí nghiệm 2 35
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường thí nghiệm 1 14
Bảng 4.2: Tăng trưởng trọng lượng thí nghiệm 1 16
Bảng 4.3: Tăng trưởng chiều dài thí nghiệm 1 16
Bảng 4.4: Kết quả tỉ lệ sống thí nghiệm 1 17
Bảng 4.5: Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường thí nghiệm 2 18
Bảng 4.6: Tăng trưởng trọng lượng thí nghiệm 2 19
Bảng 4.7: Tăng trưởng chiều dài thí nghiệm 2 19
Bảng 4.8 : Kết quả tỉ lệ sống thí nghiệm 2 20
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1: Cá tàu ngũ sắc 3
Hình 2: Cá tàu sau khi tiêm kích dục tố 5
Hình 3: Bể ương cá tàu ngũ sắc 11
Hình 4: Biểu đồ tỉ lệ sống của thí nghiệm 1 17
Hình 5: Biểu đồ tỉ lệ sống của thí nghiệm 2 20
Trang 11Ngưỡng CO2: không quá 60mg/L
pH: Trong nước ngọt pH thích hợp với cá tàu là 6,5 - 8,5 Nếu độ pH = 5,5
– 9,5 cá vẫn có thể sống, nhưng tốt nhất không vượt quá 5- 8,5 Cá con cần độ pH
2 – 7,2 là thích hợp (Đức Hiệp, 2000)
2.3 Đặc điểm sinh sản
2.3.1 Phân biệt giới tính
Cá đực có một số đặc điểm sau: màu sắc sặc sỡ hơn con cái, nắp mang có những nốt sần đẹp, trên ngực và cơ thể có khi cũng có nốt sần, cá tỏ ra bị kích thích và đuổi theo cá cái và xô đẩy nó, cá đực dùng nốt sần kích thích cá cái
Cá cái: màu sắc kém sặc sỡ hơn, đến mùa sinh sản cũng có bụng to hẳn ra ở một bên, cá bơi lội chậm chạp, lỗ sinh dục màu đỏ hồng đến đỏ sẫm và hơi lồi ra
Hình 2: Cá tàu sau khi tiêm kích dục tố Cũng như nhiều giống cá kiểng khác, Cá Tàu khó phân biệt được giới tính Nhìn chung thì cá trống, mái đều có hình dáng như nhau Đối với cá tàu ngũ sắc thì khó đoán hơn, cá cái thì nhìn trên xuống bụng hay lệch một bên, miệng nhỏ, màu sắc kém sặc sỡ hơn, đuôi ít xoè hơn, để chính xác nhất nếu chưa quen nhìn gai sần màu trắng thì chờ mùa sinh sản, con cá nào rượt cá khác là cá đực, cá nào
bị rượt là cá cái Tuy nhiên, cá ba đuôi có nhiều giống bụng to, vì thế cá đực bụng
to nhưng nhìn từ trên xuống bụng cân đối (Việt Chương – Nguyễn Sô, 2002)
Trang 12Cá cái vừa đẻ xong, thì cách ly cá cha mẹ với ổ trứng theo 1 trong 2 cách sau đây:
- Một là vớt ngay cá cha mẹ ra ngoài hồ khác để nuôi dưỡng chờ đẻ lứa sau, còn ổ trứng để nguyên vị trí cũ
- Hai là tạo một hồ khác chứa sẵn nước với máy cung cấp oxy, rồi cẩn thận đem cây lục bình sang bể đó, cặp cá cha mẹ vẫn ở lại hồ cũ (Việt Chương - Nguyễn Sô, 2002)
2.3.2.2 Sinh sản nhân tạo
- Chọn cá bố mẹ cho sinh sản (giống như trên)
- Kích thích tố: não thùy, Ovaprim
- Liều lượng: Não thùy 1,6 – 2 mg/1 kg cá cái
Ovaprim 0,3 mL/ 1kg cá cái
- Vị trí tiêm thuốc: gốc vi bụng
- Sau khi tiêm thuốc bố trí vào bể hoặc vuốt trứng như cá chép (Bùi Minh Tâm, 2007)
Trang 132.3.2.3 Ấp trứng
Sự ấp trứng lệ thuộc vào nhiệt độ (21-24°C), xảy ra trong 4 ngày Nếu nhiệt
độ nước cao hơn thì thời gian ấp sẽ ngắn hơn, chỉ còn 2 ngày rưỡi đến 3 ngày Ngược lại, nếu nhiệt độ thấp thì cá phải ấp trong 6-8 ngày Cá bột nở ra có thể ăn được tảo và trùn cỏ Nếu nhìn cá con đều một màu nâu, ta không hình dung được
sự biến đổi về sau để cá có màu sắc của cá bố mẹ Màu vàng hay đỏ bắt đầu thay thế màu nâu đồng, điều này chỉ vào khoảng ngày thứ 60 hay 80 và nhiệt độ của nước không quá 20°C Về hình dạng, cá con được di truyền từ những đặc tính hình thức của cá bố mẹ, đã có thể phân biệt được kể từ những ngày đầu của đời sống của cá con
Cá con ăn khỏe và lớn nhanh, cá sau 15 ngày tuổi 0,025g; 30 ngày đạt 0,224g;
45 ngày đạt 0,61g và 60 ngày 0,70g Sau một tháng, có thể đạt kích thước 2-3cm Nếu ương nuôi tốt, tỷ lệ sống đạt trung bình 60-70% Sự trưởng thành sinh dục chắc chắn là vào năm thứ hai (Bùi Minh Tâm, 2007)
2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
2.4.1 Cá bột
- Bể ương cá bột: diện tích 1-4 m2, mực nước 40-60cm, mật độ ương 500 con/m2
- Thức ăn và cách cho ăn:
* 10 ngày đầu sau khi nở cho ăn moina
* 20 ngày sau cho ăn trùng chỉ cắt nhỏ
* 30 ngày cho ăn trùng chỉ
* Ngày cho ăn 2 lần sáng 7-8h, chiều 4-5 h (Đức Hiệp, 2000)
Trang 142.4.3 Cá trưởng thành
Cá từ độ tuổi 1-2 tuổi Thời kỳ cho cá ăn tạp hơn, đó là thức ăn sống động ngọ nguậy, các vi sinh thủy sinh trong nước, lăng quăng trùn chỉ, giun nước, hoặc thức ăn tự chế (Đức Hiệp, 2000)
2.5 Thí nghiệm ương trên một số đối tượng khác
Trong thí nghiệm ương cá chép của Thạch Hải Bình (2000), cá được ương với mật độ 250 con/ m2 trong 2 tuần Thức ăn sử dụng 100% bột đậu nành trong tuần đầu và trong tuần kế tiếp là 20% bột đậu nành, 70% cám mịn và 10% bột cá
Cá mè vinh được ương với mật độ 200 con / m2 Thức ăn được sử dụng là thức ăn tự nhiên và lòng đỏ và bột cám Kết quả thu được tỉ lệ sống 96% (Danh Long Vương, 2000)
Nguyễn Quốc An (1993) đã tiến hành ấp trứng nhân tạo và nuôi bộ cá con thần tiên Sau khi trứng nở được ấp trong cốc thủy tinh đặt ngay trong bể sinh sản cho đến khi trứng nở, cá bột được hút ra ương trong bể riêng Thức ăn trong ngày đầu tiên là tảo đơn bào, cho ăn với thể tích bằng 1/3 thể tích bể ương tùy theo độ đậm đặc của tảo Từ 2-7 ngày tuổi cá được cho ăn artemia, sau đó cho thêm trùng chỉ cắt nhỏ
Trong thí nghiệm ương cá Hạc Đỉnh Hồng của Nguyễn Hữu Đức (1997), khi
cá bột được 2 ngày tuổi, bắt đầu cho ăn lòng đỏ trứng gà, luộc chín, nghiền nhuyễn, lọc qua lưới mịn, bỏ xác lấy nước tạt vào bể, cho cá ăn từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 15, cho ăn bằng trứng nước từ 16 đến ngày thứ 30, sau đó cho ăn trùn chỉ cắt nhỏ Trước khi chuyển đổi thức ăn, cá con được làm quen với thức ăn mới bằng cách mỗi lần cho ăn moina, thì cho vào vài con trùn chỉ cho chúng quen dần, đến khi chúng chịu ăn thì chuyển dần và thay thế hoàn toàn bằng thức ăn mới
2.5.1 Một số đặc điểm của Moina
Moina là phiêu sinh động vật Chiều dài Moina cái khoảng 400 -1130 µm Moina trưởng thành (700 - 1000µm) có kích thước gấn gấp đôi ấu trùng artemia (500µm), và gần gấp 2-3 lần kích thước trùn bánh xe trưởng thành (rotifer) Tuy nhiên, Moina mới nở (nhỏ hơn 400µm) gần bằng hay lớn hơn trùng bánh xe trưởng thành và nhỏ hơn ấu trùng artemia Hơn nữa, ấu trùng artemia chết rất nhanh trong nước ngọt nên Moina là thức ăn lý tưởng trong nuôi cá bột Giá trị
Trang 15dinh dưỡng của Moina phụ thuộc vào độ tuổi, loại thức ăn mà chúng được nuôi
Dù vậy, lượng protein ở moina chiếm 50% khối lượng khô Moina trưởng thành chứa nhiều chất béo hơn Moina non Lượng chất béo chiếm 20 -27% khối lượng khô ở Moina trưởng thành và 4 – 6% ở Moina non (R.W.Rottmann & ctv, 2008)
2.5.2 Một số đặc điểm của trùn quế
Trùn quế khi mới nở, trùn chui từ kén dài 1mm, màu trắng, sau 5-7 ngày chuyển sang màu đỏ dài 1-2 cm, sau 60 ngày đạt 8-10 cm, độ đạm trung bình khoảng 60-65%, lúc này thu hoạch trùn thịt cho cá ăn là tốt nhất Thức ăn chính của trùn là phân bò, trâu, dê, heo, gà, vịt, rơm, rạ (phân gà, phân heo, phân vịt phải ủ hoai) Trùn quế sấy khô, nghiền nát làm thức ăn cho cá cảnh, chế biến thực phẩm cho gia súc, gia cầm hoặc cho ăn sống (Trần Nhựt, 2006)
Trang 16CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
-Bể ương: Bể kính có thể tích từ 40 L
-Vợt vớt cá, cân điện, thước đo
-Thức ăn cho cá: trứng gà, trứng nước, thức ăn viên, trùn quế
-Máy đo oxy, nhiệt độ, pH, và một số vật liệu cần thiết
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nguồn cá thí nghiệm được lấy và ương tại trại cá cảnh khoa Thủy Sản – ĐHCT Thí nghiệm được bố trí trên bể kính mực nước từ 20-30 cm Mỗi thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức về mỗi loại thức ăn khác nhau, mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần, và bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên
3.2.1 Thí nghiệm 1
Khảo sát ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá từ bột lên hương (từ cá mới nở đến ngày thứ 15) Bắt đầu cho ăn vào ngày thứ 3 Bố trí mỗi nghiệm thức với mật độ 200con/ bể
Nghiệm thức 1 (IA): cho cá ăn trứng nước
Nghiệm thức 2 (IB): cho cá lòng đỏ trứng gà
Nghiệm thức 3 (IC): cho cá ăn thức ăn viên (40% đạm)
3.2.1 Thí nghiệm 2
Khảo sát sự ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá từ giai đoạn hương lên giống Giai đoạn từ bột lên hương cả 3 nghiệm thức đều cho cùng 1 loại thức ăn hiệu quả nhất ở thí nghiệm 1 Đến giai đoạn từ hương lên giống (bắt đầu ngày thứ 16) thì ở mỗi nghiệm thức bố trí 30 con/ bể và cho ăn như sau:
Nghiệm thức 1 (IIA): cho cá ăn trùn quế cắt nhỏ
Nghiệm thức 2 (IIB): cho cá ăn thức ăn viên trộn với trùn quế xay
Nghiệm thức 3 (IIC): cho cá ăn thức ăn viên (40% đạm)
Trang 17Hình 3: Bể ương cá tàu ngũ sắc
3.2.3 Quản lý hệ thống thí nghiệm
Cho ăn: Ngày cho ăn 2 lần sáng 7-8h, chiều 4-5h
Quản lý hệ thống bể ương: Bể ương được thay nước 2 ngày/ lần vào buổi sáng, mỗi lần thay 1/3 thể tích bể
Phương pháp thu mẫu môi trường:
- Nhiệt độ và pH theo dõi 2 lần trong ngày vào buổi sáng và chiều
- Oxy được theo dõi mỗi buổi sáng
Phương pháp thu mẫu cá:
- Thu mẫu sau 15 ngày đo tất cả số lượng cá để xác định chiều dài trung bình của cá ương trong từng nghiệm thức Thí nghiệm 1 cân tổng để xác định trọng lượng trung bình Thí nghiệm 2 cân từng con để xác định khối lượng, sau đó tính khối lượng trung bình của từng nghiệm thức
- Tỉ lệ sống: Khi kết thúc thí nghiệm thu toàn bộ để xác định tỉ lệ sống, được tính bằng cách đếm số cá thể ban đầu và số cá thể khi kết thúc thí nghiệm để xác định tỉ lệ sống của cá ương
Trang 18 Wđ , Lđ : Khối lượng, chiều dài của cá tại thời gian đầu (mg, mm)
Wc , Lc : Khối lượng, chiều dài của cá tại thời gian thu (mg, mm)
tđ , tc : Thời điểm thu mẫu cá (ngày)
3.2.4 Chuẩn bị thức ăn
Trứng nước: mua về rửa sạch bụi bẩn rồi cho cá ăn
Trứng gà: luộc chín, lấy lòng đỏ bóp nhuyễn vào nước rồi lọc qua lưới mịn, bỏ xác và lấy phần nước tạt đều khắp mặt bể
Thức ăn viên: mua loại miển, khi cá còn nhỏ cà nhuyễn rồi cho cá ăn
Trùn quế: mua về xử lý muối thật kỹ cho trùn chết, rồi rửa với nước thật sạch sau đó bằm nhuyễn cho cá ăn
Trang 19 Trùn quế xay trộn với thức ăn viên: trùn quế xay nhuyễn, lọc lấy nước trộn với thức ăn viên, trộn vừa đủ để nước vừa thấm vào thức ăn
3.2.5 Xử lý số liệu
Số liệu được phân tích theo giá trị trung bình (Average), độ lệch chuẩn (Standard deviation) và sự khác biệt giữa các nghiệm thức thông qua phần mềm SPSS 15.0 ở mức ý nghĩa (P < 0,05)
Trang 20CHƯƠNG IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tàu ngũ sắc giai đoạn từ bột lên hương
4.1.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường trong quá trình ương
Nhiệt độ
Qua kết quả Bảng 4.1 cho thấy nhiệt độ giữa các nghiệm thức dao động không đáng kể nhiệt độ sáng (25,6 – 25,7°C), nhiệt độ chiều (28,2 – 28,5°C), sáng và chiều (25,5 – 28,5°C) của mỗi các nghiệm thức chênh lệch nhau không cao nhỏ hơn 3°C và đều nằm trong khoảng thích hợp của cá 20 – 29°C (Đức Hiệp, 2000)
Vì cá là động vật biến nhiệt nên nhiệt độ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sống của thủy sinh vật nói chung và tôm cá nói riêng như: sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản Theo Trương Quốc Phú (2003) nhiệt độ thích hợp cho cá, tôm trên vùng nhiệt đới là 25 – 35°C Vậy với kết quả theo dõi trên thì nhiệt độ thích hợp để phát triển cá tốt
Kết quả theo dõi các chỉ tiêu, nhiệt độ, pH, oxi trong quá trình ương được trình bày ở Bảng 4.1
Bảng 4.1: Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường thí nghiệm 1
Trang 21nghiệm này nằm trong khoảng thích hợp cho sinh trưởng và phát triển cá ương Theo Trương Phú Quốc (2006) pH là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và sinh dưỡng pH thích hợp cho thủy sinh vật là 6,5 – 9 Nếu pH
< 4 là điểm chết acid, pH > 11 là điểm chết kiềm vì pH của các loài động vật thủy sản đều gần 7, nếu pH môi trường quá cao hay quá thấp đều làm thay đổi thẩm thấu của màng tế bào, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi muối – nước giữa cơ thể với môi trường ngoài, nó sẽ gây bất lợi sự phát triển của tôm, cá nuôi
Oxy
Do thí nghiệm bố trí trong bể kính và đặt ở trong nhà nên hàm lượng oxy trong nước chủ yếu là do máy thổi khí, vì không có ánh sáng mặt trời nên oxy do thực vật quang hợp không đáng kể chính vì thế hàm lượng oxi trong nước luôn ổn định dao động từ 4,3 – 5,5 mg/L (Bảng 4.1) Theo Đức Hiệp (2000) thì hàm lượng oxy để cá tàu có thể sống tốt là >3 mg/L Với kết quả trình bày ở Bảng 4.1 thì hàm lượng oxy trên là thích hợp cho cá phát triển
4.1.2 Kết quả ương nuôi
Tăng trưởng về trọng lượng
Từ kết quả Bảng 4.2 cho thấy trọng lượng ở nghiệm thức cho cá ăn trứng nước có mức tăng trọng cao nhất 1,62 mg/ngày, kế đến là nghiệm thức cho ăn trứng gà 0,93 mg/ngày Sau cùng là nghiệm thức sử dụng thức ăn viên 0,9 mg/ngày Thống kê số liệu cho thấy mức tăng trọng ở nghiệm trứng gà và nghiệm thức ăn viên khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05) Nhưng giữa nghiệm thức thức ăn là trứng nước với hai nghiệm thức ăn viên và trứng gà thì mức tăng trọng của cá ương có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Trọng lượng của
cá sau 15 ngày dao động từ 17 mg/con – 28,4 mg/con Theo Bùi Minh Tâm (2007) cá tàu sau 15 ngày ương trọng lượng khoảng 25 mg/con Vậy kết quả trên phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đây
Trang 22Bảng 4.2: Tăng trưởng trọng lượng thí nghiệm 1
Trứng nước 4 28,4±1,3a 1,62±0,09a Trứng gà 4 17,9±1,9b 0,93±0,12b Thức ăn viên 4 17,5±1,8b 0,9±0,12b
Các giá trị trên cùng một cột có các ký tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)
Tăng trưởng về chiều dài
Từ Bảng 4.3 cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều dài ở nghiệm thức thức ăn viên
là thấp nhất 0,3mm/ngày, kế đến là nghiệm thức trứng gà 0,35 mm/ngày, và cao nhất là nghiệm thức cho cá ăn trứng nước 0,53mm/ngày Qua phân tích số liệu cho thấy tăng trưởng về chiều dài ở nghiệm thức trứng gà và nghiệm thức thức ăn khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), nhưng nghiệm thức cho ăn trứng nước thì khác biệt với 2 nghiệm trứng gà và thức ăn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Với kết quả ở bảng 4.3 cho thấy chiều dài của cá sau 15 ngày ương dao động từ 9,52 –12,94mm Theo Bùi Minh Tâm (2007) thì cá tàu sau 15 ngày ương chiều dài khoảng 10,5mm Vậy kết quả trên phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đây Bảng 4.3: Tăng trưởng chiều dài thí nghiệm 1
Trứng nước 5 12,94±0,89a 0,53±0,06aTrứng gà 5 10,24±0,15b 0,35±0,01bThức ăn viên 5 9,52±0,57b 0,3±0,03b
Các giá trị trên cùng một cột có các ký tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)