1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề nhận thức trong tác phẩm “chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” và ý nghĩa của nó trong thời đại 4 0 hiện nay

73 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Nhận Thức Trong Tác Phẩm “Chủ Nghĩa Duy Vật Và Chủ Nghĩa Kinh Nghiệm Phê Phán” Và Ý Nghĩa Của Nó Trong Thời Đại 4.0 Hiện Nay
Tác giả Lê Thị Bình
Người hướng dẫn PGS.TS. Ngô Đình Xây
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Triết học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những quan điểm tiến bộ về nhận thức, Lênin đã trình bày vấn đề này một cách khoa học và có hệ thống, đặc biệt được thể hiện rõ nhất trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa ki

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THỊ BÌNH

VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” VÀ Ý

NGHĨA CỦA NÓ TRONG THỜI ĐẠI 4.0 HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THỊ BÌNH

VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” VÀ Ý

NGHĨA CỦA NÓ TRONG THỜI ĐẠI 4.0 HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Triết học Chuyên ngành: Triết học Mác – Lênin

Mã số: 7229001

Người hướng dẫn: PGS.TS Ngô Đình Xây

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Vấn đề nhận thức trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” và ý nghĩa của nó trong thời đại 4.0 hiện nay.” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập

của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận

do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Bình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong Khoa Triết học, Trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đã tạo điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với Thầy hướng dẫn PGS.TS Ngô Đình Xây đã giúp đỡ và chỉ dạy tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu

khóa luận

Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực, song trình độ còn có hạn, khóa luận không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của qúy thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Bình

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” 4

1.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm và kết cấu tác phẩm 4

1.2 Sự phê phán các nhận thức sai lầm trong triết học 8

1.3 Quan điểm của Lênin về nhận thức thông qua lý luận nhận thức mà Người đã phát triển 13

1.4 Lênin tiếp tục phát triển lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng qua phân tích “Cuộc cách mạng mới nhất trong khoa học tự nhiên” 33

CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NHẬN THỨC THỜI ĐẠI 4.0 HIỆN NAY 44

2.1 Thời đại 4.0 - những đặc điểm và những ảnh hưởng nổi bật của nó 44

2.2 Đặc điểm mới của nhận thức con người trong thời đại 4.0 so với nhận thức của thời kỳ Lênin 53

2.3 Xu hướng biến đổi của nhận thức con người trong thời đại 4.0 59

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong lịch sử phát triển của triết học cho thấy, vấn đề nhận thức được đặt ra từ rất sớm Tuy nhiên, do hạn chế về phương tiện và phương pháp nhận thức cũng như khả năng của mình nên nhận thức của con người đối với thế giới khách quan còn giản đơn, mang tính phỏng đoán Từ trước đến nay, vấn đề nhận thức là một những bộ phận cơ bản của khoa học triết học Trong lịch sử triết học, vấn đề nhận thức luôn đóng vai trò chủ yếu thậm chí còn là vấn đề trung tâm của triết học (thời Cận đại ở Tây Âu) Lý luận nhận thức là học thuyết về sự nhận thức của con người, về xuất hiện và phát triển của nhận thức, cũng như con đường và phương pháp nhận thức chân lý và tiêu chuẩn kiểm tra chân lý Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó bắt đầu từ việc xem xét các hiện tượng một cách trực tiếp, sáng tạo và phải dựa trên cơ sở thực tiễn.Bằng nhãn quan của một nhà duy vật biện chứng Lênin đã chứng minh rằng: “Nhận thức của con người là một quá trình và sự nhận thức của con người không phải

đi theo một đường thẳng”

Mỗi một hệ thống triết học đều có lý luận nhận thức riêng và nó luôn là nội dung chiếm vị trí quang trọng trong mỗi hệ thống Vấn đề cơ bản của triết học là điểm xuất phát của lý luận nhận thức, từ đây hình thành những quan điểm khác nhau, đối lập nhau Đây là lĩnh vực thể hiện cuộc đấu tranh gay gắt giữa các hệ thống triết học duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình trong lịch sử triết học Khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quan niệm và phương pháp nhận thức của các giai đoạn trước đó Mác và Ăngghen đã đưa ra quan điểm nguyên tắc có tính nền tảng về lý luận nhận thức, tạo ra bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong lý luận nói chung và lý luận nhận thức nói riêng Tư tưởng vĩ đại đó được Lênin tiếp tục kế thừa và phát triển sâu sắc, không những giúp cho chúng ta có một cách hiểu hoàn chỉnh hơn về vấn đề nhận thức mà

Trang 7

còn là một đòn giáng nặng nề vào những quan điểm duy tâm, phản khoa học về vấn đề nhận thức

Đi sâu vào tìm tòi, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nhận thức với một cái nhìn sâu sắc, khoa học, Lênin đã trình bày một cách hệ thống vấn đề này trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” Vậy chúng ta đã nhìn nhận và đánh giá vấn đề này như thế nào? Từ đó liên hệ làm rõ ý nghĩa của vấn đề này trong thời đại 4.0 hiện nay

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài làm

khóa luận tốt nghiệp là: “Vấn đề nhận thức trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” và ý nghĩa của nó trong thời đại 4.0 hiện nay.”

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Vấn đề nhận thức đã được đặt ra từ lâu trong lịch sử triết học Đặc biệt, từ khi triết học Mác ra đời, vấn đề nhận thức được xem là một trong những vấn đề trung tâm xuyên suốt cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Với những quan điểm tiến bộ về nhận thức, Lênin đã trình bày vấn đề này một cách khoa học và có hệ thống, đặc biệt được thể hiện rõ

nhất trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”

Đặc biệt, từ những quan điểm tiến bộ về nhận thức, Lênin đã vạch rõ lối đi đúng đắn trong việc xem xét và giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra

Trong quá trình thu thập tài liệu, những nội dung bàn về vấn đề nhận thức đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, tiếp cận ở mức độ tương đối sâu sắc như các công trình nghiên cứu tiêu biểu của tác giả Vũ Văn Viên, Đỗ

Thị Hưng về vấn đề lý luận nhận thức Hay công trình nghiên cứu “Tiếp cận

một số vấn đề về nhận thức khoa học” của Tiến sĩ Bùi Mạnh Hùng Và các bài

viết liên quan đến vấn đề nhận thức trong tác phẩm “Sức sống của một tác

phẩm triết học” Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều đã trình bày

một cách khái quát nhất và có hệ thống góp phần mang lại cái nhìn hoàn thiện

Trang 8

hơn về vấn đề nhận thức Tuy nhiên đối với đề tài nghiên cứu về: Vấn đề nhận

thức trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”

và ý nghĩa của nó trong thời đại 4.0 hiện nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu Những công trình trên là nguồn tài liệu quý giá để tôi tham khảo

và hình thành được đề tài nghiên cứu của mình

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ vấn đề nhận thức trong tác

phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, qua đó giúp

chúng ta hiểu được ý nghĩa của nó trong thời đại 4.0 hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề tài đi sâu làm rõ các nội dung liên quan đến vấn đề nhận thức trong

tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” từ đó giúp

cho chúng ta có một cách hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh hơn nữa về vấn đề nhận thức

- Thông qua tìm hiểu vấn đề nhận thức trong tác phẩm, từ đó chúng ta

thấy rõ được ý nghĩa của nó trong thời đại 4.0 hiện nay

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng: Đề tài nghiên cứu về vấn đề nhận thức trong tác phẩm

“Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” và ý nghĩa của nó

trong thời đại 4.0

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề nhận thức của

con người đặc biệt là vấn đề nhận thức trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và

chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” từ đó hiểu được ý nghĩa của nó khi nghiên

cứu vấn đề này trong thời đại 4.0 hiện nay

- 5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là lý luận

Trang 9

về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra đề tài còn còn sử dụng kết hợp các phương pháp như: phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phương pháp kết hợp giữa lịch sử và logic, phương pháp khái quát hóa

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài đã khái quát, hệ thống những nội dung liên quan đến vấn đề

nhận thức trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

phán”

- Thông qua các nội dung đã được trình bày, để tài tiếp tục liên hệ thực

tế để hiểu được ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề nhận thức trong thời đại 4.0 hiện nay

- Ngoài ra đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các sinh viên

chuyên ngành triết học và những ai quan tâm

7 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu đề tài có kết cấu thành

2 chương và 6 tiết:

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN”

1.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm và kết cấu tác phẩm

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm

Lênin viết tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

phán” trong hoàn cảng nước Nga sau thất bại của cuộc cách mạng dân chủ tư

sản (1905 - 1907) Trước tình trang thoái trào của cách mạng, nước Nga bị đặt dưới quyền thống trị hà khắc của chế độ quân chủ chuyên chế Nga Hoàng Chính quyền chuyên chế Nga Hoàng thẳng tay đàn áp các nhà cách mạng, tước đoạt mọi thành quả mà cuộc cách mạng thu được, bọn phản động đã tấn công

Trang 10

cách mạng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng đời sống nhân dân vô cùng khổ cực

Nguy hại hơn, sự thất bại của cuộc cách mạng 1905 không những đem lại sức mạnh cho cuộc tấn công trực diện của bọn phản động vào triết học Mác

mà còn làm cho bộ phận tham mưa của giai cấp công nhân Nga bị phân hóa sâu sắc, một số phần tử tri thức là đảng viên đảng dân chủ xã hội và một số người trong giai cấp tư sản vốn là đồng minh của cách mạng đã chao đảo rời bỏ hàng ngũ cách mạng đi theo chế độ chuyên chế Nga Hoàng Phái Men-sê-vích thì sa sút tinh thần, hoảng sợ từ đó dấy lên phong trào chống đảng, đòi thủ tiêu đảng, thủ tiêu đấu tranh chính trị xuất hiện trào lưu cơ hội thỏa hiệp với chế độ phản động, chống lại phong trào cách mạng Đây cũng là thời kỳ mà Lênin nhận xét là “Chủ nghĩa duy vật đâu đâu cũng bị ruồng bỏ” và các thế lực

đủ loại “ liên minh với nhau và cùng thù ghét chủ nghĩa biện chứng” Trong

xã hội, một số ngã theo chủ nghĩa duy tâm, thần bí, xuất hiện trào lưu “Tìm thần” và “Tạo thần” trong giới tri thức Trong văn học nghệ thuật, người ta tán dương sự sùng bái chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng phi chính trị, từ bỏ những tư tưởng dân chủ cách mạng có tính chất truyền thống của nước Nga Có thể nói rằng, các thế lực cách mạng đã làm tất cả những gì có thể làm để bôi nhọ giai cấp công nhân và chính đảng của nó, phá bỏ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác

Đặc biệt, trong những năm cuối cùng của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước sự phát triển của khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học phát triển như

vũ bão Con người không chỉ nhận thức, khám phá thế giới vĩ mô mà còn đi sâu nhận thức thế giới vi mô, nhiều quan điểm mới về thế giới tự nhiên, về thế giới vật chất buộc triết học phải đi sâu nghiên cứu và tìm câu trả lời Trước đòi hỏi đó, Lênin đã miệt mài nghiên cứu và đấu tranh chống lại mọi trào lưu triết

học phản Mácxít, bảo vệ và phát triển triết học Mác Tác phẩm “Chủ nghĩa duy

vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” ra đời đã khái quát những thành tựu

Trang 11

mới của khoa học tự nhiên, vạch ra con đường, phương pháp thoát khỏi sự khủng hoảng trong khoa học tự nhiên Lênin đã phê phán chủ nghĩa Makhơ,chủ nghĩa duy tâm về vật lý và làm giàu thêm triết học Mácxít trên tất cả các lĩnh vực từ thế giới quan, nhận thức luận,những quan điểm về xã hội tất cả đã đem đến cho triết học Mácxít một diện mạo mới

1.1.2 Kết cấu tác phẩm

Tác phẩm tính đến lần xuất bản lần thứ nhất (5/1905), ngoài phần lời tựa, phần thay lời mở đầu và phần kết luận, tác phẩm gồm 6 chương với 39 mục Trong Khóa luận này, tác giả phân tích các luận điểm của Lênin dựa trên bản dịch tiếng Việt của tác phẩm in trong Lênin – Toàn tập, Tập 18, Nxb Tiến

“cảm giác” hay “yếu tố” là cái có trước vật chất Đồng thời, Lênin chỉ rõ toàn

bộ lịch sử khoa học tự nhiên đều chứng thực tính chính xác của nguyên lý của chủ nghĩa duy vật: vật chất là cái có trước ý thức và cảm giác là cái có sau Trong chương này, Lênin cũng phát triển tư tưởng của Ăngghen về vật chất hữu cơ phát sinh từ vật chất vô cơ

Chương 2: Lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật biện chứng II

Trong chương này, bằng sự phê phán khả tri luận của Cantơ, hoài nghi luận của Hium, chủ nghĩa tín ngưỡng của Makhơ Lênin đã bảo vệ và phát triển

lý luận nhận thức Mácxít Theo Cantơ con người chỉ nhận thức được hiện tượng mà không thể biết về “vật tự nó” Quan niệm của Cantơ đối lập với quan điểm của chủ nghĩa Mác về tính có thể nhận thức thế giới, về chân lý khách quan, về thực tiễn được coi là tiêu chuẩn của chân lý

Trang 12

Lênin còn phê phán Makhơ lấy cớ bác bỏ thuyết “bất khả tri” để phủ nhận sự tồn tại của “vật tự nó” phủ nhận thế giới hiện thực, để khẳng định chỉ

có cảm giác mới tồn tại trực tiếp và thế giới bên ngoài là một hỗn hợp của những cảm giác Từ đó, Lênin đã nêu ra 3 kết luận cơ bản của lý luận nhận thức Mác xít và trong chương này Lênin đã nêu lên một định nghĩa kinh điển

Chương 4:Những nhà triết học duy tâm, bạn chiến đấu và những kẻ kế thừa của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Lênin làm rõ khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và mối liên hệ của nó với các khuyanh hướng triết học khác ở phương Tây thời bấy giờ, phê phán các biến dạng khác của chủ nghĩa Makhơ như thuyết kinh nghiệm ký hiệu, thuyết kinh nghiệm nhất nguyên, thuyết nội tại Lênin khẳng định quan điểm của chủ nghĩa duy vật về thế giới vật chất Thế giới vật chất tồn tại từ trước khi có con người và tồn tại độc lập với ý thức của con người, ý thức là đặc tính của vật chất có tổ chức cao: bộ óc con người,là cơ năng của bộ óc con người

Chương 5:Cuộc cách mạng mới nhất trong khoa học tự nhiên và phê phán chủ nghĩa duy tâm vật lý học

Khái quát những phát hiện mới trong vật lý học, Lênin phê phán chủ nghĩa Makhơ đã lợi dụng những thành tựu đó để chống lại chủ nghĩa duy vật,

Trang 13

giải thích nguyên nhân cuộc khủng hoảng trong khoa học tự nhiên, vạch ra thực chất của cuộc khủng hoảng vật lý học và chỉ ra con đường thoát khỏi cuộc khủng hoảng đó Đồng thời, Lênin đã làm giàu thêm lý luận nhận thức Mác xít

về chân lý khách quan về tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lý, quan hệ giữa lý luận và thực tiến

Chương 6: Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Lênin phê phán chủ nghĩa duy tâm của Makhơ trong lĩnh vực xã hội, qua

đó phát triển và làm giàu những nguyên lý duy vật lịch sử của Mác và Ăngghen Lênin cũng phân tích và nhấn mạnh tính đảng trong triết học, vạch rõ con đường thứ ba trong triết học phương Tây đương đại và phê phán các triết gia tư sản muốn đứng lên trên các các đảng phái triết học

Phần Kết Luận:

Lênin đã phê phán tính chất sai lầm, phản tiến bộ của chủ nghĩa Makhơ

và chủ nghĩa duy tâm vật lý trong khoa học tự nhiên Ngoài ra, ông cũng nêu lên 4 chỉ dẫn quan trọng trong việc đánh giá chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” là một trong những tác phẩm mẫu mực trong việc bảo vệ và phát triển triết học Mác trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp

1.2 Sự phê phán các nhận thức sai lầm trong triết học

Chủ nghĩa Makhơ (hay chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán) xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX ở Đức và Áo Sự ra đời của nó nhằm chống lại chủ nghĩa Mác, đây là lý luận triết học duy tâm chủ quan

Để chống lại chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán đã lấy chủ nghĩa Cantơ làm vũ khí nhưng đã “tước bỏ” và “làm sạch” những yếu tố duy vật trong triết học của Cantơ là thừa nhận “vật tự nó” để đi đến chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa “bất khả tri” của Béccơli và Hium

Phái Makhơ lập luận rằng, người ta nói với chúng ta rằng những người duy vật thừa nhận là có một cái gì đó không thể tư duy được và không thể nhận

Trang 14

thức được, cái “vật tự nó” cái vật chất “ở ngoài kinh nghiệm” ở ngoài nhận thức của chúng ta Họ rơi vào một thứ chủ nghĩa thần bí thật sự, vì họ thừa nhận có một cái gì đó ở bên kia, ở ngoài giới hạn của “kinh nghiệm” và của nhận thức Khi giải thích rằng vật chất tác động vào giác quan của chúng ta gây nên cảm giác thì những người duy vật lấy cái “chưa biết được”, cái hư vô làm

cơ sở, vì theo như lời họ nói, chính họ cũng đã thừa nhận rằng cảm giác của chúng ta là nguồn duy nhất của nhận thức Đây chính là những lý lẽ mà phái Makhơ dùng để công kích chủ nghĩa duy vật

Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Lênin phê phán sự phê phán của phái Makhơ đối với triết học Cantơ Lênin cho rằng, các nhà triết học theo phái Makhơ đứng trên lập trường của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán để phê phán Cantơ Vậy nên “họ đã lầm to khi tưởng rằng mình là người đầu tiên

đã “gạn lọc kinh nghiệm” của Cantơ khỏi thuyết tiên nghiệm và vật tự nó và do

đó đã tạo nên một khuynh hướng “mới” trong triết học” Nhưng thật ra họ chỉ tiếp tục đường lối cũ của các nhà triết học duy tâm chủ quan mà thôi

Hơn nữa, theo Lênin sự phê phán của phái Makhơ về triết học Cantơ là một bước thụt lùi so với sự phê phán của các nhà triết học duy tâm trước đó Bởi lẽ, Makhơ và Avênariút chỉ trích Cantơ không phải vì “Cantơ đã xét vật tự

nó một cách không đủ thưc tại, không đủ duy vật mà vì Cantơ đã thừa nhận sự tồn tại của vật tự nó; không phải vì Cantơ đã không chịu rút ra từ hiện thực khách quan ra tính nhân quả và tính tất yếu của giới tự nhiên mà vì Cantơ nói chung, đã thừa nhận bất kỳ tính nhân quả và tính tất yếu nào” Quan điểm này của Lênin là sự phê phán có tính chất phê phán về một trào lưu triết học tự nhận mình là khuynh hướng triết học mới, nhưng thực ra chỉ là biến tướng đơn thuần của chủ nghĩa duy tâm truyền thống

Chống lại thế giới quan khoa học và chủ nghĩa duy vật, phái Makhơ đã lảng tránh vấn đề cơ bản của triết học, lảng tránh sự phân chia các nhà triết học thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Nhưng họ lại luôn tìm cách che

Trang 15

giấu chủ nghĩa duy tâm chủ quan của mình Nếu như Béccơli gọi các sự vật là tổng hợp của cảm giác, thì phái Makhơ lại đưa ra học thuyết về “các yếu tố của thế giới” và gọi sự vật là “tổ hợp của các yếu tố” Nhưng cái gọi là “yếu tố” thực chất cũng là kinh nghiệm, cảm giác mà thôi

Theo Makhơ, nhận thức của con người không xuất phát từ sự tồn tại khách quan của các sự vật mà xuất phát từ cái gọi là “tài liệu trực tiếp”, nghĩa

là từ những cảm giác về âm thanh, màu sắc, mùi vị Tuy nhiên, Makhơ không gọi những cái đó là cảm giác mà gọi là “những yếu tố của kinh nghiệm chúng ta” Những “yếu tố” theo Makhơ là những viên gạch đầu tiên làm cơ sở cho toàn bộ thế giới tâm lý và vật lý Cũng theo ông, thuật ngữ mới này đã khắc phục được sự tranh cãi lâu nay giữa các nhà duy vật và duy tâm Vì theo Makhơ, các “yếu tố” không phải là vật chất, cũng không phải là tinh thần; không phải là vật lý, cũng không phải là tâm lý, mà là “cái trung gian” Những người theo chủ nghĩa Makhơ ở Nga đã nắm lấy học thuyết “yếu tố” để hết lời

ca ngợi nó Họ coi đó là phát minh vĩ đại, là cơ sở để thống nhất chủ nghĩa Makhơ và chủ nghĩa Mác

Lênin tiếp tục phê phán Makhơ đã xóa nhòa tính đảng trong triết học Mác, muốn đứng trên cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng thực chất họ là những người duy tâm chủ quan Họ chỉ nhắc lại quan điểm cũ của Béccơli Cái gọi là thuật ngữ mới chẳng qua chỉ là lợi dụng những thành tựu mới của khoa học để che đậy chủ nghĩa duy tâm Lênin coi lý thuyết về “yếu tố trung gian” là sai lầm của Makhơ và những người theo chủ nghĩa Makhơ”

Lênin viết rằng “Thật là trẻ con nếu nghĩ rằng bịa đặt ra một từ mới, là

có thể tránh được những trào lưu triết học cơ bản, triết học của các ngài chỉ là chủ nghĩa duy tâm để uổng công che đậy sự trần trụi của chủ nghĩa duy ngã của mình bằng một thuật ngữ “khách quan” hơn Hoặc giả “yếu tố” không phải

là cảm giác và như vậy từ “mới” của các ngài tuyệt đối không có một chút ý nghĩa gì cả và các ngài, chỉ làm ồn lên vô ích mà thôi” (Tr 56)

Trang 16

Cũng như Makhơ, Avênariút đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy tâm chủ quan Ông cho rằng, không có chủ thể thì không

có khách thể; không có cái gì lại không tồn tại cùng với sự suy nghĩ, cùng với ý thức cả Ông ta đã coi thường một sự thật là giới tự nhiên đã có trước con người, tồn tại khách quan ngoài ý thức của con người

Những người theo chủ nghĩa Makhơ đã che đậy chủ nghĩa duy tâm của mình bằng cách tự cho họ là theo “Chủ nghĩa thực tại ngây thơ” Ý đồ đó của

họ đã bị Lênin vạch trần: “ Thuyết thực tại ngây thơ” của bất cứ một người lành mạnh nào, không quan nhà thương điên hay không qua trường học của những nhà triết học duy tâm, là ở chỗ thừa nhận sự tồn tại của vật, của hoàn cảnh, của thế giới không phụ thuộc vào cảm giác của chúng ta, vào ý thức của chúng ta, vào cái tôi của chúng ta và vào con người nói chung” (Tr.74)

Trên cơ sở xuất phát từ quan niệm sự vật là phứ hợp của những thuộc tính đã được gắn liền với các cảm giác và được gọi là các “yếu tố” Makhơ đã đặt cho khoa học nhiệm vụ cơ bản không phải là nghiên cứu hiện thực khách quan mà là nghiên cứu phức hợp cảm giác Vì cái vật lý và cái tâm lý đã hòa lẫn vào nhau trong cái được gọi là các “yếu tố” và do đó đi tìm cái hiện thực ở bên ngoài kinh nghiệm, bên ngoài phức hợp cảm giác là siêu hình Vì vậy, theo Makhơ nhiệm vụ của khoa học chỉ là: Thứ nhất, nghiên cứu những quy luật về mối liên hệ giữa các biểu tượng (Tâm lý học) Thứ hai, tìm ra những quy luật

về mối liên hệ giữa các cảm giác (Vật lý học) Thứ ba, Giải thích những quy luật về mối liên hệ giữa cảm giác và biểu tượng (Tâm lý vật lý học)

Phủ nhận thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác, Makhơ coi nhiệm

vụ của khoa học chỉ là nghiên cứu, mô tả những tri thức có tính chất kinh nghiệm- đó là thực chất của chủ nghĩa thực chứng Makhơ, điều đó thể hiện tính đảng duy tâm trong triết học Makhơ

Lênin đã chỉ rõ, triết học bao giờ cũng mang tính đảng, tính đảng của triết học thể hiện ở chỗ nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp nào, cho chính trị

Trang 17

của giai cấp nào và thuộc về trường phái triết học nào - duy vật hay duy tâm, hết thảy những người theo phái Makhơ đều có tham vọng muốn “ vượt lên trên” chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, muốn khắc phục sự “cũ kỹ” đó nhưng cuối cùng thì họ lại mỗi lúc sa vào chủ nghĩa duy tâm và kiên quyết tiến hành một cuộc đấu tranh đến cùng chống lại chủ nghĩa duy vật Lênin cho rằng triết học hiện đại hay triết học hai nghìn năm trước đây đều có tính đảng Chủ nghĩa Mác đòi hỏi một nguyên tắc tính đảng công khai, rõ ràng và triệt để của triết học

Vạch trần sự thỏa hiệp, đầu hàng của những người theo phái Makhơ ở Nga Lênin viết: “Điều bất hạnh của những người theo phái Makhơ ở Nga là muốn “điều hòa” học thuyết Makhơ với chủ nghĩa Mác Các mưu toan đủ loại của họ để phát triển và bổ sung chủ nghĩa Mác đều dựa trên những phương pháp cực kỳ ngây thơ” (Tr 424, 425) Lênin cũng chỉ rõ, dù những người theo chủ nghĩa Makhơ dùng những lời lẽ có vẻ khoa học, viện dẫn ra cả “nhận thức luận hiện đại”, “triết học tối tân”, “triết học của khoa học tự nhiên hiện đại” thì họ vẫn không che dấu được thực chất của mình là những người bảo vệ chủ nghĩa tín ngưỡng, Lênin viết: “Dựa vào tất cả những học thuyết dường như tối tân đó, những kẻ phá hoại chủ nghĩa duy vật biện chứng ở nước ta, đã không chút ngại ngùng đi đến chỗ thừa nhận ngay thuyết tín ngưỡng nhưng khi cần phải tỏ rõ thái độ của họ đối với Mác và Ăngghen thì họ lại mất hết cả dũng khí, mất hết cả sự tôn trọng đối với niềm tin của bản thân họ Trên thực tế, như thế là hoàn toàn rời bỏ chủ nghĩa duy vật biện chứng, tức rời bỏ chủ nghĩa Mác” (Tr.10)

Lênin đã vạch rõ mối liên hệ sâu sắc giữa chủ nghĩa Makhơ với tôn giáo, chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy tâm, với tính cách là một xu hướng triết học, là biện pháp quan trọng để duy trì và giữ vững tôn giáo Nhờ kết quả sự nghiên cứu toàn diện về chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, nhờ đem so sánh chủ nghĩa ấy với các biến dạng khác của chủ nghĩa duy tâm Lênin đã đi đến kết luận rằng

Trang 18

chủ nghĩa duy tâm “ chẳng qua chỉ là một hình thái tế nhị và tinh vi của chủ nghĩa tín ngưỡng, một chủ nghĩa được vũ trang đầy đủ, có trong tay những tổ chức rất rộng lớn và lợi dụng những sự dao động nhỏ nhất trong tư duy triết

học, không ngừng tiếp tục ảnh hưởng vào quần chúng” “Chủ nghĩa duy vật và

chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” là tác phẩm của chủ nghĩa vô thần mang tính

chiến đấu của giai cấp vô sản, dựa trên cơ sở một thế giới quan khoa học triệt

để là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, không điều hòa với bất kỳ hình thức biện hộ nào cho tôn giáo

Có thể nói rằng, công lao vĩ đại nhất của Lênin là ở chỗ: trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyết bất khả tri, Người đã phát triển toàn diện học thuyết Mácxít về tính chất có thể nhận thức được thế giới,

lý luận về phản ánh Lênin đã bảo vệ quan niệm duy vật về cái tâm lý, về ý thức với tính cách là sản phẩm cao nhất của vật chất, với tính cách là chức năng của óc con người Người nhấn mạnh rằng tư duy, ý thức là sựu phản ánh thế giới bên ngoài Người đã định nghĩa một cách xuất sắc cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, đã phê phán thuyết tượng trưng hay thuyết tượng hình - một thứ lý luận bất khả tri - cho rằng cảm giác chỉ là những

ký hiệu ước lệ chứ không phải là hình ảnh của những vật có thực Ngay trong thời đại của chúng ta, thuyết này vẫn được các đại biểu của những xu hướng triết học tư sản hiện đại tuyên truyền, cho nên sự phê phán của Lênin đối với những cái thuyết ấy vẫn có một ý nghĩa nóng hổi

1.3 Quan điểm của Lênin về nhận thức thông qua lý luận nhận thức

mà Người đã phát triển

1.3.1 Nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức khoa học

Lênin coi lý luận nhận thức là một vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng những thành tựu của vật lý học và khoa học tự nhiên để ra sức chứng minh rằng thế giới là không thể nhận thức được, rằng nhận thức của con

Trang 19

người là hạn chế Trong ba chương đầu của tác phẩm, Lênin đã phê phán nhận thức luận của chủ nghĩa Makhơ, vạch rõ sự khác nhau giữa lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng và cái gọi là “lý luận nhận thức” của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Lênin đã giải quyết vấn đề nhận thức luận xuất phát từ cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Lênin khẳng định rằng, trong mọi điều kiện của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thì việc nhận thức đúng đắn thực chất và tính chất phát triển của khoa học chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nhận thức một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học mà triết học Mác đã vạch ra

Xuất phát từ tư tưởng này, Lênin cho rằng những nhà triết học hay bác học hoặc có ý thức hoặc vô ý thức nhất định phải trả lời những vấn đề sau: Một

là, vật chất hay là ý thức cái nào có trước Hai là, có thừa nhận khả năng nhận thức đúng đắn thế giới xung quanh của con người không Thực tiễn đã chứng minh rằng, thế giới quan của nhà nghiên cứu thường được thể hiện trong những khái quát khoa học Bằng cách này hay cách khác, thế giới quan đó luôn để lại dấu ấn của mình trong những kết luận khoa học của họ Vì vậy, chỉ có sự phân tích những kết luận ấy trên lập trường vấn đề cơ bản của triết học, thì mới vạch

ra được nguyên nhân dẫn đến những kết quả khoa học có giá trị, được ẩn giấu dưới các hình thức triết học khác nhaucủa nhà khoa học đó Chính vì vấn đề cơ bản của triết học có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận to lớn như vậy, cho nên xung quanh vấn đề này có rất nhiều ý kiến trái chiều khác nhau

Vấn đề cơ bản của triết học, theo Ăngghen là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, khi đề cập đến mối quan hệ giữa hai mặt của vấn đề cơ bản, một số lớn các nhà triết học trước Mác đã tách rời hai mặt đó, họ cho rằng mỗi mặt do một ngàng khoa học nghiên cứu riêng biệt Mặt thứ nhất thuộc về bản thể luận tức học thuyết về tồn tại; mặt thứ hai thuộc về nhận thức luận tức học thuyết về nhận thức Họ đã đối lập bản thể luận với nhận thứ luận, coi đó là hai ngành

Trang 20

tách rời nhau Đối với họ, nhận thức luận chỉ nghiên cứu về tư duy, không liên quan gì đến thế giới khách quan, vì theo họ nhận thức là do trời ban cho, là do

sự phát triển của “ý niệm tuyệt đối” chứ không phải do sự phản ánh của hiện thực khách quan Đó là nhận thức luận duy tâm

Ngược lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng tìm thấy mối liên hệ khăng khít

và sự thống nhất hữu cơ giữa bản thể luận và nhận thức luận và cho rằng: nhận thức là sự phán ánh thế giới khách quan vào bộ não người, nhận thức chỉ là những hình ảnh của các sự vật tồn tại khách quan ngoài ý thức con người Thế giới khách quan đang vận động, phát triển không ngừng, sự vận động, phát triển đó tuân theo những quy luật của phép biện chứng; do đó ý thức con người phản ánh thế giới khách quan cũng không ngừng vận động, phát triển và cũng tuân theo những quy luật của phép biện chứng Lênin đã đưa ra 3 kết luận cơ

bản của nhận thức luận Mác xít như sau: Thứ nhất, sự vật tồn tại một cách

khách quan và độc lập với ý thức của chúng ta Thứ hai, giữa hiện tượng và

“vật tự nó” không có một sự khác biệt có tính nguyên tắc nào cả Thứ ba, sự

nhận thức hiện thực phát triển từ chỗ đi từ chưa biết đến biết, từ nhận thức chưa đầy đủ, chưa chính xác đến nhận thức đầy đủ và chính xác hơn.Như vậy,

lý luận về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng đòi hỏi phải giải quyết trên cơ sở duy vật cả mặt thứ nhất và mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học

Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan Ở đây chủ thể nhận thức là con người, tuy nhiên khi tiến hành một hoạt động nhận thức cụ thể nào đó, chủ thể có thể là một cá nhân, một tầng lớp, một giai cấp, dân tộc Trong khi tiến hành hoạt động nhận thức, con người luôn chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, tức là luôn hoạt động với tư cách một thực thể xã hội với những lợi ích giai cấp nhất định, với những chuẩn mực giá trị, những tâm trạng, truyền thống được thể hiện trong nền văn hóa củ dân tộc Còn khách thể nhận thức là toàn bộ thế giới hiện thực Với một con người

Trang 21

cụ thể, một nhóm người cụ thể, khách thể nhận thức là một sự vật, hiện tượng nào đó, một bộ phận của hiện thực nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức của chủ thể đó Như vậy, không chỉ chủ thể nhận thức, mà cả khách thể nhận thức cũng mang tính lịch sử - xã hội

Nhiều nhà duy tâm khách quan, mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới, song coi nhận thức cũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan chỉ là sự tự nhận thức của ý niệm, tư tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người

Những người theo thuyết Hoài nghi thì nghi ngờ tính xác thực của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một nguyên tắc nhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới bên ngoài Còn những người theo thuyết Không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức của thế giới Đối với

họ, thế giới là không thể biết được, lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác ra con người không thể biết được gì nữa

Trước tình hình đó, Lênin đã phê phán, vạch ra sai lầm của chủ nghĩa duy tâmchủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách quan, thuyết Hoài nghi, thuyết Không thể biết Lênin cũng chỉ ra sai lầm của chủ nghĩa duy vật trước Mác, mặc dù khẳng định được nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người, con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng họ bị hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc, trực quan và không thấy được tính sáng tạo

Trang 22

của quá trình nhận thức, không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, cũng như không giải quyết được triệt để bản chất của nhận thức

Mác và Ăngghen trên cơ sở kế thừa những thành tựu về khoa học, kỹ thuật và thực tiễn xã hội để xây dựng nên lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:

Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan ở ngoài con người,

độc lập đối với cảm giác, tư duy và ý thức của con người

Hai là, thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người Về nguyên

tắc không có cái gì là không thể biết Dứt khoát là không có và không thể có đối tượng nào mà con người không thể biết được, chỉ có những cái hiện nay con người chưa biết,nhưng trong tương lai với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, con người sẽ biết được Với khẳng định này, lý luận nhận thức Mácxít một lần nữa khẳng định sức mạnh của con người trong việc nhận thức

và cải tạo thế giới

Nhận thức là một quá trình phức tạp, nhờ có nhận thức con người mới có

ý thức về thế giới, ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức thế giới Thế giới vật chất tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức của con người, tác động vào các giác quan sinh ra cảm giác, từ đó đi tới hình thành ý thức Con người (cá nhân hoặc nhóm người, giai cấp hoặc cả dân tộc) là chủ thể tích cực, sáng tạo của nhận thức Khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo đức đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau và ảnh hưởng đến kết quả nhận thức Còn khách thể nhận thức là một bộ phận nào đó của hiện thực mà nhận thức hướng tới nắm bắt, phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức Do vậy, khách thể nhận thức không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể nhận thức được mở rộng đến đâu

là tùy theo sự phát triển của nhận thức, của khoa học

Trang 23

Ba là, nhận thức không phải là một hành động tức thời, đơn giản, máy

móc, và thụ động mà là một quá trình biện chứng, năng động, sáng tạo Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Đó cũng chính là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Vì vậy, trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng Nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem

sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ

và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”

Bốn là, cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn Thực

tiễn còn là mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức Nhận thức là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng , năng động, sáng tạo, thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội

Một trong các vấn đề quan trọng nhất mà “Chủ nghĩa duy vật và chủ

nghĩa kinh nghiệm phê phán” đặt ra là vấn đề xây dựng lý luận phản ánh Cơ

sở nền tảng cho việc xây dựng lý luận phản ánh đó là quan điểm: “Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như cảm giác, - đặc tính phản ánh” Trong cuộc đấu tranh chống lại những nhà triết học duy tâm đủ mọi sắc thái, Lênin đã thường xuyên sử dụng một luận điểm mà người ta thường coi đó là quy luật cơ bản của sự phản ánh: “Nếu không có cái bị phản ánh thì không thể có cái phản ánh, nhưng cái bị phản ánh luôn tồn tại một cách độc lập đối với cái phản ánh” Và do chỗ, ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh, nên lý luận phản ánh của Lênin đã được thừa nhận là cơ sở nền tảng của nhận thức luận duy vật biện chứng

Quan điểm của Lênin về sự phản ánh với tính cách là thuộc tính chung của vật chất góp phần lý giải một cách khoa học sự xuất hiện của ý thức, đồng thời có ý nghĩa to lớn trong việc luận chứng một cách duy vật vấn đề cơ bản

Trang 24

của triết học trên cả hai phương diện nhận thức luận và bản thể luận Từ luận điểm cho rằng, toàn bộ vật chất có thuộc tính chung - thuộc tính phản ánh - về mặt lôgíc, có thể rút ra kết luận rằng tất cả các hình thức phản ánh bắt đầu từ hình thức sơ đẳng nhất trong giới tự nhiên vô sinh như phản ánh vật lý, cho đến hình thức hoàn thiện nhất và phát triển nhất là ý thức đều có mối quan hệ qua lại trong tiến trình tiến hóa của vật chất Tất cả các hình thức của phản ánh đều

là thuộc tính của chính vật chất và ý thức, không thể được đưa vào vật chất từ cái phi vật chất nào đó Đồng thời, quan điểm cho rằng phản ánh là thuộc tính chung của vật chất đưa lại cơ sở để khẳng định về mặt nguyên tắc tính có thể nhận thức được của thế giới bởi hình thức phản ánh cao nhất,- ý thức con người

Bên cạnh đó, quan điểm về sự tồn tại ở toàn bộ toàn bộ vật chất thuộc tính phản ánh đã làm phong phú thêm nhận thức luận duy vật biện chứng; nó đóng góp phương pháp luận quan trọng trong việc nghiên cứu nguồn gốc của các hình thái phản ánh, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của các ngành tri thức và kỹ thuật hiện đại

1.3.3 Vấn đề chân lý

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

phán”, Lênin đã đưa ra và giải quyết một cách sâu sắc, toàn diện một loạt vấn

đề quan trọng của triết học, phê phán một cách sâu sắc chủ nghĩa duy tâm và tư biện trên nhiều vấn đề về xã hội và nhận thức, trong đó có vấn đề chân lý Sự phân tích một cách sáng tạo những vấn đề mới của triết học và phê phán những quan điểm phi Mácxít Vấn đề chân lý, một trong những vấn đề trung tâm của

lý luận nhận thức và của triết học nói chung đã được Lênin dành cho một vị trí xứng đáng trong tác phẩm của mình Sở dĩ, có thể coi vấn đề chân lý là một trong những vấn đề quan trọng của triết học, vì việc giải quyết vấn đề này đã bao hàm việc giải quyết hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học: Thứ nhất,

Trang 25

quan hệ giữa tư duy và tồn tại, cái nào quyết định cái nào? Thứ hai, Con người

có thể nhận thức được thế giới hay không? Và nếu có, thì khả năng đến đâu?

Kế thừa và phát triển những luận điểm quan trọng của Mác và Ăngghen

về chân lý, đồng thời sử dụng, đánh giá và lý giải một cách có phê phán quan điểm của Hêghen về chân lý, khái quát những thành tựu mới nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn xã hội đương thời, phê phán một cách sâu sắc và toàn diện các quan điểm duy tâm về chân lý của phái Makhơ, chủ nghĩa thực dụng, Lênin đã đưa ra những quan điểm mới về vấn đề chân lý

Học thuyết về chân lý được Lênin xây dựng trên các quan điểm nền tảng sau đây như: Thừa nhận vai trò quyết định của thực tiễn trong nhận thức với tư cách là cơ sở, động lực, mục đích chủ yếu của nhận thức, đồng thời là tiêu chuẩn quyết định tính chân lý của nhận thức và phân tích tính mâu thuẫn của quá trình nhận thức Xuất phát từ cơ sở đó, Lênin coi chân lý là quá trình phản ánh các quy luật của thế giới vật chất vào trong ý thức của con người, là kết quả mang tính lịch sử - cụ thể của nhận thức thế giới Lênin còn cho rằng, tính chất biện chứng của chân lý được chế định bởi tính chất mâu thuẫn của các hiện tượng thuộc thế giới bên ngoài

Lênin coi chân lý là kết quả của quá trình phản ánh đúng đắn thế giới vật chất cũng như các quy luật của thế giới vật chất vào óc người Trong các quan niệm, trong nội dung tư duy, có thể có một nội dung khách quan không? nghĩa

là có chân lý khách quan không, Lênin khẳng định chân lý là khách quan, nó là

sự phán ánh đúng đắn thế giới khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người

Trong lịch sử triết học, vấn đề chân lý được hiểu theo những cách khác nhau, tùy thuộc mỗi hệ thống triết học cụ thể Cách hiểu đúng đắn về vấn đề chân lý như là sự tương ứng của tri thức với sự vật được nhận thức đã có từ thời cổ đại, cụ thể là trong triết học Arixtốt Truyền thống hiểu chân lý như vậy

đã tiếp tục trong triết học của Ph Bêcơn, Spinôda, Điđrô, Hônbách Trong hệ

Trang 26

thống triết học duy tâm thì chân lý được hiểu hoặc như là đặc tính vĩnh cửu, bất biến của các khách thể tư tưởng (Platôn, Aguxtin), hoặc như là sự phối hợp, tương ứng giữa tư duy với chính mình, với những hình thức tiên nghiệm của nó (Cantơ) Chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức, bắt đầu từ Phichtơ đã phân tích chân

lý một cách tiếp cận biện chứng Theo Hêghen, chân lý là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, là quá trình biện chứng của sự tự phát triển của ý niệm tuyệt đối

Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa thực dụng lại cho rằng, chân lý

là sự tương ứng của tư tưởng với nguyện vọng của cá nhân đạt mục đích của mình Các nhà thực chứng mới xem xét chân lý như là sự tương ứng của các mệnh đề khoa học với kinh nghiệm cảm tính Trong khi đó, các đại biểu của chủ nghĩa hiện sinh thì xem xét chân lý như là một hình thức của nhận thức phản ánh tình trạng tâm lý cá nhân Và cuối cùng, chân lý theo quan niệm của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, được coi như là sự tương ứng lẫn nhau giữa các cảm giác (Makhơ và Avênariut) Tuy có những sắc thái khác nhau, nhưng các quan điểm ngoài Mácxít về chân lý đều có đặc điểm chung là không thừa nhận tính khách quan, nguồn gốc ngoài ý thức của nội dung chân lý

Chân lý là sản phẩm của quá trình con người nhận thức thế giới Vì vậy, chân lý cũng được hình thành và phát triển từng bước phụ thuộc vào sự phát triển của sự vật khách quan, vào điều kiện lịch sử - cụ thể của nhận thức, vào hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người Khi xét chân lý là một quá trình Lênin nhấn mạnh rằng: “Sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể

là một quá trình: tư tưởng (= con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết cứng, một bức tranh (hình ảnh) đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), không khuynh hướng, không vận động, y như một thần linh, một số, một tu tưởng trừu tượng”(17, Tr.207) Con đường nhận thức chân lý đó là con đường “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Lênin gọi con đường đó là “con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”

Trang 27

Điều đó cho thấy, trong quan niệm của Lênin khái niệm chân lý thuộc về quá trình nhận thức thế giới khách quan Rằng chân lý không tồn tại “tự nó” hoặc có sẵn ở đâu đấy Chân lý không phải là cái tồn tại độc lập mà con người

có thể cảm thụ được nó Chân lý là sự phán ánh đúng đắn thế giới khách quan trong ý thức con người, là quá trình vận động của sự nhận thức vô tận về thế giới khách quan, qua một chuỗi những sự trừu tượng, hình thành khái niệm, quy luật Lênin còn cho rằng tính khách quan của chân lý là cơ sở quyết định mọi đặc trưng còn lại của nó như tính tuyệt đối, tính tương đối và tính cụ thể

Và do vậy, quan niệm duy nhất đúng đắn về chân lý là quan niệm về nó như là chân lý khách quan Với quan niệm đó, bao giờ Lênin cũng khẳng định rằng thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý, thiếu tiêu chuẩn đó thì bàn luận

về chân lý nói chung là vô bổ

Theo Lênin, tính khách quan là nội dung của chân lý (hay chân lý khách quan), tồn tại trong đối tượng như nó vốn có và được phản ánh trung thực vào

ý thức của con người, không phụ thuộc vào ý thức con người, loài người, còn tính tương đối của chân lý - đó chính là khả năng, là giới hạn của nhận thức con người đạt đến chân lý khách quan và do đó “ người ta có thể phủ nhận yếu tố tính tương đối trong những biểu tượng nào đó của con người mà vẫn không phủ nhận chân lý khách quan” Còn tính tuyệt đối của chân lý được Lênin hiểu là tính đúng đắn trong nhận thức của con người về khách thể nên đó cũng chính là tính khách quan, vì vậy “ không thể phủ nhận chân lý tuyệt đối

mà không phủ nhận sự tồn tại của chân lý khách quan”

Theo Mác và Ăngghen, chân lý là sự phù hợp, tương ứng của tri thức con người với khách thể được con người nhận thức, hay nói cách khác nhận thức chân lý tức là nhận thức sự vật như bản thân nó tồn tại trong thực tế Dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, Lênin khẳng định rằng trái đất đã có lúc tồn tại mà chưa có loài người và nếu vậy nguyên lý đó của khoa học tự nhiên không thể dung hòa được với triết học của Makhơ, với học

Trang 28

thuyết của họ về chân lý Và ông kết luận:“Nếu chân lý là một hình thức tổ chức của kinh nghiệm con người thì lời khẳng định rằng quả đất tồn tại ở ngoài mọi kinh nghiệm của con người không thể là một lời khẳng định đúng được”, rằng chủ nghĩa Makhơ chẳng qua chỉ là một thứ chủ nghĩa chủ quan và nếu lập luận như cách hiểu như thế thì sẽ dễ dàng thấy mối liên hệ giữa nó và tôn giáo

Lênin khẳng định rằng cả chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm chủ quan lẫn thuyết bất khả tri đều coi cảm giác là cơ sở của mọi tri thức con người, nhưng chủ nghĩa Makhơ, chủ nghĩa duy tâm chủ quan, thuyết bất khả tri khác với chủ nghĩa duy vật ở chỗ là họ không đi rangoài giới hạn của cảm giác

để tìm hiểu nguồn gốc cảm giác của con người; còn chủ nghĩa duy vật lại khẳng định thực tại khách quan là nguồn gốc của mọi cảm giác của con người

và nó tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác Lênin cho rằng, việc thừa nhận chân lý khách quan chính là sự đối đầu với chủ nghĩa tín ngưỡng mà cơ sở lý luận của nó là chủ nghĩa duy tâm Trước những thành tựu không thể bác bỏ được và vì lợi ích của khoa học, chủ nghĩa tín ngưỡng không giám công khai phản đối khoa học, nó chỉ phản đối kỳ vọng của khoa học tìm ra chân lý khách quan mà thôi Và theo Lênin, nếu chân lý khách quan tồn tại và nếu khoa học

tự nhiên phản ánh thế giới bên ngoài vào “kinh nghiệm” con người là cái duy nhất có thể đem lại cho chúng ta chân lý khách quan thì bất kỳ chủ nghĩa tín ngưỡng nào cũng đều phải bị bác bỏ một cách vô điều kiện Còn nếu chân lý khách quan không tồn tại và nếu chân lý “kể cả chân lý khoa học” chỉ là một hình thức tổ chức của kinh nghiệm con người thì đó là cửa ngõ đã được mở để chủ nghĩa thầy tu len vào

Như đã phân tích, con người đạt tới chân lý trong qúa trình vận động vô tận của nhận thức thế giới khách quan với cả một chuỗi những sự trừu tượng, những sự hình thành các khái niệm, quy luật Những khái niệm này bao quát một cách tương đối, gần đúng những quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển, tạo nên một bức tranh khoa học về thế giới khách

Trang 29

quan Lênin cho rằng, để đạt được hiệu quả trong hoạt động, nhất thiết nhận thức phải đạt đến trình độ chân lý Theo ông, chân lý là những tri thức phù hợp với khách thể nghiên cứu và được thực tiễn kiểm nghiệm, còn quá trình biện chứng của nhận thức chân lý khách quan được biểu hiện trong mối quan hệ giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối

Chân lý là một quá trình vận động phức tạp từ chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, vì nhận thức của con người ở mỗi giai đoạn lịch sử phụ thuộc vào trình độ phát triển của thực tiễn xã hội Sự phát triển của thực tiễn sẽ mở rộng, làm sâu sắc và chính xác những quan niệm của con người về thế giới Do

đó, chân lý được phát hiện ra ở những giai đoạn nhất định là không thể đầy đủ,

đó là những chân lý tương đối Sở dĩ, nó là tương đối vì nó luôn là cụ thể, luôn được bổ sung bằng những nội dung lịch sử xác định, đúng đắn trong những điều kiện xác định Kết quả là sự biến đổi của điều kiện lịch sử sẽ dẫn tới sự biến đổi chân lý và cái gì là chân lý trong điều kiện lịch sử này sẽ có thể không

là chân lý trong những điều kiện lịch sử khác

Mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối mang tính chất biện chứng Mỗi chân lý tương đối đều chứa trong nó hạt nhân của chân lý tuyệt đối Cho nên, mỗi chân lý tuyệt đối là tổng số chân lý tương đối Mỗi chân lý tương đối là những nấc thang trên con đường nhận thức chân lý tuyệt đối Lênin viết: “Theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học đem lại thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối” Rằng,

“Chân lý tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những chân lý tương đối đang phát triển; chân lý tương đối là những phản ánh tương đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập với nhân loại;những phản ánh ấy ngày trở nên chính xác hơn; mỗi chân lý khoa học, dù là có tính tương đối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lý tuyệt đối”(Tr.158, 159)

Trang 30

Như vậy, theo quan điểm của Lênin, nhận thức của con người xét trong một thời điểm lịch sử nhất định, chỉ có thể thu nhận được những chân lý tương đối, nghĩa là con người chỉ có thể “mãi mãi tiến gần đến chân lý tuyệt đối” Bởi

vì, mỗi chân lý đều được hình thành trong một thời điểm nhất định với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong khi đó mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan lại luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Một luận điểm có thể đúng hôm nay, nhưng có thể không hoàn toàn đúng, thậm chí

có thể sai lầm ở ngày mai Hơn thế nữa, nhận thức được thực hiện bởi những khái niệm, quy luật, phạm trù mà theo Lênin, các phạm trù, quy luật chỉ bao quát một cách có điều kiện, một phạm vi nhỏ hẹp, gần đúng quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển

Lênin cũng chỉ ra rằng, chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông của những kẻ “làm trò ảo thuật”, “khéo khua môi, múa mép” Tính đúng đắn của chân lý phải được chứng minh trong thực tiễn, nghĩa là phải chứng

minh tính hiện thực, sức mạnh của tư duy con người Trong “Chủ nghĩa duy

vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin cũng đã bảo vệ và phát triển

quan điểm của Mác và Ăngghen về vai trò của hoạt động thực tiễn trong nhận thức chân lý Theo Lênin, nhà duy vật Phoiơbắc cũng đã lấy toàn bộ hoạt động thực tiễn của con người làm cơ sở cho lý luận về nhận thức Và ông nhất trí với quan điểm của Phoiơbắc cho rằng “sai lầm cơ bản của chủ nghĩa duy tâm chính

là ở chỗ chỉ đứng trên phương diện lý luận mà đặt và giải quyết vấn đề tính khách quan và tính chủ quan, tính hiện thực hay tính không hiện thực của thế giới”

Lênin cũng chỉ ra rằng “quan niệm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” (Tr 167) Với quan niệm

đó, Lênin đã phân tích một cách sâu sắc học thuyết Mác về vai trò quyết định của thực tiễn đối với nhận thức Tuy nhiên, khi nói về việc kiểm nghiệm chân

lý bằng thực tiễn, Lênin cũng nhấn mạnh rằng “tiêu chuẩn thực tiễn, xét về

Trang 31

thực chất, không bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa” Ở đây, Lênin muốn nói rằng việc kiểm nghiệm chân lý bằng hoạt động thực tiễn của con người nhiều khi không thể tiến hành một lần là xong; bởi hiện thực khách quan luôn biến đổi và phát triển, do đó mà việc kiểm tra chân lý bằng hoạt động thực tiễn cũng phải là một quá trình, có khi phải làm đi làm lại nhiều lần mới có thể khẳng định được tính đúng đắn của chân lý Những tư tưởng cơ bản của Lênin trong học thuyết về chân lý ngày càng được thực tiễn xã hội và nhận thức khoa học khẳng định Sức mạnh của tư tưởng đó là ở chỗ, chúng chỉ

ra cho chúng ta thấy con đường nhận thức chân lý, con đường tất yếu đưa khoa học tới những thành tựu ngày càng vĩ đại hơn

1.3.4 Vấn đề thực tiễn

Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức Mácxít mà của toàn bộ triết học Mác - Lê nin nói chung

Các nhà duy vật trước Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tính trực quan Mác đã chỉ rõ rằng, khuyết điểm chủ yếu từ trước đến nay của mọi chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc) là không thấy được vai trò của thực tiễn.(Tr 9)

Có một số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như hoạt động tinh thần, chứ không hiểu nó như hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người Chính vì vậy mà ngay từ những năm tháng đầu tiên bước vào hoạt động lý luận, Mác đã đề xuất quan điểm phải đưa tiêu chuẩn thực tiễn vào làm cơ sở cho lý luận nhận thức duy vật Mác viết: “Vấn đề tìm

Trang 32

hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới một chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần túy” đã đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong lý luận nhận thức, trở thành cơ sở khoa học để chống lại quan điểm bất khả tri dưới mọi hình thức

Lênin cho rằng, một khi nói đến thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức chân lý thì điều đó cũng có nghĩa khẳng định nhận thức của con người là một quá trình, quá trình đó không tách rời thực tiễn Rằng chính trong hoạt động thực tiễn, con người nhận thức hiện thực khách quan, không có thực tiễn thì cũng không có quá trình nhận thức Giới tự nhiên là đối tượng, là khách thể của nhận thức Giới tự nhiên có trước, là cái quyết định nhận thức và như vậy nội dung của nhận thức không thể là cái gì khác hơn là hình ảnh của giới tự nhiên được ghi lại trong đầu óc của con người Sự nhận thức của loài người ngày càng phát triển phong phú và đi sâu vào thế giới khách quan, nó phụ thuộc vào quá trình và trình độ con người tác động vào thế giới khách quan, phụ thuộc vào năng lực hoạt động thực tiễn của con người Nghĩa là, nhận thức của con người không bao giờ tách rời thực tiễn, nhận thức của con người chỉ có ý nghĩa khi nó được ứng dụng vào thực tiễn nhằm thúc đẩy thực tiễn Bởi vậy, thực tiễn được coi là mục đích của nhận thức Trong mối quan hệ giữa thực tiễn và nhận thức, thực tiễn càng phát triển càng thúc đẩy nhận thức của con người tiến lên

và thực tiễn cũng như hoạt động thực tiễn của con người chính là động lực nhận thức của con người

Thực tiễn có vai trò vô cùng quan trọng đối với nhận thức, nó được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức Bàn về vấn đề này Ăngghen đã khẳng định rằng: “

Trang 33

chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người và trí tuệ của con người phát triển song song với việc người ta

đã học cải biến giới tự nhiên” (Tr.720) Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Bởi vì chính trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức của con người được hình thành và phát triển Bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để con người nhận thức chúng Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, rồi sau đó tiến hành các hoạt động như phân tích, so sánh, tổng hợp để phản ánh bản chất, quy luật vận động của các hiện tượng trong thế giới Từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với người này hay người kia, thế hệ này hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn

Trong quá trình hoạt động thực tiễn biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới Vì vậy mà thực tiễn còn đề ra nhu cầu nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có những tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học Khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người

Thực tiễn còn là mục đích của nhận thức nghĩa là nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn Kết quả của nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn Bởi

vì lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn

Trang 34

Lênin cũng đã phê phán những quan điểm duy tâm chủ quan của chủ nghĩa thực dụng về tiêu chuẩn của chân lý và chỉ rõ, tiểu chuẩn khách quan của chân lý là thực tiễn “Thuyết tượng trưng” chỉ là một hình thức biến dạng của thuyết bất khả tri, thuyết này coi cảm giác và biểu tượng của con người không phải sự phản ánh các sự vật khách quan mà chỉ là những ký hiệu, là những tượng trưng, hình tượng mà thôi Lênin cũng chỉ rõ, nếu xem cảm giác không phải là hình ảnh của sự vật mà chỉ là ký hiệu, là tượng trưng không có gì giống với sự vật thì có nghĩa là nghi ngờ sự tồn tại của sự vật, bởi vì cái tượng trưng chỉ là cái có thể biểu thị những đối tượng hư cấu

Lênin cũng phê phán Plêkhanốp đã từ bỏ lý luận phản ánh và rơi vào bất khả tri khi khẳng định rằng cảm giác chỉ là những tượng hình và những tượng hình này không giống những sự kiện thực mà chúng thông tin cho chúng ta Theo Lênin, hai khái niệm “hình ảnh” và “tượng trưng” là khác nhau, hình ảnh không hoàn toàn với phù hợp với sự vật, nhưng hình ảnh là hiện thực khách quan của sự vật mà nó phản ánh, còn tượng trưng thì không thể như vậy

Những người theo phái Makhơ cho rằng tất cả nhận thức nào “có lợi” cho chủ thể, mang lại “thành công” cho hoạt động của chủ thể, phù hợp với

“nguyên tắc tiết kiệm tư duy” đều là chân lý “Nhận thức là một cảm xúc tâm

lý, có lợi về mặt sinh vật học”, “Chỉ có thành công mới phân biệt được nhận thức với sai lầm” Phê phán quan điểm duy tâm đó, Lênin đã khẳng định vai trò của thực tiễn với tư cách là tiêu chuẩn của chân lý Về lời nói, tuy Makhơ không phủ nhận thực tiễn nhưng ông lại tách rời thực tiễn khỏi lý luận nhận thức; xem thực tiễn là một việc, lý luận nhận thức là việc khác Người ta có thể đặt hai cái bên cạnh nhau mà không làm cho cái trước chế ước cái sau

Chỉ ra sự đối lập căn bản giữa quan điểm Mácxít với quan điểm của Makhơ về vấn đề này, Lênin xem thực tiễn là một nhân tố nội tại trong lý luận nhận thức Mácxít: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”

Trang 35

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức còn thể hiện ở chỗ thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà

là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý ”

Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng; tiêu chuẩn này vừa có tính tương đối vừa có tính tuyệt đối Lênin khẳng định rằng thực tiễn là một quá trình, trong mỗi một giai đoạn cụ thể, sự vận động của sự vật, hiện tượng khách quan dưới tác động của hoạt động thực tiễn của con người, bộc lộ các mặt, các thuộc tính nhất định, trên cơ sở đó con người nhận thức và khái quát hóa thành chân lý Bởi vậy, theo ông trong mỗi giai đoạn phát triển của hiện thực khách quan, tri thức của con người luôn phụ thuộc vào trình độ của hiện thực khách quan ở giai đoạn lịch sử cụ thể đó và tính cụ thể của chân lý cần được hiểu theo nghĩa đó Bằng một hành động thực tiễn nào đó, con người có thể chứng minh một cái gì đó trong nhận thức của mình, song chỉ có trong quá trình luôn vận động, phát triển không ngừng của thực tiễn, con người mới có thể khẳng định được toàn bộ nội dung của nó Về điều này Lênin đã chỉ rõ “Dĩ nhiên không nên quên rằng tiêu chuẩn thực tiễn, xét về thực chất, không bao giờ xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa Tiêu chuẩn đó cũng khá “không xác định” để không cho phép các hiểu biết của con người trở thành một cái “tuyệt đối”, đồng thời nó cũng khá xác định để có thể tiến hành đấu tranh quyết liệt chống tất cả các thứ chủ nghĩa duy tâm và bất khả tri”.( Tr.167, 168)

Lênin không chỉ nhắc lại quan điểm của Mác và Ăngghen, cũng không chỉ đứng trên quan điểm của Mác và Ăngghen để phê phán quan điểm của các trào lưu triết học khác tách rời thực tiễn với lý luận nhận thức, tiêu biểu là của Makhơ mà quan trọng hơn là Lênin đã đi xa hơn Mác và Ăngghen khi lần đầu

Trang 36

tiên trong tài liệu triết học Mácxít đã bổ sung thêm vào quan điểm của Mác và Ăngghen một luận điểm đặc biệt quan trọng: Luận điểm về tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý

Luận điểm của Lênin về tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý không phải được đề xuất một cách ngẫu nhiên,

mà xuất phát từ một cách nhìn biện chứng về sự vật Chính vì cùng xuất phát từ một cách nhìn biện chứng về sự vật như thế nên ta có thể thấy mầm mống của

tư tưởng này đã có ở Ăngghen khi ông viết: “Nếu chúng ta đạt được mục đích của chúng ta, nếu chúng ta nhận thấy rằng vật ấy phù hợp với quan niệm của chúng ta về nó, rằng nó đem lại cái kết quả mà chúng ta mong muốn khi sử dụng nó, thì đó là bằng chứng xác thực chỉ ra rằng trong phạm vi đó, cảm giác của chúng ta về vật ấy và về thuộc tính của nó là ăn khớp với hiện thực ở bên ngoài chúng ta” (C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 20) Đúng chỉ là “trong phạm vi đó” thôi “Trong phạm vi đó” tiêu chuẩn thực tiễn hoàn toàn xác định

để kiểm tra tính chân lý của tri thức chúng ta về sự vật Còn “ngoài phạm vi đó” thì tiêu chuẩn thực tiễn không đủ để xác định nữa và trở thành tương đối Như vậy, cả Ăngghen và Lênin đều có cái nhìn trùng hợp về tính tuyệt đối, vừa tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý

Ngoài tính tương đối được hiểu theo nghĩa thực tiễn là một quá trình thì tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn được Lênin hiểu theo nghĩa là hoạt động thực tiễn trong một phạm vi nhất định sẽ hình thành nên một loại tri thức nhất định Ở đây, việc hình thành chân lý là tùy theo phạm vi của thực tiễn.Thực tiễn của một phạm vi, một lĩnh vực nào đó chỉ là tiêu chuẩn khách quan cho chân lý ở lĩnh vực, phạm vi đó Không thể dùng thực tiễn ở phạm vi này để chứng minh cho chân lý ở phạm vi khác Giới hạn của hoạt động thực tiễn trong một phạm vi cũng chính là tiêu chuẩn khách quan tuyệt đối cho chân

lý của phạm vi đó Xét theo một khía cạnh nào đó, thì mỗi một chân lý thuộc

về một phạm vi nào đó của thực tiễn, nó phản ánh một mặt, một khía cạnh nào

Ngày đăng: 06/06/2022, 18:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w