1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và xã hội từ 17 – 31122018)

93 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Truyền Thông Về Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trên Báo Mạng Điện Tử Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Hà Thị Hiền
Người hướng dẫn PGS,TS. Nguyễn Thị Trường Giang
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Báo chí
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong năm qua báo chí đã phát hiện, đăng tải thông tin về nhiều vụ bạo lực gia đình, tư vấn các cách để phòng chống bạo lực, đăng tải ca ngợi những gương điển hình trong việc bảo vệ bình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài khóa luận “Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (Khảo sát 3

tờ báo điện tử: Phụ nữ Việt Nam, VietNamNet, Gia đình và Xã hội từ 1/7 – 31/12/2018) là khóa luận do chính em thực hiện dưới sự hướng dẫn của

PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang Các số liệu, kết quả nêu trong khóa

luận là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

về khóa luận của mình

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Hà Thị Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua khóa luận này, Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt 4 năm học vừa qua Nơi đây là môi trường thực sự thân thiện và năng động, đã bồi đắp thêm biết bao kỹ năng, bài học bổ ích và thiết thực để biến ước trở thành phóng viên của em dần thành hiện thực

Và đặc biệt, Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, Trưởng khoa Phát thanh - Truyền hình, người đã trực tiếp gợi

ý đề tài, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Và cảm ơn gia đình, bạn bè thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ tạo động lực cho con/em/mình trong suốt quá trình học tập

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Hà Thị Hiền

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Giao diện báo điện tử Phụ nữ Việt Nam 25 Hình 2.2 Giao diện báo điện tử VietNamNet 27 Hình 2.3 Giao diện báo điện tử Gia đình và Xã hội 30 Hình 2.4 Những hình ảnh được cho là định kiến giới trong SGK hiện hành 54 Hình 2.5 “Triển lãm sử dụng phương pháp trưng bày sắp đặt, tạo ra 5 modul

gợi mở về những không gian khác nhau trong mỗi gia đình để khách tham quan tự cảm nhận bằng cảm giác cũng như kinh nghiệm của mình trong cuộc sống với các chủ đề: Lời ru buồn, Mặt nạ của hạnh phúc, Gánh nặng không cùng san sẻ, Những trái tim lạc lối, Bỏ thì thương vương thì tội.” (chú thích bức ảnh tác giả đặt trong bài viết) 55

Hình 2.6 Bài viết phỏng phấn chân dung một nữ Tiến sĩ lên tiếng về bình đẳng

giới“Phương Mai: Phụ nữ là niềm cảm hứng cho cuộc sống đổi thay” được thiết kế dưới dạng emagazine đăng trên báo VietNamNet ngày 20/10/2018 57

Trang 6

Biểu đồ 2.1 Số lượng bài viết theo tháng và tần xuất bài viết theo ngày trên

báo phụ nữ Việt Nam từ 1/7 – 31/12/2018 31

Biểu đồ 2.2 Phần trăm bài viết phân chia theo nội dung vấn đề bình đẳng giới

trên báo điện tử Gia đình và xã hội từ 1/7 – 31/12/2018 32

Biểu đồ 2.3 So sánh phần trăm bài viết có nội dung Chủ trương, chính sách

của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới trên 3 báo khảo sát từ 31/12/2018 34

1/7-Biểu đồ 2.4 Thể hiện phần trăm bài viết có nội dung về các sự kiện, chiến

dịch bình đẳng giới trên báo PNVN từ 1/7 - 31/12/2017 38

Biểu đồ 2.5 So sánh phần trăm bài viết có nội dung về thực trạng bình đẳng

giới với các bài viết có nội dung khác trên cả 3 báo điện tử khảo sát từ 1/7 - 31/12/2018 40

Biểu đồ2.6 So sánh phần trăm bài viết có nội dụng giải pháp về bình đẳng

giới trên cả 3 báo điện tử khảo sát từ 1/7 - 31/12/2018 44

Hình 2.4 2 tiểu mục riêng đăng tải bài viết về vấn đề giới, bình đẳng giới

trên báo Phụ nữ Việt Nam 49

Biểu đồ 2.7 So sánh phần trăm số bài viết theo thể loại tin, với phản ánh

phỏng vấn trên 3 báo điện tử khảo sát từ 1/7-31/12/2018 51

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRUYỀN THÔNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 8

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 8

1.2 Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới 13

1.3 Vai trò của báo mạng điện tử trong việc truyền thông về bình đẳng giới 16

1.4 Thực trạng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay 18

1.5 Ưu điểm và hạn chế của việc truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử 21

Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 25

báo Gia đình và Xã hội) 25

2.1 Giới thiệu về 3 tờ báo khảo sát 25

2.2 Khảo sát thông tin về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử 30

2.3 Thành công, hạn chế và nguyên nhân của truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử 56

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ DẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG VỀ BÌNH ĐẰNG GIỚI TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 62

3.1 Những vấn đề đặt ra 62

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử trong thời gian tới 64

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 75 TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC CÁC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bình đẳng giới : BĐG Bất bình đẳng giới : BBĐG Báo mạng điện tử : BMĐT Báo Phụ nữ Việt Nam : Báo PNVN Báo Gia đình và Xã hội : Báo GĐ&XH Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam : Hội LHPNVN

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một trong những Quốc gia đầu tiên trên Thế giới ký công ước quốc tế về thực hiện quyền phụ nữ Việc đưa những tư tưởng về bình đẳng giới ở một Quốc gia vốn chịu ảnh hưởng nặng nề tư tưởng của Nho giáo, các quan điểm phong kiến trọng nam khinh nữ là một bước tiến lớn và là động lực để thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam

Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, thực trạng nam giới giữ chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước vẫn chiếm tỉ lệ lớn hơn phụ nữ, vẫn xảy ra những vụ bạo hành phụ nữ, đặc biệt phụ nữ ở nông thôn

Vì vậy, vấn đề bình đẳng giới cũng là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm và để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cần rất nhiều tổ chức, cơ quan chung tay vào cuộc: giáo dục cho người dân, tuyên truyền…Trong đó việc thông tin về vấn đề này trên báo chí để giúp người dân hiểu, thay đổi hành vi đóng vai trò rất lớn Đặc biệt, với sự phát triển của mạng xã hội, Internet, việc truyền thông trên các trang báo mạng điện tử giúp người dân cập nhật kịp thời

Trong năm qua báo chí đã phát hiện, đăng tải thông tin về nhiều vụ bạo lực gia đình, tư vấn các cách để phòng chống bạo lực, đăng tải ca ngợi những gương điển hình trong việc bảo vệ bình đẳng giới, lên án những hành vi gây bạo lực gia đình.Tuy nhiên trong số những bài viết truyền thông trên BMĐT vẫn còn những hạn chế như đề cập đến một số vấn dề nhạy cảm, có sự phân biệt về giới rõ ràng ngay trên các bài viết, sự lặp đi lặp lại những vẫn đề đó trên các tác phẩm báo chí vô tình làm cho nhận thức của công chúng về bình đẳng giới trở nên lệch lạc, nó có thể cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giới trong xã hội

Để đánh giá được thực trạng, hiệu quả của truyền thông về bình đẳng giới trên BMĐT Việt Nam trong 6 tháng qua, đồng thời vạch ra những hạn

Trang 10

chế còn tồn tại trong truyền thông về bình đẳng giới trên BMĐT hiện nay, từ

đó đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng về nội dung cũng như hình thức trongtruyền thông bình đẳng giới trên các trang BMĐT để góp phần đẩy lùi bất bình đẳng giới ra ngoài cuộc sống Những lý do trên đã khiến tôi đã

chọn đề tài “Truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” và khảo sát trên 3 tờ báo mạng điện từ: báo Phụ nữ Việt Nam,

báo VietNamNet và báo Gia đình và Xã hội từ 1/7 – 31/12/2018

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước

Một số nghiên cứu nước ngoài về bình đẳng giới:

 Cuốn “World Development Report 2012: Genner Equality anh

Development” (Tạm dịch: “Báo cáo phát triển thế giới 2012 : Bình đẳng giới

và phát triển”), của Ngân hàng Thế giới, xuất bản ngày 1 tháng 9 năm 2011,

gồm 456 trang

Báo cáo Phát triển Thế giới 2012: Bình đẳng và Phát triển Giới đặt ra

4 ưu tiên: Giảm tỷ lệ tử vong nữ quá mức và thu hẹp khoảng cách giáo dục; Cải thiện khả năng tiếp cận cơ hội kinh tế cho phụ nữ; Tăng tiếng nói và cơ quan của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội; Hạn chế tái tạo bất bình đẳng giới qua các thế hệ

 Cuốn “Gender-Sensitive Indicators for Media: Framework of

indicators to gauge gender sensitivity in media operations and content”(Tạm

dịch: “Các chỉ số nhạy cảm về giới đối với truyền thông: khung các chỉ số để đánh giá độ nhạy cảm giới trong các hoạt động và nội dung truyền thông”),

của UNESCO, xuất bản năm 2012, gồm 185 trang

Mục đích đề ra các chỉ số nhạy cảm về giới đối với truyền thông (GSIM) là đóng góp cho bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ thông qua các phương tiện truyền thông dưới mọi hình thức Trọng tâm chính của cuốn sách là sự bình đẳng giới trên các phương tiện truyền thông Nghiên cứu cũng

đã bao quát các lĩnh vực, cụ thể hóa bằng các tiêu chí nội dung bình đẳng giới

Trang 11

tại cấp ra quyết định cũng như trong tác nghiệp và nội dung truyền thông từ việc sản xuất tin tức, thời sự đến lĩnh vực quảng cáo tại các tổ chức, hiệp hội, câu lạc bộ báo chí truyền thông

 Hội thảo“Understanding and Fighting Gender Inequality”(Tạm dịch: Hội thạo “Nhận biết và hành động về bình đẳng giới”) được chủ trì bởi

GS Nicholas Cheeseman và TS Jill Steans (Đại học Birmingham, Anh), diễn

ra từ 17-18/5/2018

Hội thảo tập trung vào các vấn đề: Bạo lực trên cơ sở giới; Rào cản giới tính trong công việc (khoảng cách tiền lương, nghỉ thai sản và bao gồm nơi làm việc) Qua nghiên cứu, tôi thấy các cuốn tài liệu, hội thảo…liên quan về giới, bình đẳng giới của nước ngoài đã giúp các phóng viên, các cơ quan báo chí có thêm những kinh nghiệm trong thu thập thông tin, truyền thông về vấn đề bình đẳng giới góp phần hạn chế về bất bình đẳng, phân biệt giới trong xã hội

2.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước

Một số nghiên cứu trong nước về bình đẳng giới:

 Cuốn “Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền

thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ” của PGS.TS Hoàng Bá

Thịnh (chủ biên), năm 2005, Nxb Thế giới, Hà Nội Tác giả đã đưa ra những quan điểm sâu sắc và toàn diện về vấn đề bạo lực giới trong gia đình Việt Nam Đồng thời tác giả đề cập đến vai trò quan trọng của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ, để giúp những người phụ nữ có thêm cơ hội trong công việc và cuộc sống

 Luận văn Thạc sĩ:“Tuyên truyền về bình đẳng giới trong chuyên mục

Phụ nữ với cuộc sống trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam” của Thạc sĩ

Uý Thị Thu Hiền, (Năm 2006, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Luận văn

đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ, vai trò, thế mạnh của truyền hình trong việc tuyên truyền về bình đẳng giới

 Cuốn “Truyền thông có nhạy cảm giới” của Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng Khoa học về giới – gia đình – phụ nữ - vị thành niên (CSAGA), xuất

Trang 12

bản 6/2011, được biên soạn dựa trên 21 bản tin về giới của Trung tâm, cuốn sách bao gồm 9 chuyên đề, đề cập đến những khía cạnh cơ bản nhất về kiến thứ và kỹ năng truyền thông có liên quan đến nhạy cảm giới và bình đẳng giới

 Luận án Tiến sĩ Xã hội học: “Hiệu quả của các bài viết về bạo lực

gia đình trên báo điện tử Việt Nam hiện nay” của TS Phạm Hương Trà (Năm

2011, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đề cập đến vấn đề bạo lực gia đình được phản ánh như thế nào trên báo điện tử, nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng về bạo lực gia đình thông qua các bài viết trên báo mạng điện tử

 Bộ chỉ số về giới trong truyền thông, do Bộ Thông tin và Truyền thông xuất bản năm 2014 Tài liệu này được biên soạn dựa trên cơ sở tôn trọng những nội dung cơ bản của Bộ chỉ số về giới trong truyền thông mà UNESCO đã ban hành vào năm 2012 Tài liệu này đã thể hiện mối quan tâm

và ưu tiên hàng đầu của UNESCO trong lĩnh vực bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ nói chung và phụ nữ hoạt động trong lĩnh vực truyền thông nói riêng Trong Bộ chỉ số này cũng đưa ra những công cụ kiểm chứng tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức giám sát trong quá trình triển khai thực hiện

 Hội thảo công bố Báo cáo nghiên cứu “Hướng tới Bình đẳng giới ở

Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ” do Cơ quan Liên hợp

quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã Hội Việt Nam thực hiện (diễn ra ngày 3/6/2016, tại Hà Nội) Đây là báo cáo toàn diện đầu tiên phân tích nền kinh tế thông qua lăng kính giới, nghiên cứu này đánh giá

mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam Nghiên cứu chỉ ra nguy

cơ gia tăng bất bình đẳng giới nếu Việt Nam không tăng cường cung cấp các

cơ hội công việc tốt hơn cho phụ nữ và hỗ trợ giảm thiểu vai trò của phụ nữ trong các công việc chăm sóc gia đình không được trả lương

Qua tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu trong nước, tôi nhận thấy sự quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới ở nước ta chưa xứng đáng với tầm quan trọng của nó, đặc biệt là trước năm 2010 Do đó, đề tài tôi chọn để nghiên cứu

Trang 13

rất cần thiết, những tài liệu đã thu thập được trong và ngoài nước sẽ là nguồn tham khảo, là kiến thức nền cho đề tài khóa luận của tôi

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, khóa luận sẽ khảo sát 3 tờ BMĐT trong 6 tháng Qua đó đánh giá thực trạng cũng như hiệu quả của việc truyền thông về BĐG trên báo mạng điện tử Từ đó khóa luận sẽ đề xuất một số giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin về bình đẳng giới được phản ánh trên BMĐT trong thời gian tới, góp phẩn ngăn chặn và đẩy lùi bất bình đẳng giới ra ngoài cuộc sống

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải quyết mục đích trên, tác giả của khóa luận phải thực hiện những nhiệm vụ chính sau:

 Khái quát hóa hệ thống lý luận những vấn đề liên quan đến đề tài nhằm xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu: khái niệm về giới, bình đẳng giới, bất bình đẳng giới, truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử,…

 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay thông qua 3 tờ báo BMĐT: báo Phụ nữ Việt Nam, báo VietNamNet, báo Gia đình và Xã hội Việc khảo sát, đánh giá thực trạng sẽ giúp tác giả chỉ ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu

 Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề truyền thông về bình đẳng giới

trên Báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát 3 tờ BMĐT: báo Phụ nữ Việt Nam, báo Gia đình và Xã hội, báo VietNamNet từ1/7 – 31/12/2018 Đây là 3 tờ báo mạng điện tử uy tín, có lượng công chúng tìm đọc nhiều, đặc biệt trên 3 tờ báo này có một số chuyên mục thường xuyên đăng tải các vấn đề liên quan về giới, bình đẳng giới của Việt Nam:

mục “Giới 24/7”, “An toàn cho Phụ nữ và trẻ em” trên báo Phụ nữ Việt Nam; Mục “Đời sống” trên báo VietNamNet; Mục “Gia đình” trên báo báo GĐ&XH

Trong 6 tháng từ 1/7 – 31/12/2018, đây là thời điểm trong nước diễn

ra những ngày lễ lớn kỷ niệm, tôn vinh phụ nữ: ngày 20/10, đặc biệt là tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới được tổ chức từ ngày 15/11 - 15/12/2018 trên phạm vi toàn quốc, vì vậy trong giai đoạn này sẽ có nhiều hoạt động được diễn ra, đây cũng là lý do tác giả chọn thời gian 6 tháng cuối năm 2018 để khảo sát

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Khóa luận được thực hiện dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác Lê Nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước về báo chí Cách mạng, hệ thống lý thuyết về báo chí truyền thông

5.2 Phương pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các cuốn sách, văn bản, nghị quyết, hội thảo, luận văn, luận án của ngành có liên quan đến bình đẳng giới để hệ thống hóa những vấn đề lý luận, từ đó rút ra những luận điểm, luận chứng phù hợp với đề tài nghiên cứu

Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích các sản phẩm báo chí

trên 3 tờ báo trong thời gian khảo sát 6 tháng để tìm hiểu về nội dung, hình thức, cách thức đưa tin, số lượng tin bài để nhận diện thực trạng về vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam

Phương pháp phỏng vấn sâu: dùng để phỏng chuyên gia trong lĩnh

vực giới, phóng viên, nhà báo viết về vấn đề giới, bình đẳng giới, gia đình

Trang 15

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận: Khóa luận là tài liệu tham khảo về mặt lý luận

báo chí truyền thông và là tài liệu nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến bất bình đẳng giới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả của khóa luận này sẽ là tài liệu

tham khảo bổ ích giúp cho các phóng viên, các cơ quan báo chí hiểu rõ hơn về vấn đề này để có những định hướng trong việc truyền thông liên quan đến bình đẳng giới đạt hiệu quả

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về bình đằng giới trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRUYỀN THÔNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Giới

Trên thực tế có rất nhiều quan điểm, khái niệm về giới Một nữ giáo sư

xã hội học định nghĩa như sau: “Giới liên qua đến sự học hỏi hành vi xã hội

và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính Trong khi “con trai” hay

“con gái” là những yếu tố sinh học thì việc trở thành mọt phụ nữ hay một nam giới là một quá trình văn hóa”1

Luật bình đẳng giới định nghĩa: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” (2007:6)

Trong khóa luận này, tác giả kế thừa khái niệm về giới trong cuốn

“Giáo trình Xã hội học về giới” của PGS.TS Hoàng Bá Thịnh (2014), Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội: “Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ

mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới Những quy định/mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn theo các giai đoạn lịch sử

và có khác biệt giữa các cộng đồng và xã hội.”

1.1.2 Bình đẳng giới

Khái niệm

Bình đẳng giới được nói nhiều trong những năm gần đây, tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau cũng như nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm của khái niệm này Trong khóa luận này, tác giả sử dụng khái niệm bình đẳng giới trong Điều 5, Luật bình đẳng giới: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ

có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực

Trang 17

của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và hưởng thụ như nhau về thành quả của sự phát triển đó”

Nội dung của bình đẳng giới

Những nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm hướng đến bình dẳng giới

thể hiện rõ trong “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (CEDAW) Công ước được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc phê

chuẩn ngày 18/12/1979, nước thứ 20 thông qua ngày 3/9/1981 Từ năm 1981 đến nay, công ước có hiệu lực như một hiệp ước quốc tế Cho đến nay đã có trên 150 quốc gia cam kết thực hiện điều khoản của công ước Chính phủ Việt Nam ký công ước ngày 29/7/1980, phê chuẩn ngày 19/3/1982

Bình đẳng giới được đề cập một cách toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tùy vào điều kiện kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia mà trong lĩnh vực cụ thể của bình đẳng nam nữ có thể được nhấn mạnh hơn

Tuy nhiên bình đẳng thật sự và đầy đủ giữa 2 giới không loại trừ hay xem nhẹ bất cứ một lĩnh vực nào Ý nghĩa của nó không chỉ là tạo điều kiện cho phụ nữ hội nhập đầy đủ vào xã hội vì lợi ích của nó không chỉ tạo điều kiện cho phụ nữ mà thông qua đó còn nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển hài hòa của gia đình và xã hội, vì lợi ích và tiến bộ của xã hội trong đó có nam và nữ

Căn cứ vào ý nghĩa và ảnh hưởng của các lĩnh vực đối với việc đảm bảo quyền cho phụ nữ, bình đẳng giới được đề cập tới ở một số nội dung: Bình đẳng chính trị, bình đẳng kinh tế, việc làm, bình đẳng giáo dục, bình đẳng y tế, bình đẳng hôn nhân và gia đình

Bình đẳng giới được thể hiện rất phong phú và đa dạng trong mọi ngõ ngách của cuộc sống Nếu chỉ bằng cách đối xử như nhau giữa nam và nữ mà không tính đến xuất phát điểm khác nhau và điều kiện khác nhau giữa nam và

nữ thì khó có thể đạt tới bình đẳng giới

Bình đẳng giới thực tế là kết quả của việc áp dụng các nguyên tắc bình đẳng đã được nêu trên văn bản cũng như duy trì một số tập quán tôn trọng

Trang 18

phụ nữ đã có trong xã hội Bình đẳng giới trong thực tế là những lợi ích thiết thực mà phụ nữ gặt hái được trên cơ sở bình quyền với nam giới

F Tonnies khi trình bày về bất bình đẳng xã hội cũng đã đề cập dến bất bình dẳng về giới, ông mô tả các bất bình đẳng xã hội, ví dụ giữa nam giới và phụ nữ, giữa tư sản với công nhân Phụ nữ và công nhân trở nên khốn khổ trong quá trình văn minh thời hiện đại và điều đó dẫn đến những hậu quả xã hội tương ứng

Trong trường hợp bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ Tonnies trước hết đã mô tả lại vai trò, nhiệm vụ và địa vị của phụ nữ trong cộng đồng một cách lý tưởng và sau đó gọi đó là kiểu phụ nữ điển hình, nặng về tình cảm, rụt rè, có nhiều năng khiếu mỹ thuật …Cùng với quá trình công nghiệp hóa thì hình thức cuộc sống cộng đồng đó cũng bị tan rã và điều đó cũng khiến cho phụ nữ phải chịu những cảnh “khủng khiếp”

1.1.4 Truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng diện tử

Truyền thông

Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Lating “Commune” có nghĩa là chung hay cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá

nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội

Truyền thông từ tiếng anh: Communication có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc,…

Theo cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” của PGS.TS Nguyễn Văn Dững

“Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi thông tin, tưởng, tình cảm…,

Trang 19

chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững”

Báo mạng điện tử

Trên thế giới và Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau như: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Omline Newspapaer), báo mạng điện tử (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử…Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta Ngay trong các văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tử”

Báo mạng điện tử là loại hình báo chí – truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng internet toàn cầu Là kênh truyền thông đặc thù ra đời sau, báo mạng điện tử đã hội tụ được nhiều ưu điểm nôi trội của kênh truyền thông trước đó, đồng thời cũng bộc lộ những bất cập Báo mạng điện tử có nhiều tên gọi khác nhau.2

Báo trực tuyến, báo online là cách tiếp cận dựa vào đặc trưng nổi trội của loại hình truyền thông này dùng làm tên gọi.3

Báo điện tử là cách gọi thiếu chuẩn xác Bởi vì báo chí phát thanh, truyền hình cũng là báo điện tử Do đó thuật ngữ báo điện tử có thể dùng để chỉ chung cho các loại hình báo gồm báo điện tử quáng bá trên mạng Internet, phát thanh, truyền hình.4

Năm 2003, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có cuộc thảo luận nghiên cứu giữa các cán bộ giảng dạy ngành truyền thông đại chúng và thống nhất tên gọi là báo mạng điện tử, tức là báo điện tử tồn tại, phát triển và quảng

Trang 20

khóa X thông qua ngày 16/9/1999 cũng đề cập đến thuật ngữ “báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” để chỉ loại hình báo chí này

Tuy nhiên, khái niệm báo điện tử có ý nghĩa rất chung chung, không giúp hiểu rõ đặc điểm các loại hình báo chí phát hành trên mạng: tờ báo được sản xuất trong vòng khép kín trên mạng LAN của tòa soạn hay tờ báo được

“chạy” trên môi trường mạng toàn cầu Internet Đồng thời, đã có thời gian chúng ta sử dụng cách gọi này để chỉ phát thanh và truyền hình nên nếu dùng lại rất dễ gây nhầm lẫn

Trong khuôn khổ khóa luận này, tác giả sử dụng khái niệm báo mạng

điện tử trong cuốn sách “Báo mạng điện tử: Đặc trưng và phương pháp sáng tạo” của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang và TS Nguyễn Trí Nhiệm: “Báo

mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao”

Truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử

Báo mạng điện tử ra đời cũng như các loại hình báo chí khác đều có xứ mệnh, vai trò tuyên truyền, cung cấp thông tin đến công chúng về tất cả các lĩnh vực, vấn đề của đời sống xã hội Và vấn đề bình đẳng giới cũng không ngoại lệ, đây là vấn đề được nhắc đến trong nhiều năm gần đây, Đảng và Nhà nước đang trú trọng xóa bỏ dần bất bình đẳng giới trong cộng động, tiến đến một xã hội bình đẳng

Việc truyền thông về bình đẳng giới có nhiều hình thức khác nhau: thơ,

ca hò, vè, trong các quảng cáo, sách, báo…trong khóa luận này, nghiên cứu truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử nên tác giả xin tập trung vào các tác phẩm báo chí được đăng tải trên báo mạng điện tử

Từ những lập luận và những khái niệm đã được đưa ra ở trên về giới,

bình đẳng giới, truyền thông, báo mạng điện tử Tác giả xin đưa ra khái niệm truyền thông về BĐG trên BMĐT: là việc đăng tải những chủ trương, chính

Trang 21

sách, luật, những vụ việc, những thông tin liên quan đến giới, bạo lực trên cơ

sở giới, định kiến giới, bình đẳng giới trên các trang báo mạng điện tử đã được cấp phép Nhằm cung cấp thông tin cho công chúng, định hướng dư luận xã hội Với những thế mạnh nổi chội hơn 3 lọai hình báo chí còn lại về tốc độ đăng tải nhanh, tính tương tác với công chúng cao, tính tức thời và phi định kỳ, báo mạng điện tử đã và đang trở thành kênh truyền thông hàng đầu trong các vấn đề về giới, bình đẳng giới để giúp cộng đồng lên tiếng, ngăn chặn thực trạng bất bình đẳng giới đang diễn ra phổ biến ở nước ta

1.2 Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về vấn

đề bình đẳng giới

Ngay từ khi mới thành lập, trong Luận cương Chính trị của Đảng đã quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ Quan điểm bình đẳng nam nữ được thực hiện xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng của dân tộc Bản

Hiến pháp đầu tiên (1946) với tuyên ngôn “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện” đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về chính sách, luật

pháp của Đảng về bình đẳng nam nữ và chống phân biệt với phụ nữ

Nghị quyết của Bộ Chính trị số 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ cần đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ công dân cũng như xây dựng và hoàn thiện luật pháp về dân số gia đình, trẻ em

Cho đến nay đã có rất nhiều văn bản pháp luật của nhà nước Việt Nam cũng như của các cơ quan truyền thông về các vấn đề liên quan đến giới, bình đẳng giới Nói cách khác, pháp luật Việt Nam đã xây dựng một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, thân thể, danh

dự, uy tín, nhân phẩm của công dân…Qua đây cho thấy, Đảng và Nhà nước ta

đã đã nhận thức được thực trạng của vấn đề bình đẳng giới đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt quan tâm trong việc đấu tranh cho bình đẳng giới trong đó phải kể đến đến Luật Bình đẳng giới ra đời từ năm 2006 nhằm củng

Trang 22

cố thêm những văn bản pháp lý quan trọng trước đó, thể hiện sự cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc đạt được bình đẳng giới

Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 đã quy

định sự bình đẳng giới trong 8 lĩnh vực cơ bản trong đời sống xã hội: Chính trị, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, sức khỏe sinh sản, văn hóa khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và y tế

Từ đó đến nay Việt Nam luôn nỗ lực tiếp tục trên con đường nhằm xóa dần sự bất bình đẳng giới, tình trạng bạo lực gia đình Điều này tiếp tục được khẳng định trong các chiến lược và chương trình quốc gia khác nhau như:

Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2010, chương trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2010 – 2020

Trong các văn bản pháp luật gồm: Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 1/7/2007; Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 của Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng chống BLGĐ số 2/2007/QH12, được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày

21/11/2007 đã đề cập đến vai trò của báo chí đối với việc tăng cường nhận

thức của cộng đồng về Bạo lực gia đình

Trong Luật Bình đẳng giới: Thông tin, giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới và bình đẳng giới được thực hiện thông qua các chương trình học tập, các ấn phẩm, các chương trình phát thanh, truyền hình qua các hình thức khác

Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo

TW, Uỷ ban Dân tộc TW chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tấn báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng và hệ thống thiết chế văn hóa thông tin

cơ sở tập trung tuyên truyền về Luật Bình đẳng giới, tuyên truyền, vận động người dân phát huy các phong tục tập quan tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới

Trang 23

Một quy định đáng chú ý trong Luật Bình đẳng giới đó là Khoản 6 Điều 40 quy định về các hành vi vi phạm luật về Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục, thể thao bao gồm:

Một là: Cản trở nam, nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn và tham gia các hoạt động văn hóa khác vì định kiến giới

Hai là: Sáng tác lưu hành, cho phép xuất bản các tác phẩm dưới bất

kỳ thể loại và hình thức nào để cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới

Bà là: Truyền bá tư tưởng, tự mình thực hiện hoặc xúi giục người khác thực hiện phong tục tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức

Như vậy, để gắn kết vai trò, trách nhiệm của báo chí với sự nghiệp thúc đẩy bình đẳng giới, chúng ta có thể viện dẫn đến nhiệm vụ chung của báo chí như: tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, phát hiện, nêu gương tốt, việc tốt, nhân tố mới, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác.5

Có thể nói việc tuyên truyền cũng như thực hiện các chủ trương đó của Nhà nước đến nay đã đạt được những thành tựu nhất định, theo đó, các phương tiện truyền thông đăng tải các văn bản, nghị quyết….có tính chất pháp quy của Đảng, Nhà nước về BĐG Kênh truyền thông nhằmxã hội hóa thông tin, giúp các cá nhân, nhóm xã hội có thể hiểu đúng, hiểu đủ về BĐG Đây là kênh truyền thông có thể thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi, của các nhóm xã hội trong tiến trình giảm thiểu khoảng cách bất bình đẳng giới và tiến tới đẩy lùi BLGĐ

5

TS Phạm Hương Trà, (2016), Báo điện tử: Hiệu quả truyền thông về bạo lực gia đình, NXB Lao đông –

Xã hội, tr 53,54

Trang 24

1.3 Vai trò của báo mạng điện tử trong việc truyền thông về bình đẳng giới

Báo chí, truyền thông có vai trò hết sức quan trọng trong truyền thông những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới Thực tiễn cho thấy, báo chí là phương tiện rất quan trọng chuyển tải nội dung về BĐG đến nhân dân Giúp nhân dân có thêm những kiến thức, cũng như những kỹ năng để đấu tranh cho BĐG

Báo mạng điện tử là loại hình báo chí ra đời muộn hơn so với báo

in, phát thanh, truyền hình Nhưng giờ đây BMĐT có thể đảm đương nhiệm vụ của các loại hình báo chí truyền thống một cách dễ dàng nó mang sức mạnh của phương tiện truyền thông đại chúng cùng sự kết hợp với mạng Internet nên có nhiều ưu điểm vượt trội và đang trở kênh truyền thông vô cùng hiểu quả

Báo mạng điện tử có sự tổng hợp của cộng nghệ đa phương tiện, bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh, video và các chương trình tương tác, không

có giới hạn về khuôn khổ, số trang, không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên BMĐT có khả năng truyền tải thông tin đi rộng khắp toàn cầu một cách nhanh chóng với số lượng không giới hạn Đặc biệt thông tin có hình ảnh, màu sắc hấp dẫn

Cũng giống như các loại hình báo chí khác, BMĐT cũng có những vai trò sau:

Vai trò thông tin

Báo chí đã làm tốt việc tuyên truyền, giải thích đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để toàn Đảng, toàn dân quán triệt sâu sắc và nhất trí cao với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Bằng những tác phẩm báo chí đa dạng, giàu sức thuyết phục, báo chí đã truyền bá hệ tư tưởng là kim chỉ nam cho mọi hành động của cách mạng Việt Nam đó là chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh; giúp cho toàn xã

Trang 25

hội nhận thức đúng để thống nhất tư tưởng, hành động, không có khoảng trống để các luận điệu thù địch lung lạc

Tất cả những thông tin quan trọng về các sự kiện trên thế giới và trong nước được báo chí cung cấp đầy đủ, kịp thời, mang tính định hướng dư luận để giúp cho công chúng hiểu đúng, nhận thức đúng, tránh những hiểu biết sai lệch

Vai trò định hướng

Báo mạng điện tử thông tin, tuyên truyền, giải thích rõ những nội dung

cơ bản về Luật Bình đẳng giới, những kiến thức về giới, bình đẳng giới…làm

rõ sự cần thiết, mục đích của việc phải tiến tới BĐG trong xã hội

Báo mạng điện tử vạch trần các biểu hiện, các vụ việc tiêu cực về bạo lực giới, bất bình đẳng giới đang tồn tại trong gia đình, nơi làm việc, trong các chính sách, chế độ lương thưởng,…qua đó nâng cao tính thần cảnh giác, tham mưu với các cơ quan có thẩm quyền đề ra luật nhằm ngăn chặn bất bình đẳng giới trong xã hội

Báo mạng điện tử luôn bám sát thời sự, thông tin thời sự, đưa đến cho độc giả những thông tin nhanh nhất, nóng nhất vào bất kể thời gian nào Đồng thời điểm mạnh nhất của BMĐT là sự tương tác giữa nhà báo, các chuyên gia

và độc giả, cung cấp cho độc giả những kiến thức cũng như giải đáp nhanh nhất những thắc mắc, nhận lại được phản hồi đánh giá của độc giả và những vẫn đề nóng đang được nhiều người quan tâm Với khả năng lưu trữ tốt, tính tiện dụng có thể đọc mọi lúc mọi nơi, đồng thời làm cầu nối bạn đọc, công chúng cũng như cơ quan công quyền Mặt khác BMĐT cũng đã huy động được trí tuệ của động đảo đội ngũ chuyên gia, trí thức, các tầng lớp nhân dân tham gia vào giám sát phản biện xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề chung của mọi lĩnh vực đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội

Vai trò giám sát và phản biện xã hội

Báo chí đã tham gia khá hiệu quả trong việc giám sát và phản biện xã hội các lĩnh vực đời sống xã hội, từ hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách công, đến các vấn đề về kinh tế, văn hóa – xã hội

Trang 26

Quá trình tương tác trên BMĐT nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Ngay sau mỗi tác phẩm đăng tải trên trang báo mạng điện tử đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum…tiện cho độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy

Với những thế mạnh đó, BMĐT khẳng định vai trò thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất

là trong công tác đấu tranh tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, cũng như đấu tranh phòng chống tác động tiêu cực của vấn đề bình đẳng giới hiện nay

1.4 Thực trạng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Trong Báo cáo phát triển con người 2016, với tiêu đề “Phát triển con người cho tất cả mọi người”, được Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc

công bố tại Hà Nội sáng ngày 26/4/2017, Việt Nam với chỉ số bất bình đẳng giới là 0.337, xếp thứ 71/195 quốc gia, vùng lãnh thổ, tiếp tục nằm trong ba nước có thứ hạng tốt nhất tương ứng với chỉ số bất bình đẳng thấp nhất trong các nước ASEAN Với thành tựu này, Liên Hợp Quốc đánh giá Việt Nam là điểm sáng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, một trong những nước có thành tựu về BĐG cao và được xếp vào nhóm nước có thành tựu bình đẳng giới tốt nhất khu vực Đông Nam Á Điều này thể hiện bước tiến vượt bậc của Việt Nam trong việc thực hiện BĐG

Ở Việt Nam, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc đưa ra các quy định pháp luật về BĐG nhưng theo rà soát mới nhất của Ủy ban Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ của Liên Hợp Quốc CEDAW vẫn còn tồn tại những khoảng trống lớn trong việc thực thi các luật và chính sách thúc đẩy bình đẳng giới Đồng thời, các quy định mang tính phân biệt đối xử vẫn tồn tại trong một số luật, như quy định về tuổi kết hôn tối thiểu và tuổi nghỉ hưu của nam giới và phụ nữ6

báo cáo ghép định kỳ lần thứ 7 và thứ 8 của Việt Nam, CEDAW/C/VNM/CO/7-8, 6-24/7/2015

Trang 27

Những khác biệt đậm nét về giới vẫn tồn tại trong cả lĩnh vực kinh tế

và chính trị Mặc dù đã có một số tiến bộ trong vài thập kỷ qua nhưng trên thị trường lao động toàn cầu, thu nhập trung bình của phụ nữ vẫn thấp hơn nam giới 24%7 Ở Việt Nam, mặc dù có trình độ ngang nhau, phụ nữ vẫn có thu nhập thấp hơn nam giới8 Tại Việt Nam, tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội là 24%, cao hơn tỷ lệ trung bình thế giới, nhưng tỷ lệ đại biểu quốc hội chuyên trách chỉ đạt 17%9

Tại Việt Nam, số phụ nữ nắm vị trí lãnh đạo đang giảm Ví dụ, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ vị trí bộ trưởng và tương đương đã giảm từ 12% trong giai đoạn 2007-2011 xuống còn 4,5% trong giai đoạn 2011-201610

Mặc dù xã hội dân sự đóng vai trò quan trọng trong tiến trình giám sát và đấu tranh cho quyền của phụ nữ nhưng ở Việt Nam vẫn còn những trở ngại lớn đối với các

tổ chức xã hội dân sự, bao gồm các tổ chức đấu tranh vì bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, trong việc tham gia một cách có ý nghĩa vào quá trình xây dựng, triển khai, giám sát và đánh giá các luật, chính sách và chương trình11

Về chính trị, nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội

LHPNVN Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”12

thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng

7 UN Women, 2015 Tiến bộ của Phụ nữ thế giới năm 2015-2016: Thay đổi các nền kinh tế, thực hiện các quyền

9 Liên minh Nghị viện Thế giới, 2015.Phụ nữ trong nghị viện các quốc gia e/world.htm

http://www.ipu.org/wmn-10

UNDP Việt Nam, 2012.Sự đại diện của phụ nữ ở vị trí lãnh đạo tại Việt Nam

hỗ trợ các nỗ lực của chính phủ hướng tới bình đẳng giới hiệu quả trong hệ thống pháp lý

12 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn khiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb CTQG, Hà

Nội, 2016, tr 163

Trang 28

ngày càng tăng lên Cụ thể: từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 - 2016) và tỷ lệ này là 26,72% với 133 nữ đại biểu Quốc hội trên tổng số 496 đại biểu ở khóa XIV(2016 - 2021) Hay trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nhiều địa phương tỷ lệ phụ nữ trúng cử vượt dự kiến như: Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt 43%; Đại biểu Hội đồng nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt gần 45%.13

Về kinh tế, Bên cạnh thực hiện bình đẳng giới trên lĩnh vực chính trị thì

bình đẳng giới trong lao động cũng đạt được nhiều kết quả khả quan Cụ thể, năm 2017, tỷ lệ nữ giới tham gia lao động chiếm 48,4% lực lượng lao động từ

15 tuổi trở lên Và với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lên đến 73% trong tổng số phụ nữ trong độ tuổi lao động, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam hiện đang đi làm nhiều hơn hẳn so với phần lớn các quốc gia khác trên thế giới Tỷ lệ này cũng cao hơn mức trung bình thế giới (49%), cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (59%) và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (39%).14

Bình đẳng giới trong phạm vi gia đình cũng cần được cải thiện Phụ nữ Việt Nam vẫn phải làm các công việc nội trợ và chăm sóc gia đình nặng nhọc

mà không có thù lao15 Ngày càng có nhiều phụ nữ trẻ di cư ra thành phố hay

ra nước ngoài, cộng thêm chi phí trông giữ trẻ cao, đã chuyển gánh nặng chăm sóc trẻ từ phụ nữ trẻ sang phụ nữ lớn tuổi, thường là họ hàng Đồng thời, phụ nữ di cư lại trở thành người giúp việc gia đình ở các khu vực đô thị Trong khi đó, bạo lực đối với phụ nữ là một vấn nạn tác động đến mọi quốc gia, thậm chí cả những nước đã có tiến bộ đáng ghi nhận trong những lĩnh vực

13

Đảng cộng sản Việt Nam, Văn khiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb CTQG, Hà

Nội, 2016, tr 163

vì lao động di cư (Mnet) thực hiện

về báo cáo ghép định kỳ lần thứ 7 và thứ 8 của Việt Nam, CEDAW/C/VNM/CO/7-8, 6-24/7/2015

Trang 29

khác Trên toàn thế giới, 35% phụ nữ từng bị bạo hành về thể chất và/hoặc tình dục16

1.5 Ưu điểm và hạn chế của việc truyền thông về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử

1.5.1 Ưu điểm

Báo mạng điện tử có những ưu thế về dung lượng truyền tải mà báo in, phát thanh hay truyền hình không có được BMĐT không bị giới hạn khuôn khổ, số trang nên có khả năng truyền tải thông tin không giới hạn Vì vậy có thể cung cấp một lượng thông tin rất lớn, phong phú, chi tiết về vấn đề an ninh mạng cho độc giả biết Ngoài ra, những thông tin này còn được báo mạng sâu chuỗi lại với nhau theo các chủ đề thông qua siêu liên kết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận thông tin của độc giả Không những thế, những thông tin trên báo mạng điện tử còn được lưu trữ lâu dài và khoa học theo ngày, tháng, chủ đề, chuyên mục…tạo thành cơ sở dữ liệu để bạn đọc có thể tìm kiếm nhanh chóng và hiệu quả

Trong mỗi bài viết đề có những link bài có nội dung tương tự đính kèm

để gợi ý thêm cho độc giả

Không phải ngẫu nhiên người ta ví sự xuất hiện của BMĐT đã mở ra cuộc cách mạng kỳ diệu trong đời sống xã hội nói chung và trong hệ thống

16 Ngân hàng Thế giới, 2011 Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam

Trang 30

truyền thông đại chúng nói riêng Điều này xuất phát từ đặc điểm khu biệt quan trong nhất của BMĐT là khả năng đa phương tiện Có thể coi khả năng

đa phương tiện là ưu điểm mạnh nhất của BMĐT Khả năng đa phương tiện của báo mạng điện tử thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa các yếu tố: chữ viết, âm thanh, hình ảnh, màu sắc, đồ họa, hình khối…

Nhờ khả năng lấp đầy khoảng chống không gian và thời gian mà báo mạng điện tử đã trở thành một kênh tuyên truyền hữu ích về bình đẳng giới đến cho mọi người đang sử dụng Internet trên toàn cầu BMĐT giúp cho độc giả có thêm kiến thức về bình đẳng giới cũng như chỉ cho độc giả những gợi ý

để ngăn chặn bất bình đẳng giới, bạo lực giới ảnh hướng đến bản thân cũng như cộng đồng

Với BMĐT thì sự tiếp nhận thông tin của công chúng thay đổi rất nhiều Nếu như trước kia chưa có luật về BĐG, những kiến thức về giới còn rất hạn chế nên hiểu biết của người dân về vấn đề này còn rất mơ hồ Nhờ có báo mạng điện tử mà người dân có thể tự do tìm hiểu về vấn đề mà họ quan tâm Không chỉ vậy, công chúng còn được khuyến khích cũng như tạo cơ hội

để tích cực tham gia và quá trình phòng chống đẩy lùi bất bình đẳng giới, đầy lùi bạo lực trong gia đình và trong toàn xã hội

Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ cao, bạn đọc có thể gửi thư điện tử (email) phản hồi ngay tới từng bài báo, từng tác giả và tòa soạn bằng những thao tác hết sức đơn giản và thuận tiện Tòa soạn gần như nhận được tức thời các ý kiến phản hồi và quá trình xử lý, sàng lọc, lưu trữ, đăng tải phản hồi cũng nhanh hơn nhờ có sự hỗ trợ của máy tính và mạng Internet Thông quan email tòa soạn có thể gửi đến từng độc giả những bản tin tóm tắt theo định kỳ giúp họ tiết iệm thời gian và gắn kết với tờ báo hơn Cũng nhờ vào khả năng tương tác, BMĐT thiết lập các diễn đàn hay thực hiện các cuộc bỏ phiếu giúp cho công tác điều tra xã hội trở nên vô cùng đơn giản, thuận tiện và nhanh chóng

Chính nhờ tính tương tác của BMĐT mà những nhà làm luật có thể biết được những điều mà công chúng cần là gì, qua đó có thể giải đáp được những

Trang 31

thắc mắc cũng như trang bị cho công chúng những kiến thức về vấn đề bình đẳng giới, cũng như tuyên truyền đến độc giả về những mối nguy hại của bất bình đẳng giới, bạo lực giới đang gây ra cho toàn xã hội, đặc biệt đối với phụ

nữ, qua đó đưa ra những giải pháp đề phòng Không chỉ vậy, tính tương tác của báo mạng điện tử còn là cầu nối của nhà báo, phóng viên với những chuyên gia về vấn đề BĐG Báo mạng điện tử còn thiết lập các cuộc giao lưu trực tuyến, bàn tròn trực tuyến, phòng vấn trực tuyến…nhằm tạo cơ hội cho bạn đọc giao lưu, trao đổi, trực tiếp trai đổi với các chuyên gia để giải đáp các thắc mắc liên quan về vấn đề BĐG Những người tham gia có thể đặt câu hỏi, bày tỏ ý kiến và gửi ngay đến những người, những cơ quan, tổ chứcđược phỏng vấn Người được phỏng vấn nhận câu hỏi và trả lời rất nhanh chỉ mất vài giây Đặc biệt là sự kết hợp giữa văn bản, âm thanh đã tạo cho hình thức tương tác này có tính hấp dẫn cao

1.5.2 Hạn chế

Thứ nhất, độ chính xác của thông tin Thông tin được báo mạng điện tử

đưa rất nhanh, nhiều khi phải chạy đua với thời gian, dễ dẫn đến thực trạng nhanh thì dễ ẩu Đối với các loại hình báo chí truyền thống khác tránh tình trạng này bằng hàng rào biên tập viên thính tai, tinh mắt, giỏi nghiệp vụ Còn đối với phóng viên báo mạng, trong nhiều tình huống họ kiêm luôn tổng biên tập tức là vừa viết bài vừa đưa tin lên mạng BTV lúc này không có vai trò

Thứ hai, độ an toàn của thông tin trên báo mạng điện tử Nó bị phụ

thuộc quá nhiều vào công nghệ, toàn bộ nội dung thông tin gần như phụ thuộc vào sự ổn định của máy móc Vì báo mạng điện tử chỉ phát hành một bản duy nhất nên khi gặp sự cố như cháy, hỏng, viruts phá hoại, tin tặc tấn công…nội dung lưu trữ có thể bị chỉnh sửa, làm sai lệch hoặc bị phá hoại hoàn toàn và khó khôi phục lại

Thứ ba, vì báo mạng điện tử đưa rất nhiều thông tin nên người đọc nhiều khi bị nhiễu, choáng ngợp, mất tập trung và đôi khi không có khả năng

lựa chọn thông tin nào tốt, đáng tin cậy cho mình Thêm nữa rất nhiều thông

Trang 32

tin trên báo mạng điện tử sa đà vào giật gân, câu view như moi móc đời tư cá nhân, tình dục

Vấn đề giới không phải là quá mới ở Việt Nam trong một vài năm gần đây, nhưng thế nào là BĐG một cách thực chất thì vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh luận Truyền thông có sức mạnh đặc biệt, góp phần làm cho xã hội hiểu đúng hơn về bình đẳng giới BMĐT hiện là kênh truyền thông hiệu quả về vấn đề này, tuy nhiên cũng cần nhìn lại những hạn chế để khắc phục

Thứ hai, tác giả nêu thực trạng của vấn đề BĐG ở Việt Nam hiện nay

và vai trò của báo mạng điện tử trong việc truyền thông về vấn đề này trên báo mạng điện tử, qua đó thấy rằng báo mạng điện tử có vai trò vô cùng to lớn, cần thiết trong việc tuyên truyền đến người dân những kiến thức, những lời khuyên từ các chuyên gia về vấn đề BĐG

Thứ ba, tác giả nêu những ưu, nhược điểm của BMĐT trong việc truyền thông về vấn đề bình đẳng giới Qua đó nhằm phát huy hơn nữa những thế mạnh, tận dụng những thế mạnh vượt trội đó để truyền thông sâu rộng đến công chúng, đồng thời nhận ra những nhược điểm để kịp thời thay đổi, sửa chữa sao cho phù hợp, giúp cho công tác truyền thông về vấn đề hiệu quả hơn

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát báo Điện tử phụ nữ Việt Nam, báo Vietnamnet,

báo Gia đình và Xã hội) 2.1 Giới thiệu về 3 tờ báo khảo sát

2.1.1 Báo Phụ nữ Việt Nam

Báo Phụ nữ Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tự nhận là "tờ báo đại diện cho các tầng lớp phụ nữ cả nước gửi gắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình để phản ánh trước công luận"

Các ấn phẩm của báo PNVN tuy đề cập đến những vấn đề chung của người

phụ nữ nhưng cũng đề cập đến vấn đề chung của gia đình Việt Nam và của toàn xã hội, vì vậy độc giả của báo PNVN không chỉ là phụ nữ mà cả nam giới và gia đình

Hình 2.1 Giao diện báo điện tử Phụ nữ Việt Nam

Theo lời kể của nhà văn Nguyệt Tú: "Đúng ngày 19/8/1948 tờ báo Phụ

nữ Việt Nam số một ra đời Tờ báo in tipô, khổ nhỏ Báo chỉ có 6 trang, giấy báo đen xấu nhưng in chữ rất rõ nét Trang đầu đăng bức thư viết tay của chủ

Trang 34

tịch Hồ Chí Minh gửi Hội phụ nữ Bác động viên phong trào phụ nữ cả nước tham gia kháng chiến chống Pháp và sản xuất ở hậu phương Trang sau in bài

xã luận của chị Hoàng Ngân " theo góp ý của bác Hồ, chúng tôi đặt mục Tin sản xuất bên cạnh Tin công tác Hội Hai trang báo dành cho phóng sự: Trên những nẻo đường kháng chiến…" Bà Như Quỳnh (tên thật là Võ Ngọc Nghi) Tổng Biên tập đầu tiên của báo PNVN, bà được đồng nghiệp đánh giá là người có tầm nhìn rộng rãi và nhân ái

Tự coi tổng biên tập là “ghế nóng” và mỗi ngày mỗi nóng, Nhà báo Nguyễn Thục Hạnh, Tổng biên tập báo PNVN tìm ra số ít những thuận lợi hiếm hoi là từ khóa “sáng tạo” Với nền tảng công nghệ số, không có một rào cản nào cho sự sáng tạo của tổng biên tập Chưa bao giờ nghề báo có thể linh hoạt thể hiện những ý tưởng một cách phong phú đến thế Cũng chưa bao giờ chúng ta có cơ hội tiếp cận ngay lập tức đến một số lượng bạn đọc tiềm năng đông đảo đến thế “Làm báo ngày nay không chỉ phản ánh, chúng ta còn trực tiếp sáng tạo nên các sản phẩm truyền thông mới mẻ, thu hút, trực tiếp làm thay đổi xã hội theo hướng tích cực và tốt đẹp hơn Nhà báo, đặc biệt là tổng biên tập, chắc chắn là những người giàu sức sáng tạo nhất”, nữ Tổng biên tập Báo Phụ nữ Việt Nam khẳng định

Sự ra đời của báo điện tử PNVN và app “Bí mật Eva” trên điện thoại di

động đánh dấu bước phát triển ngoạn mục từ một toà soạn thuần tuý báo in sang toà soạn đa phương tiện, kịp thời đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng phụ nữ chuyên biệt trong kỷ nguyên công nghệ số

Hiện nay, báo điện tử PNVN có 8 ấn phẩm: Xã hội, luật và đời, hôn nhân – gia đình, kỹ năng, dịch vụ, sản phẩm hồng, an toàn thực phẩm, giải trí Báo PNVN luôn chủ động làm tốt các hoạt động hỗ bạn đọc đằng sau trang báo như tư vấn pháp luật, kỹ năng, kiến thức trực tiếp, trực tuyến; mở nhiều diễn đàn tương tác, các cuộc thi sinh động dành cho cả nam giới và phụ nữ Toà soạn còn tạo nên những thương hiệu được khẳng định qua thời gian, như

“Chị Thanh Tâm”, Cuộc thi Hoa hậu/hoa khôi Phụ nữ Việt Nam qua ảnh,

Trang 35

cuộc thi viết “Dọc đường công tác Hội”, Chương trình từ thiện “Mottainai - Trao yêu thương, nhận hạnh phúc”, chương trình hỗ trợ nữ phạm nhân Báo PNVN đồng hành với nhiều học giả trong chương trình “Nuôi dưỡng nhân tài” nhằm kết nối, trao kiến thức và học bổng cho hàng trăm học sinh giỏi, có hoàn cảnh khó khăn tại các trường chuyên trong cả nước

2.1.2 Báo VietNamNet

Báo VietNamNet thành lập từ năm 1997 với tên gọi là mạng thông tin trực

tuyến VASC Orient trực thuộc Công ty Phần mềm và Truyền thông (VASC), là

một thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)

Đến ngày 7/1/2002, VASC Orient chính thức đổi tên thànhVietNamNet (mạng Việt Nam) tại địa chỉ: www.vietnamnet.vn Tên gọi mới này đã phản ánh được tầm vóc của một mạng thông tin mang tính quốc gia mà sau gần 2 năm ra đời VASC Orient đã đạt được: Thông tin cập nhật từng giờ, từng ngày

về các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, thể thao…

Hình 2.2 Giao diện báo điện tử VietNamNet

Ngày 23/1/2003,VietNamNet chính thức được cấp phép là tờ báo mạng điện tử Từ đây con đường phát triển của VietNamNet bước sang một trang

Trang 36

mới có nhiều điểm sáng VietNamNet đã trở thành một trong những tờ báo mạng điện tử có mặt trong thời khắc đầu tiên của của sự xuất hiện loại hình báo chí mới này ở Việt Nam.Ngày 17/6/2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định chuyển VietNamNet về trực thuộc Bộ thông tin

và Truyền thông Đây là điều kiện mới để VietNamNet tiếp tục phát triển

Nhờ kết hợp sức mạnh của công nghệ thông tin và truyền thông, hơn 10 năm qua.VietNamNet đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với độc giả trong và ngoài nước Với thế mạnh là nguồn thông tin chính thống, có

tính định hướng xã hội, cập nhật nhanh, VietNamNet đã dần khẳn định

thương hiệu là tờ báo mạng điện tử uy tín tại Việt Nam

Với phương châm hành động: “Đi đầu hay bị loại?”, VietNamNet cập nhật nhiều lần trong ngày, trung bình cứ 6 phút là có một tin bài được đẩy lên Trong nhiều trường hợp tin bài được cập nhật liên tục để luôn bảo đảm tính “sống” cho thông tin trên báo Để tránh sai sót trong thông tin, VietNamNet quy định, khi nhận được bản thảo biên tập viên phải đọc kỹ và đưa ra những nhận định cơ bản như: Bài báo có quan trọng không, có hữu dụng và thú vị không? Thông tin này có bị thiếu không? Có cần phát triển thêm bài nào?

Hiện nay VietNamNet có 16 chuyên trang bao gồm chính trị, kinh tế,

xã hội, quốc tế, giáo dục…và 10 trang con chuyên sâu hoạt động như những

tờ báo trực thuộc VietNamNet Trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay, với những nỗ lực cố gắng hoàn thành tốt mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ đặt ra

VietNamNet đã nhận được nhiều bằng khen: 3 năm liền (2002 - 2004) đoạt

cúp vàng cho báo điện tử và trang web xuất sắc nhất do Hội Tin học Việt

Nam trao tặng; Trong bảng xếp hạng của Alaxe

2.1.3 Báo Gia đình và Xã hội

Là một trong những ấn phẩm của báo Gia đình và Xã hội được chính thức ra mắt vào ngày 23/3/2007, là một trong 20 tờ báo mạng điện tử được nhiều công chúng trong cả nước quan tâm đón đọc

Trang 37

Tôn chỉ, mục đích của báo GĐ&XH ghi tại giấy phép hoạt động số 575/GP-BVHTT ngày 27/12/2002 của Bộ văn hóa - thông tin, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông: “Báo GĐ&XH thực hiện tuyên truyền chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác Dân số - Gia đình và Trẻ em; Phản ánh tình hình dân số mối quan hệ của đời sống gia đình và việc chăm sóc, giáo dục trẻ em, liên quan đến sự phát triển kinh

tế - văn hóa- xã hội của đất nước; Phổ biến kinh nghiệm, nêu gương người tốt việc tốt; Cung cấp thông tin và tư vấn về các lĩnh vực dân số - gia đình

và trẻ em”

Báo điện tử GĐ&XH (Giadinh.net) có cơ quan chủ quản là Tổng cục

Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), đứng đầu tòa soạn là Tổng biên tập ông Trần Tuấn Linh Bên cạnh 9 ban tương ứng với 9 chuyên mục, báo còn

có các ban chuyên trách về hình ảnh, video, đồ họa, dịch thuật nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp và chuyên môn

Hiện tại, báo có trụ sở chính tại 138A, Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội Tuy nhiên hiện Báo vẫn có văn phòng làm việc tại địa chỉ Tòa nhà Tổng cục DS-KHHGĐ, ngõ 8 đường Tôn Thất Thuyết, quận Nam Từ Liêm, TP

Hà Nội

Báo có số lượng phóng viên, biên tập viên xấp xỉ 50 người Bên cạnh

đó, báo có đội ngũ cộng tác viên trên khắp các tỉnh thành và nhiều nước trên thế giới, góp phần cập nhật thông tin trong nước và quốc tế kịp thời

Báo điện tử GĐ&XH tiếp tục đẩy mạnh phát triển chất lượng thông tin cùng với phát triển các yếu tố đa phương tiện trong báo chí Báo định hướng tuyển dụng và đào tạo đội ngũ phóng viên có tay nghề cao, có khả năng tác nghiệp báo chí đa phương tiện GĐ&XH ưu tiên đội ngũ làm báo trẻ trung, có phong cách làm báo chuyên nghiệp, có vốn hiểu biết sâu rộng, không ngại dấn thân và có tinh thần nhân ái

Đúng như tên gọi của mình báo GĐ&XH chủ yếu khai thác thông tin trên hai lĩnh vực chủ yếu là những vấn đề trong đời sống xã hội và những

Trang 38

thông tin cần thiết cho mọi Gia đình Chuyên mục Xã hội trên báo điện tử giadinh.net được coi là một trong những thế mạnh, chuyên mục thu hút được độc giả của Báo GĐ&XH

Hình 2.3 Giao diện báo điện tử Gia đình và Xã hội

2.2 Khảo sát thông tin về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử

2.2.1 Khảo sát số lượng tần suất tin, bài

Theo kết quả khảo sát trong giai đoạn từ ngày 1/7 - 31/12/2018 trên báo điện tử Phụ nữ Việt Nam đã đăng tổng cộng 105 bài viết về vấn đề bình đẳng giới, được phân bố không đồng đều qua các tháng Vấn đề này chủ yếu được

phản ánh trong mục “Xã hội”, “Luật và đời”, tiểu mục “An toàn cho phụ nữ

và trẻ em”, “Giới 24/7” với tần suất 0.58 % bài/ngày (Tức trung bình khoảng

2 ngày có 1 bài viết được đăng tải) Trong đó, nội dung về vấn đề bình đẳng giới được phản ảnh ở nhiều thể loại: tin, bài phản ánh, ảnh,…trong đó thể loại tin chiếm chủ yếu Con số này chứng tỏ vấn đề bình đẳng giới chưa được đánh giá cao

Trang 39

Biểu đồ 2.1 Số lượng bài viết theo tháng và tần xuất bài viết theo ngày trên

báo phụ nữ Việt Nam từ 1/7 – 31/12/2018

Nhìn vào biểu đồ thống kê trên ta thấy có sự không đồng đều về số lượng bài giữa các tháng cũng như tần suất bài viết Trong đó, 3 tháng 10,11,12 có số lượng bài viết nhiều nhất do thời gian này diễn ra nhiều chuỗi

sự kiện, hoạt động kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 và Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới cấp quốc gia năm 2018 từ ngày 15/11 - 15/12/2018

Là tờ báo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tiếng nói của phụ nữ Việt Nam, góp phần cổ vũ, khích lệ phụ nữ tự tin, sáng tạo, chủ động, phấn đấu vươn lên phát triển toàn diện, khẳng định vai trò của mình trong gia đình

và xã hội Báo là địa chỉ tin cậy để phụ nữ gửi gắm tâm tư, nguyện vọng; công cụ sắc bén bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Vì vậy,

so với 2 báo điện tử VietNamNet và báo GĐ&XH, báo Phụ nữ Việt Nam có phần trú trọng hơn trong việc truyền thông về bình đẳng giới Tuy nhiên việc truyền thông ấy diễn ra không đồng đều mà mang tính thời vụ

Cũng trong thời gian khảo sát 6 tháng từ đầu tháng 7 đến hết tháng 12 năm 2018, tác giả chỉ thu được 30 bài viết về vấn đề BĐG trên báo điện tử Gia

1 1.2

Biểu đồ số lượng bài viết theo tháng và tần suất bài viết theo ngày

trên báo Phụ nữ Việt Nam từ 1/7 - 31/12/2018

Tổng số

Tần suất

Trang 40

đình và Xã hội, số lượng bài viết cũng phân bố không đồng đều qua các tháng,

và được đăng tải chủ yêu trên mục “Xã hội”, “Giáo dục” và “Dân số”

Biểu đồ 2.2 Phần trăm bài viết phân chia theo nội dung vấn đề bình đẳng

giới trên báo điện tử Gia đình và xã hội từ 1/7 – 31/12/2018

Báo điện tử Gia đình & Xã hội (Giadinh.net) có cơ quan chủ quản là

Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), thực hiện tuyên truyền chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác Dân số - Gia đình và Trẻ em nên các bài viết đăng tải về vấn đề BĐG nằm nhiều nhất mục dân số, hướng đến nội dung chủ yếu về cân bằng giới tính trong khi sinh, những giải pháp ngăn chặn và kiểm soát mất cân bằng giới khi sinh Các nội dung liên quan đến các vấn đề về nguyên nhân, những sự kiện được tổ chức liên quan về vấn đề BĐG còn hạn chế

Các nhà báo, phóng viên của báo PNVN và báo GĐ&XH có thuận lợi hơn so với báo VietNamNet trong việc tiếp cận nguồn tin, tiếp cận các tổ chức hội liên quan mật thiết đến vấn đề bình đẳng giới: Hội LHPNVN, các tổ chức quốc tế bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em gái…Trên báo VietNamNet, truyền thông về giới, bình đẳng giới nhìn chung vẫn chưa được trú trọng, trong 6 tháng khảo sát (7-12/2018), tác giả chỉ thông kê được 14 bài viết liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, đăng tải giải rác trong nhiều thư mục của báo

Biểu đồ phần trăm bài viết phân chia theo nội dung

vấn đề bình đẳng giới trên báo điện tử Gia đình và

Xã hội

từ 1/7 - 31/12/2018

Chính sách, luật

Sự kiện Thực trạng Nguyên nhân Giải pháp

Ngày đăng: 06/06/2022, 18:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Thông tin và Truyền thông, (2014), Bộ chỉ số về giới trong truyền thông 3. Cơ sở dữ liệu về Hiến pháp của UN Women (2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chỉ số về giới trong truyền thông
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
6. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
8. Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng (2007), “Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
9. Hồ Xuân Mai (2014), Ngôn ngữ báo chí và biên tập báo, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí và biên tập báo
Tác giả: Hồ Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
11. Luật Bình đẳng giới ngày 29/11/2006 - Luật số 73/2006/QH11 12. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 15/6/2004 13. Luật phòng chống Bạo lực gia đình ngày 21/11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bình đẳng giới" ngày 29/11/2006 - Luật số 73/2006/QH11 12. "Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" ngày 15/6/2004 13. "Luật phòng chống Bạo lực gia đình
15. Ngọc Phương, (2018), Công tác truyền thông về bình đẳng giới của các cơ quan nhà nước, Truyền thông và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác truyền thông về bình đẳng giới của các cơ quan nhà nước
Tác giả: Ngọc Phương
Năm: 2018
16. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động 17. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đếnđời thường), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội", Nxb Lao động 17. Nguyễn Văn Dững (2011), "Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến "đời thường)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động 17. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động 17. Nguyễn Văn Dững (2011)
Năm: 2011
18. Nguyễn Thị Trường Giang (2011), Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2011
19. Ngân hàng Thế giới (2011), Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam 20. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử,Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam "20. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), "Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử
Tác giả: Ngân hàng Thế giới (2011), Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam 20. Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2014
21. Nguyễn Văn Dững (2011), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
22. Ngân hàng Thế giới (2011), Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam, tr.78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2011
23. Nguyễn Uyển (2001), Xử Lý thông tin – Việc của nhà báo, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử Lý thông tin – Việc của nhà báo
Tác giả: Nguyễn Uyển
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
27. Thái Yến (2018), Bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em gái: Báo động mất cân bằng giới khi sinh (bài 1), Tạp chí Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em gái: Báo động mất cân bằng giới khi sinh (bài 1)
Tác giả: Thái Yến
Năm: 2018
28. Thái Yến (2018), Bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em gái: Cần hành động quyết liệt (bài cuối), Tạp chí Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em gái: Cần hành động quyết liệt (bài cuối)
Tác giả: Thái Yến
Năm: 2018
29. Trương Thị Điệp (2018), Bình đẳng giới ở Việt Nam, thành tựu và thách thức trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới ở Việt Nam, thành tựu và thách thức trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trương Thị Điệp
Năm: 2018
30. The Misouri Group (2009), Nhà báo hiện đại, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo hiện đại
Tác giả: The Misouri Group
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2009
31. TS Lưu Hồng Minh (Chủ biên) (2009), Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (Tuyển tập bài nghiên cứu truyền thông của khoa Xã hội học), Nxb Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (Tuyển tập bài nghiên cứu truyền thông của khoa Xã hội học)
Tác giả: TS Lưu Hồng Minh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2009
32. Ths. Uý Thị Thu Hiền (2006), Truyền thông về bình đẳng giới trong chuyên mục phụ nữ với cuộc sống trên sóng đài truyền hình Việt Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông về bình đẳng giới trong chuyên mục phụ nữ với cuộc sống trên sóng đài truyền hình Việt Nam
Tác giả: Ths. Uý Thị Thu Hiền
Năm: 2006
34. Ts. Phạm Hương Trà (2011), Hiệu quả của các bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử Việt Nam hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của các bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ts. Phạm Hương Trà
Năm: 2011
35. TS. Nguyễn Thị Tố Quyên (2013), Đề cương bài giảng Xã hội học Gia đình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Xã hội học Gia đình
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Tố Quyên
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

16 Ngân hàng Thế giới, 2011. Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
16 Ngân hàng Thế giới, 2011. Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam (Trang 29)
Hình 2.1. Giao diện báo điện tử Phụ nữ Việt Nam - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Hình 2.1. Giao diện báo điện tử Phụ nữ Việt Nam (Trang 33)
Hình 2.2. Giao diện báo điện tử VietNamNet - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Hình 2.2. Giao diện báo điện tử VietNamNet (Trang 35)
Hình 2.3. Giao diện báo điện tử Gia đình và Xã hội - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Hình 2.3. Giao diện báo điện tử Gia đình và Xã hội (Trang 38)
Bảng 2.1: Số lượng bài viết theo mục đăng tải trên báo điện tử VietNamNet từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2018 - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Bảng 2.1 Số lượng bài viết theo mục đăng tải trên báo điện tử VietNamNet từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2018 (Trang 41)
2.2.3. Hình thức truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
2.2.3. Hình thức truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử (Trang 57)
Bảng2.2. Số bài viết phân chia theo thể loại trên 3 báo điện tử được khảo sát  từ 1/7 - 31/12/2018 - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Bảng 2.2. Số bài viết phân chia theo thể loại trên 3 báo điện tử được khảo sát từ 1/7 - 31/12/2018 (Trang 58)
Hình 2.5. Những hình ảnh được cho là định kiến giới trong SGK hiện hành - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Hình 2.5. Những hình ảnh được cho là định kiến giới trong SGK hiện hành (Trang 62)
Hình 2.4. “Triển lãm sử dụng phương pháp trưng bày sắp đặt, tạo ra 5 modul gợi mở về những không gian khác nhau trong mỗi gia đình để  khách tham quan tự cảm nhận bằng cảm giác cũng như kinh nghiệm của  mình trong cuộc sống với các chủ đề: Lời ru buồn, Mặ - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Hình 2.4. “Triển lãm sử dụng phương pháp trưng bày sắp đặt, tạo ra 5 modul gợi mở về những không gian khác nhau trong mỗi gia đình để khách tham quan tự cảm nhận bằng cảm giác cũng như kinh nghiệm của mình trong cuộc sống với các chủ đề: Lời ru buồn, Mặ (Trang 63)
Hình 2.6. Bài viết phỏng phấn chân dung một nữ Tiến sĩ lên tiếng về bình đẳng giới“Phương Mai: Phụ nữ là niềm cảm hứng cho cuộc sống đổi thay” được - Truyền thông về vấn đề bình đẳng giới trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay” (khảo sát 3 tờ báo điện tử phụ nữ việt nam, vietnamnet, gia đình và  xã hội từ 17 – 31122018)
Hình 2.6. Bài viết phỏng phấn chân dung một nữ Tiến sĩ lên tiếng về bình đẳng giới“Phương Mai: Phụ nữ là niềm cảm hứng cho cuộc sống đổi thay” được (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w