5 Việc nghiên cứu để bước đầu hình thành khung lý luận về Báo chí dữ liệu trên các phương tiện truyền thông báo chí hiện nay nói chung và đặc điểm báo chí dữ liệu trên báo mạng điện tử V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÙI HUYỀN ANH
ĐẶC ĐIỂM CỦA BÁO CHÍ DỮ LIỆU TRONG CHUYÊN MỤC INFOGRAPHICS
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIETNAMPLUS (TTXVN)
(KHẢO SÁT TRONG 3 THÁNG
TỪ THÁNG 10/2017 ĐẾN THÁNG 12/2017)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: BÁO CHÍ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ ĐA PHƯƠNG TIỆN
HÀ NỘI - 5/2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÙI HUYỀN ANH
ĐẶC ĐIỂM CỦA BÁO CHÍ DỮ LIỆU TRONG CHUYÊN MỤC INFOGRAPHICS
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIETNAMPLUS (TTXVN)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS ĐINH HỒNG ANH
HÀ NỘI - 5/2018
Trang 3Khóa luận đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong khóa luận là trung thực, những kết luận khoa học của khóa luận chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả khóa luận
Bùi Huyền Anh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giảng viên Khoa Phát thanh - truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình 4 năm theo học chương trình Cử nhân Báo chí
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Đinh Hồng Anh đã tận tâm hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp tác giả đã cố gắng để hoàn thành khóa luận thật tốt Tuy nhiên, do thời gian và trình độ còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chỉ dẫn chân thành của quý thầy, cô giảng viên và các bạn học viên, sinh viên nhằm bổ sung, hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2018
Tác giả
Bùi Huyền Anh
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 14
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận 15
7 Bố cục của khóa luận 16
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ DỮ LIỆU TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 17
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 17
1.1.1 Đặc điểm 17
1.1.2 Dữ liệu 17
1.1.3 Báo chí dữ liệu 18
1.1.4 Báo mạng điện tử 22
1.2 Vai trò của Báo chí dữ liệu trên Báo mạng điện tử 23
1.3 Đặc điểm cơ bản của Báo chí dữ liệu trên Báo mạng điện tử 24
1.3.1 Đặc điểm nội dung 24
1.3.1 Đặc điểm hình thức 25
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2: KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA BÁO CHÍ DỮ LIỆU TRONG CHUYÊN MỤC INFOGRAPHIC TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIETNAMPLUS (TTXVN) (KHẢO SÁT TRONG 3 THÁNG TỪ THÁNG 10/2017- THÁNG 12/2017) 43
2.1 Giới thiệu chung về cơ quan báo chí khảo sát và chuyên mục khảo sát 43
Trang 72.1.1 Báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 43
2.1.2 Chuyên mục Infographic - Báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 46
2.2 Khảo sát đặc điểm của Báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) (Khảo sát trong 3 tháng từ tháng 10/2017 - tháng 12/2017) 49
2.2.1 Số lượng, tần suất đăng tải 49
2.2.3 Đặc điểm hình thức 68
2.3 Đánh giá về ưu điểm, hạn chế của Báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 74
2.3.1 Đánh giá của công chúng đối với báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 74
2.3.2 Ưu điểm và hạn chế của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 78
Tiểu kết chương 2 87
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ DỮ LIỆU TRONG CHUYÊN MỤC INFOGRAPHICS TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIETNAMPLUS (TTXVN) 88
3.1 Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 88 3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 89
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
TÓM TẮT KHÓA LUẬN 133
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Hình ảnh vụ “Hồ sơ Panama” làm chấn động thế giới 20
Hình 1.2 Sơ đồ 26
Hình 1.3 Bản đồ dự báo thời tiết 27
Hình 1.4 Biểu đồ cột 29
Hình 1.5 Biểu đồ dạng miếng 30
Hình 1.6 Biểu đồ hình minh họa 31
Hình 1.7 Biểu đồ thời gian 32
Hình 1.8 Đồ thị hình cột 34
Hình 1.9 Đồ thị đường và điểm 35
Hình 1.10 Bảng biểu 36
Hình 1.11 Hình vẽ/minh họa (Pictograph) 38
Hình 1.12 Bản đồ định vị 39
Hình 1.13 Hình ảnh phác họa 41
Hình 2.1 Logo biểu trưng của Thông tấn xã Việt Nam 43
Hình 2.2 Logo biểu trưng của báo mạng điện tử Vietnamplus 44
Hình 2.3 Giao diện báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 45
Hình 2.4 Chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 47
Hình 2.5 Infographics là chuyên mục riêng biệt và hấp dẫn trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 48
Hình 2.6 Số lượt học sinh- sinh viên tham gia Bảo hiểm y tế 79
Hình 2.7 Lợi nhuận của Sam Sung trong quý 3 80
Hình 2.8 Chỉ số PMI ngành sản xuất của Việt Nam dẫn đầu ASEAN 80
Hình 2.9 Bản đồ các địa điểm diễn ra Thế vận hội Mùa đông 2018 81
Hình 2.10 Lịch thi đấu Thế vận hội Mùa đông Pyeongchang 2018 82
Hình 2.11 Minh họa cho hoạt động của Google và Facebook ở châu Âu 83
Hình 2.12 Hình biểu diễn sự đầu tư ra nước ngoài của giới nhà giàu 83
Hình 2.13 Hình minh họa cho những thông tin về giải Nobel 84
Hình 2.14 Sự thay đổi lớn của Việt Nam do cách mạng tháng Mười Nga mang lại 85
Hình 2.15 Tin Infographics 50 năm hình thành và phát triển ASEAN 86
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng tin bài đăng tải trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 49Bảng 2.2 Số lượng tin bài đăng tải trong một số chuyên mục khác thuộc diện khảo sát trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 51Bảng 2.3 Số lượng tin bài Infographic trong các lĩnh vực 60Bảng 2.4 Tần suất tin bài đăng tải trong chuyên mục Infographics so với một
số chuyên mục khác trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 65Bảng 2.5 Các dạng đề tài thường được sử dụng trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 68Bảng 2.6 Khảo sát độ dài các bài báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 69Bảng 2.7 Khảo sát các thành phần của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) 70
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Không phải ngẫu nhiên người ta ví sự xuất hiện của báo mạng điện tử
đã mở ra một cuộc cách mạng kỳ diệu trong đời sống xã hội nói chung và trong hệ thống truyền thông đại chúng nói riêng Ngày nay, xu hướng hội tụ truyền thông, thương mại hóa báo chí và sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới đang là những vấn đề đáng quan tâm của nền báo chí chuyên nghiệp
Việc hình thành các phương tiện truyền thông mới cũng như xu hướng cải tạo, đổi mới các loại hình truyền thông truyền thống đều hướng đến đa dạng hóa nội dung thông điệp, mở rộng dung lượng truyền bá và cung cấp dịch vụ, mở rộng phạm vi lựa chọn cho nhiều đối tượng, cố gắng đáp ứng tốt nhu cầu của công chúng
Có thể thấy, báo mạng điện tử có xu thế phát triển vượt trội hơn báo in, gia tăng nhu cầu xem tin tức của độc giả trên các thiết bị và số hóa, thay đổi
tư duy làm báo hiện đại theo hướng linh hoạt hơn, nhanh nhạy hơn, chú trọng đến phản ứng của độc giả qua các nghiên cứu truyền thông thường xuyên, yêu cầu bức thiết về kỹ năng và hiểu biết công nghệ đối với các nhà báo
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, công chúng báo chí hiện đại không chỉ mong muốn một tác phẩm báo chí kịp thời, chính xác về mặt nội dung mà còn phải hấp dẫn về mặt hình thức Bên cạnh đó, công chúng báo chí cũng mong muốn ở tác phẩm báo chí có thể đáp ứng một cách nhanh nhất nhu cầu thông tin của họ trong khoảng thời gian ngắn nhất Do đó, vấn đề đặt ra với báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng đó là thay đổi cách thức, phương thức và hình thức truyền tải thông tin để đáp ứng nhu cầu của độc giả
Có thể nói khoảng thời gian vài năm qua đã cho thấy một loạt các xu hướng nổi lên của báo chí hiện đại Trước đây giới nghiên cứu đã bàn rất nhiều về những thuật ngữ như multimedia, social media, tòa soạn hội tụ hay
Trang 112
chuyện kết hợp báo in và website như thế nào, thậm chí về kỹ thuật là những tranh cãi giữa xu hướng native apps (ứng dụng cài đặt trên máy di động) và HTML5 Song tất cả đã phải nhường chỗ cho một loạt các xu hướng mới Có thể kể đến: multimedia, multi- platform (đa nền tảng), mobile media, mobile journalism (báo chí di động), social media, social journalism (báo chí xã hội), innovative journalism (báo chí sáng tạo), global collaborative journalism (hợp tác toàn cầu), digital mega- stories (siêu tác phẩm báo chí), “wearables” (các thiết bị đeo trên người), artificial intelligence (trí tuệ nhân tạo) và đặc biệt là data journalism (báo chí dữ liệu)
Báo chí dữ liệu là một thể loại mới trở nên phổ biến trong vài năm trở lại đây, song thực tế nó đã được sử dụng từ cách đây cả thế kỷ Tuy nhiên, báo chí dữ liệu chỉ thực sự phát triển cùng với sự phát triển của công nghệ cũng như sự lan truyền của internet
Bên cạnh đó, nhu cầu về tra cứu dữ liệu để phục vụ hoạt động nghiên cứu, truyền thông, phân tích và các nhu cầu khác trong xã hội tăng vượt bậc Đó là nguyên nhân cho sự phát triển mạnh mẽ của báo chí dữ liệu Và càng ngày, báo chí dữ liệu càng chứng tỏ hiệu quả phân tích và phản ánh thông tin vượt trội Những bài báo với đồ họa, con số và bảng biểu, tranh ảnh hấp dẫn đã thu hút sự chú ý của độc giả nhiều hơn so với những bài báo viết theo kiểu truyền thống
Mỹ, Anh, Đức, Pháp và khảo sát trực tuyến 900 nhà báo ở Mỹ và châu Âu
Theo đó, kết quả cho thấy, có 42% phóng viên, nhà báo sử dụng dữ liệu
để kể chuyện thường xuyên (trên 2 lần/tuần) Có 51% các tổ chức tin tức ở
Trang 12Báo chí dữ liệu cung cấp cho độc giả những cái nhìn tổng quan hơn và biểu thị chúng bằng đồ họa hay các biểu đồ thực sự quan trọng để làm nổi bật nội dung vốn có của nó
Theo nhà báo Duchneskie, khi một tờ báo in được cơ cấu để số hóa thì
đó là lúc tờ báo bắt đầu bước tới một sự phát triển mới Những hoạt động của một cơ quan báo in trước đó cần phải được thay đổi Lợi ích của việc tiếp cận
số hóa đơn giản như: việc biên tập tin được tập trung lại để xử lý, không cần qua nhiều tầng biên tập để tránh mất thời gian Các tiêu đề bài báo có thể thay đổi linh hoạt hơn để thu hút độc giả
Trong một bài phỏng vấn, ông Eric Scherer - Giám đốc chiến lược kế hoạch và hợp tác tại Agence France Presse (Pháp) đã khẳng định: “Báo chí trực quan đang là một trong những xu hướng không chỉ của phương tiện truyền thông truyền thống mà còn của các phương tiện truyền thông mới Một bức ảnh hoặc
đồ họa tốt có thể đáng giá hơn 1.000 - 2.000, thậm chí 3.000 từ”
Rất nhiều kênh truyền hình nổi tiếng Thế giới sử dụng báo chí dữ liệu trong các chương trình của mình, ví dụ như: Đài truyền hình Pháp (Canal +, M6…), Đài truyền hình Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản… Lượng báo chí dữ liệu ngày càng được sử dụng nhiều hơn và phổ biến hơn Cụ thể như, nếu theo dõi bản tin của BBC (Anh) thì có thể nhận thấy rằng trước mỗi tin sẽ có một thông tin sơ lược về sự việc như bản đồ chỉ địa điểm để khán giả truyền hình
có thể hình dung ra được sự việc diễn ra ở đâu
Từ những ý kiến, số liệu trên cho thấy, báo chí dữ liệu có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực báo chí và công nghệ thông tin hiện nay Nó
Trang 134
phản ánh vai trò ngày càng tăng của các dữ liệu số được sử dụng trong việc sản xuất và phân phối thông tin ở thời đại kỹ thuật số Nó cũng phản ánh sự tương tác ngày càng tăng giữa các nhà sản xuất nội dung (nhà báo) và một số lĩnh vực khác như thiết kế, khoa học máy tính và số liệu thống kê
Ở Việt Nam, khái niệm báo chí dữ liệu (Data journalism) còn khá mới
mẻ, cần được nghiên cứu So với thời gian trước đây, việc các đài truyền hình như Đài Truyền hình Việt Nam cũng đã bắt đầu tận dụng thế mạnh trong việc tiếp cận Báo chí dữ liệu để truyền tải các thông điệp, mật độ sử dụng Báo chí
dữ liệu ngày càng dày đặc hơn Không chỉ riêng truyền hình, các trang báo điện
tử, trang thông tin điện tử như VnExpress.net, Vietnamnet.vn, Dantri.vn, đi đầu
là báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) hay các trang thông tin điện tử dành riêng cho giới trẻ như Tiin.vn, Tinngan.vn, Kenh14.vn, Gamek.vn, Genk.vn,… đã tiếp cận và cũng dành rất nhiều bài viết sử dụng báo chí dữ liệu trong hoạt động sản xuất tin tức của mình Tuy nhiên còn nhiều hạn chế: ít ỏi
về số lượng đồng thời chất lượng của báo chí dữ liệu cũng chưa cao, hình thức còn đơn giản và sơ sài Với báo mạng điện tử Vietnamplus, Báo chí dữ liệu đã trở thành một thương hiệu, một bước tiến lớn với việc dành riêng một chuyên mục cho hình thức thể hiện này (chuyên mục Infographics)
Thực tế cho thấy rằng, việc sử dụng Báo chí dữ liệu giúp nâng cao hiệu quả trong việc truyền tải thông tin Thông tin trở nên hấp dẫn hơn, thu hút sự chú ý nhiều hơn, cách diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ Đặc biệt với các thông tin chuyên ngành có liên quan đến các số liệu, so sánh… Báo chí dữ liệu lại càng thể hiện rõ hơn vai trò của mình
Vì vậy, các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước cần bổ sung, khai thác triệt để cũng như nâng cao chất lượng của hình thức truyền tải thông tin này Tuy nhiên, để thành công trong việc sử dụng báo chí dữ liệu, còn rất nhiều vấn đề về nguồn lực, đội ngũ thể hiện, trách nhiệm của các nhà quản lý và vấn đề chi phí đầu tư
Trang 145
Việc nghiên cứu để bước đầu hình thành khung lý luận về Báo chí dữ liệu trên các phương tiện truyền thông báo chí hiện nay nói chung và đặc điểm báo chí dữ liệu trên báo mạng điện tử Vietnamplus nói riêng, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hình thức thông tin này đang ngày càng trở nên cần thiết
Hiểu được tầm quan trọng của báo chí dữ liệu ngày nay, tác giả lựa
chọn đề tài “Đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics
trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN)” (Khảo sát trong 3 tháng từ
tháng 10/2017 đến tháng 12/2017) làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Báo chí dữ liệu đã trở thành một vấn đề quan trọng, phổ biến và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trong nước và quốc tế Nhưng với vấn đề đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus còn ít công trình nghiên cứu, chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận được một số tác phẩm như sau:
2.1 Sách
Năm 1996, Nhà xuất bản Giáo dục cho mở đầu việc cung cấp kiến thức
về thiết kế, trình bày báo qua việc phát hành cuốn “Kỹ thuật chữ” của linh
mục Nguyễn Ngọc Sơn Quyển sách này cung cấp nhiều kiến thức về chữ viết, về đơn vị đo độ lớn của chữ viết và các khái niệm trình bày dàn trang
Cuốn sách “A Practical guide to Graphics reporting- Informartion graphics for print, web, broadcast” (2006) của tác giả Jennifer George-
Palilonis do NXB Lincacre phát hành, tác giả đã xem xét các vấn đề về thông tin đồ họa trên các tác phẩm báo chí một cách hệ thống Đồng thời, tác phẩm cũng đưa ra hệ thống lý luận, khái niệm cơ bản nhất về lĩnh vực này
Trang 156
Trong tác phẩm “Thiết kế, tạo mẫu và dàn trang” (2003) của tác giả
Roger C Parkers do NXB Trẻ dịch và phát hành cũng đề cập đến tầm quan trọng của báo chí dữ liệu và thông tin đồ họa trên báo chí Đồng thời, cuốn sách cũng đưa ra những đề xuất về hướng đi mới nhằm phát huy tốt nhất những ưu thế của loại hình thông tin phi văn tự này
Cuốn sách “Ý tưởng, bố cục và thể hiện” (2003) của tác giả Alam
Swann (nguyên tác Design and Layout- volume 2) được NXB Trẻ dịch và phát hành cũng là một trong những tác phẩm cần nói đến về lĩnh vực đồ họa trên báo chí Trong đó, tác giả đã đưa ra hệ thống thông tin khái quát về dạng thức thông tin này Tác giả cũng hướng dẫn cách trình bày báo nói chung, các dạng thể hiện thông tin trong đó có đề cập đến thông tin đồ họa, báo chí dữ liệu tương đối chi tiết
Cuốn sách “Contemporary newspaper design” (1993- tập 3) của tác
giả Mario Gracia thuộc viện Nghiên cứu truyền thông Poynter, Mỹ cũng góp phần cung cấp cho những nhà nghiên cứu, người làm nghề cái nhìn tổng quan
về báo chí hiện đại, đặc biệt là báo chí dữ liệu, thiết kế đồ họa
Cuốn “Information visualization” (2002) của tác giả Keith Andrews tại
đại học Kỹ thuật Graz (Áo) cũng cung cấp cho các nhà nghiên cứu, người đọc
và người trực tiếp tham gia vào lĩnh vực báo chí dữ liệu những khái niệm về trực quan hóa thông tin và những nguyên tắc chung về trực quan hóa thông tin
Cuốn sách “The Elements of Graphic Design” của tác giả Alex W
White cũng là một tài liệu dành cho người làm báo khi bắt đầu tiếp cận với báo chí dữ liệu Tác phẩm cung cấp thông tin về một số vấn đề cơ bản của báo chí dữ liệu, thiết kế đồ họa cũng như những mảng của lịch sử thiết kế Trong cuốn sách, nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu một số khái niệm quan trọng của không gian, sự thống nhất, cấu trúc trang, typography và thông tin đồ họa
Cuốn sách “Ngôn ngữ báo chí” (2001- tái bản năm 2007) của tác giả
Vũ Quang Hào do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản là sự kết hợp
Trang 167
nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về những vấn đề cần thiết, cơ bản nhất của ngôn ngữ báo chí Những dẫn chứng, những biểu đồ so sánh trong cuốn sách đã minh họa một cách sinh động cho phần lý luận Những nội dung trong cuốn sách: ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí, ngôn ngữ các phong cách báo chí, ngôn ngữ của tên riêng trên báo chí, ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học, danh pháp khoa học, ký hiệu khoa học, chữ tắt và số liệu trên báo chí, ngôn ngữ phát thanh, ngôn ngữ phi văn tự… cho đến ngôn ngữ quảng cáo báo và quảng bá báo chí được tác giả trình bày và lý giải một cách cô đọng, hấp dẫn khiến người đọc dễ hiểu, dễ cảm nhận Đây không chỉ là giáo trình dành cho sinh viên báo chí mà còn là tài liệu tham khảo bổ ích đối với các phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo, đài và tất
cả những ai quan tâm đến ngôn ngữ nói chung
Cuốn sách “Tổ chức nội dung, thiết kế, trình bày báo in” (2006) của
tác giả Hà Huy Phượng đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản về nguyên tắc trình bày, tổ chức thiết kế nội dung tác phẩm báo chí Đồng thời tác giả cũng đưa ra hệ thống luận điểm về đặc điểm và thói quen tiếp nhận thông tin của độc giả Qua đó, cuốn sách đã tổng kết và đưa ra những nguyên tắc trình bày, thiết kế tác phẩm báo chí, những phần mềm ứng dụng như Photoshop, Quarkxpress để đáp ứng tốt nhu cầu của công chúng khi tiếp nhận thông tin trên báo chí
Cuốn “Thực hành thiết kế và trình bày báo” (2007) do Hội Nhà báo
Việt Nam- Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí đã hình thành khung lý thuyết cơ bản nhất dành riêng cho mảng thiết kế và trình bày báo in
Cuốn sách “Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển” (2009), tác giả Vũ
Quang Hào đã đi vào chi tiết mô hình đào tạo báo chí ở một quốc gia phát triển ở Bắc Âu Sự lồng ghép giữa các quan điểm, các thủ thuật làm báo được tác giả trình bày rất chân thực và ấn tượng Đặc biệt, yêu cầu và các kỹ năng
Trang 17kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, báo chí dữ liệu và thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại
Trong cuốn sách “Báo mạng điện tử- Những vấn đề cơ bản” (2010),
tác giả Nguyễn Thị Trường Giang đã đưa ra những vấn đề cơ bản và khái quát
về sự ra đời, phát triển của báo mạng điện tử, cách viết và trình bày nội dung thông tin trên báo mạng điện tử Cuối cùng, tác giả cũng đưa ra những vấn đề pháp lý liên quan đến loại hình báo chí này
Trong cuốn sách “Sự độc đáo của thông tin đồ họa trong Báo chí- Những điểm nhìn từ thực tiễn”, NXB Văn hóa- Thông tin (2000) của PGS.TS
Hà Huy Phượng dường như là bước khởi đầu của việc nghiên cứu về lý luận thiết kế và trình bày báo của cơ quan này
Cuốn sách “Một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại”
(2016), NXB Thông tin và Truyền thông của tác giả Phan Văn Kiền- Phan Quốc Hải- Nguyễn Đình Hậu- Phạm Chiến Thắng đã đề cập đến một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện nay, trong đó có báo chí dữ liệu, với mong muốn đem đến một cái nhìn xuyên suốt và đa diện về những xu hướng chủ đạo của báo chí truyền thông hiện đại cả trên thế giới và ở Việt Nam, cả
Trang 189
trên lĩnh vực báo chí và truyền thông Ở mỗi góc nhìn, các tác giả đã cố gắng vừa bao quát được những đặc điểm chung về xu hướng của loại hình, vừa có những kiến giải riêng vào từng góc độ tiếp cận
2.2 Luận án, luận văn, khóa luận
Luận văn “Sử dụng thông tin đồ họa trong các chương trình truyền hình hiện nay” (2012), tác giả Ngô Thị Yến, chuyên ngành báo chí học đã
giải thích và hệ thống lý luận về chương trình truyền hình, thông tin đồ họa và những thuật ngữ về thiết kế trên truyền hình Luận văn cũng cung cấp lịch sử hình thành và phát triển của thông tin đồ họa Luận văn tập trung khảo sát thực trạng sử dụng thông tin đồ họa trên các chương trình truyền hình trong
và ngoài nước Qua đó, tác giả đưa ra những nhận xét, góp ý để tăng hiệu quả của việc sử dụng thông tin đồ họa trên truyền hình, bao gồm lựa chọn đồ họa, thông tin để thể hiện đồ họa, vấn đề về nhận thức và đào tạo nhân lực
Luận văn “Sử dụng thông tin đồ họa trên báo in hiện nay” (2016), tác
giả Trình Thị Quỳnh, chuyên ngành báo chí học đã đưa ra những vấn đề lý luận về thông tin đồ họa trong tác phẩm báo chí trên báo in, khảo sát các tác phẩm báo chí có sử dụng thông tin đồ họa trên báo in Việt Nam hiện nay ở ba
tờ báo là Lao động, Thời báo Kinh tế Việt Nam và Tuổi trẻ Từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin đồ họa đối với cơ quan báo chí, các phóng viên, biên tập viên, thiết kế làm thông tin đồ họa
Luận văn “Vấn đề sử dụng đồ họa trong thông tin báo chí ở Việt Nam hiện nay” (2011) của tác giả Nguyễn Thị Thiện đã nghiên cứu thực trạng sử
dụng thông tin đồ họa tại một số cơ quan báo chí và đưa ra kiến nghị, phương hướng phát triển của đồ họa trong việc truyền thông tin tức đến công chúng báo chí Trong luận văn, tác giả tiến hành khảo sát Bản tin Thời sự 19h của VTV1, Bản tin Thời sự 19h45 của Đài phát thanh- truyền hình Quảng Ninh, báo Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo điện tử VnExpress trong thời gian từ 1/1/2011- 30/4/2011
Trang 19đa phương tiện ở Việt Nam
Luận văn “Đặc điểm công chúng độc giả báo Internet Việt Nam”
(2002) được bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, chuyên ngành Báo chí học, tác giả Hà Thu Hương cũng đã tổng hợp và trình bày khái quát nhất các vấn đề về báo chí Internet, đồng thời so sánh sự khác biệt giữa báo điện tử Việt Nam và thế giới, so sánh đặc điểm công chúng độc giả của loại hình này với các loại hình báo chí truyền thông khác Trong chương 2, tác giả khảo sát hoạt động của các trang báo điện tử tiêu biểu như Nhân dân điện tử, Lao động điện tử, Quê hương điện tử, VnExpress… qua đó phân tích đặc điểm công chúng độc giả các tờ báo này, tìm ra ưu nhược điểm của báo điện tử Việt Nam trong giai đoạn đó và đề xuất các giải pháp phát triển cho báo điện tử
Luận văn “Thực trạng và giải pháp xử lý thông tin trong tòa soạn báo điện tử Việt Nam hiện nay (Khảo sát Vietnamnet, VnExpress, Tuổi trẻ online, Lao động điện tử)” (2004) của tác giả Trần Hồng Vân cũng trình bày rõ vai
trò của báo điện tử trong hệ thống báo chí Việt Nam Đồng thời tác giả cũng đưa ra hệ thống lý luận về vấn đề xử lý thông tin và quy trình xử lý thông tin tại các tòa soạn báo điện tử Qua kết quả khảo sát thực trạng đó, tác giả nêu lên những ưu khuyết điểm và đề xuất các phương án nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác xử lý thông tin tại các tòa soạn báo điện tử Việt Nam
Trang 2011
Hay đề tài luận văn “Đồ họa trong tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử Việt Nam” (2013) của tác giả Đào Thu Trang dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang đã nêu ra một vài khái niệm liên quan đến
đồ họa, những ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng đồ họa trên báo mạng điện tử Việt Nam và từ đó đưa ra một vài gợi ý nhằm định hướng, đưa giải pháp nâng cao chất lượng đồ họa trong tác phẩm báo chí
Khóa luận tốt nghiệp “Việc sử dụng đồ họa tin tức trên báo Đầu tư”
(2011) của tác giả Trần Bích Ngân cũng đã kế thừa hệ thống lý luận từ các công trình nghiên cứu trước đó, rồi đi đến nghiên cứu cụ thể, chi tiết tờ báo Đầu tư và đưa ra các phương hướng phát triển cho thông tin đồ họa trên báo in
Khóa luận tốt nghiệp “Cải tiến việc sử dụng đồ họa thông tin trên báo
in Đầu tư” (2012) của tác giả Hạp Tiến Sơn cũng đã đưa ra hệ thống lý thuyết
về loại hình thông tin phi văn tự này Đồng thời, tác giả cũng đi sâu vào khảo sát một tờ báo cụ thể, đánh giá thành công, hạn chế và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng thông tin đồ họa trên báo chí nói chung và báo in nói riêng
2.3 Đề tài, công trình nghiên cứu, hội thảo
Bản báo cáo kết quả nghiên cứu về đồ họa trên báo chí “Reporting and editing news” (Bản dịch: Báo cáo và biên tập đồ họa thông tin) của tác giả
Kelly Barry- Phó Tổng biên tập mảng đồ họa của tờ USA Today cũng đưa ra những con số thống kê rất cụ thể về tình hình sử dụng thông tin đồ họa trên báo chí Từ đó tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về các phương pháp thể hiện thông tin đồ họa được sử dụng trên báo chí và đánh giá ưu nhược điểm của từng cách thể hiện và của đồ họa trên báo chí
Tại Hội thảo “Update on Communication Technology” do Trung tâm Thông tin Truyền thông châu Á (AMIC) tổ chức năm 1994, trong bản báo cáo
“Newspaper design: Inforgraphics” (Bản dịch: Thiết kế báo: Đồ họa tin tức)
tác giả Peter Ong cũng đã nêu rõ sự cần thiết phải tư duy trực quan đối với
Trang 21xu hướng, nhu cầu nghe nhìn mới của độc giả Bài thuyết trình cũng dành nhiều thời gian để chia sẻ những kỹ năng để cho ra đời một bài báo dữ liệu hấp dẫn, khách quan và chính xác
Tác giả đã kế thừa những nghiên cứu trên để nghiên cứu khảo sát: Đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện
tử Vietnamplus (TTXVN) (khảo sát trong 3 tháng từ tháng 10/2017 – tháng 12/2017)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) Đây là chuyên mục riêng về báo chí dữ liệu của báo điện tử Vietnamplus, có lượng tin/bài và lượng độc giả khá lớn tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2017 Với phạm vi khảo sát như vậy tác giả hy vọng tạo ra sự phong phú, đa dạng, rút ra được những nhận xét, đánh giá thành công, hạn chế mang tính thực tiễn, bổ ích
Trang 2213
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về báo mạng điện tử nói chung
và báo chí dữ liệu nói riêng, khảo sát, đánh giá đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus
Bên cạnh đó chỉ ra được ưu nhược điểm và đề xuất các giải pháp giúp nâng cao chất lượng báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus và vai trò của báo chí dữ liệu đối với báo chí truyền thông trong tương lai
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, khóa luận xác định thực hiện những nhiệm
vụ cơ bản sau:
Nghiên cứu các tài liệu, sách tham khảo, các bài báo trên các tờ báo điện tử, các tài liệu trên internet… để hệ thống hóa các vấn đề lý luận về báo mạng điện tử nói chung và báo chí dữ liệu nói riêng, lấy đó làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu và khảo sát
Sưu tầm, thống kê, định lượng, định tính các thành phần của báo chí dữ liệu, các công cụ làm báo chí dữ liệu
Khảo sát đặc điểm báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus: cách thức thể hiện và hiệu quả của tin/bài báo chí dữ liệu đó
Từ việc khảo sát có thể đưa ra những đánh giá về đặc điểm, vai trò và
xu hướng phát triển của báo chí dữ liệu trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Nội dung khảo sát cụ thể làm các nhiệm vụ sau đây: tổng hợp, phân tích số liệu, đặc điểm (đặc điểm nội dung và hình thức), một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus
Trang 23cơ sở các lý thuyết, tài liệu giảng dạy, các tài liệu, công trình nghiên cứu về báo mạng điện tử, mô hình tổ chức tác phẩm báo chí, tổ chức nội dung và trình bày báo, xu hướng phát triển của báo chí hiện đại
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc và tra cứu các tài liệu, văn bản,
sách báo… có liên quan đến báo chí dữ liệu Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm hệ thống hóa những vấn đề lý luận của báo chí dữ liệu, báo mạng điện tử, báo chí dữ liệu trên báo mạng điện tử làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu
Phương pháp khảo sát, thống kê, đánh giá: được tác giả vận dụng để
làm sáng tỏ đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus được khảo sát, đồng thời đưa ra những ưu điểm, hạn chế, thành công đạt được và các vấn đề đặt ra
Phương pháp định lượng: nghiên cứu, tổng hợp các tin/bài báo chí dữ
liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus chuyển thành dạng số để đối chiếu, so sánh
Phương pháp điều tra xã hội học (anket): tác giả thực hiện điều tra
công chúng với số lượng khoảng 100 phiếu để thu thập ý kiến của công chúng độc giả về những vấn đề mà khóa luận nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện phỏng vấn chuyên gia, có thể là
phóng viên, biên tập viên, những nhân viên phụ trách mảng báo chí dữ liệu tại
Trang 2415
các cơ quan báo điện tử để có được những ý kiến của những người làm trực tiếp trong vấn đề mà khóa luận đề cập đến
Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng để so sánh đặc
điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện
tử Vietnamplus (TTXVN) với các tờ báo khác
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp được sử dụng để đánh
giá các dữ liệu, kết quả điều tra và rút ra những luận điểm khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
có quan tâm đến báo chí dữ liệu
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến báo chí dữ liệu là một vấn đề hết sức quan trọng Khóa luận sẽ có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở khoa học và lý luận về báo chí
dữ liệu Đồng thời, khóa luận cũng sẽ cung cấp một cái nhìn khái quát về thực tiễn đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographics trên báo mạng điện tử Vietnamplus Hy vọng với những vấn đề đúc rút ra từ khóa luận, nó sẽ trở thành nguồn tài liệu hữu ích có hệ thống cho các tòa soạn báo, đặc biệt với những người làm báo chí dữ liệu trên báo mạng điện tử, tài liệu tham khảo cho sinh viên được đào tạo về báo chí đa phương tiện, báo mạng điện tử
Trang 2516
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mục lục, lời cảm ơn, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về báo chí dữ liệu và báo mạng điện tử
Chương 2: Khảo sát đặc điểm của báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographic trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN) (Khảo sát trong 3 tháng từ tháng 10/2017- tháng 12/2017)
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng báo chí dữ liệu trong chuyên mục Infographic trên báo mạng điện tử Vietnamplus (TTXVN)
Trang 2617
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ DỮ LIỆU
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Đặc điểm
Theo “Từ điển Việt- Việt”, đặc điểm được hiểu là những nét riêng biệt,
điểm nổi bật, của ngoại hình, của tâm lý, tính cách, của hiện tượng hay sự kiện Có hàm ý so sánh hay không Không biệt hóa, nhiều thực tại khác nhau vẫn có thể có chung đặc điểm
Ví dụ: Lơ đãng là đặc điểm của tâm hồn thi sĩ; đặc điểm của dòng máy Sony là âm thanh trung thực hay đặc điểm của báo mạng điện tử là tính đa phương tiện, tính tức thời và phi định kì…
Theo “Từ điển Tiếng Việt”, NXB Đà Nẵng (2006), đặc điểm có nghĩa
là nét riêng biệt Ví dụ: Những đặc điểm khí hậu của một vùng Đặc điểm tâm
lí của trẻ em
1.1.2 Dữ liệu
Theo “Từ điển Việt- Việt”, dữ liệu có nghĩa là số liệu, tư liệu được dựa
vào để giải quyết một vấn đề Những thông tin như văn bản, số liệu, âm thanh, hình ảnh… được biểu diễn trong máy tính dưới dạng quy ước, nhằm tạo sự dễ dàng cho việc lưu trữ, xử lý
Ví dụ: dữ liệu điều tra dân số
Theo “Từ điển Tiếng Việt”, NXB Đà Nẵng (2006), dữ liệu được hiểu là
số liệu, tư liệu đã có, được dựa vào để giải quyết một vấn đề hay đó là sự biểu diễn của một thông tin trong máy tính dưới dạng quy ước, nhằm làm dễ dàng việc xử lí
Theo điều 4 Luật Giao dịch điện tử ban hành ngày 29 tháng 11 năm
2005, dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm
thanh hoặc dạng tương tự
Trang 2718
Theo nghĩa rộng, dữ liệu thô là các số, ký tự, hình ảnh hay các kết quả khác của các thiết bị chuyển đổi các lượng vật lý thành các ký hiệu Các dữ liệu thuộc loại này thường được xử lý tiếp bởi người hoặc đưa vào máy tính Trong máy tính, dữ liệu được lưu trữ và xử lý tại đó hoặc được chuyển (output) cho một người hoặc một máy tính khác Dữ liệu thô là một thuật ngữ tương đối, việc xử lý dữ liệu thường được thực hiện theo từng bước và “dữ liệu đã được xử lý” tại bước này có thể được coi là “dữ liệu thô” cho bước tiếp theo
Các thiết bị tính toán được phân loại theo phương tiện mà chúng sử dụng để biểu diễn dữ liệu Một máy tính tương tự (analog computer) biểu diễn
dữ liệu bằng hiệu điện thế, khoảng cách, vị trí hoặc các định lượng vật lý khác Một máy tính số (digital computer) biểu diễn dữ liệu bằng chuỗi các ký hiệu rút ra từ một bảng chữ cái cố định Các máy tính số phổ biến nhất sử dụng bảng chữ cái nhị phân, nghĩa là, một bảng chữ cái gồm hai chữ cái, thường được ký hiệu là “0” và “1” Các biểu diễn quen thuộc hơn, chẳng hạn các số và chữ sẽ được xây dựng từ bảng chữ cái nhị phân
Có một số dạng dữ liệu đặc biệt Một chương trình máy tính là một tập hợp dữ liệu được hiểu là các lệnh Hầu hết các ngôn ngữ máy tính phân biệt giữa các chương trình và các dữ liệu khác mà chương trình đó làm việc với Nhưng trong một số ngôn ngữ, chẳng hạn LISP và các ngôn ngữ tương tự, các chương trình về bản chất là không thể phân biệt với các dữ liệu khác1
1.1.3 Báo chí dữ liệu
Trong quá trình phát triển của lịch sử lý luận, cho đến nay đã có nhiều khái niệm về báo chí dữ liệu Tuy nhiên trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi chỉ dẫn ra những khái niệm được nhiều người sử dụng và mang nội hàm chính xác hơn cả
Trong tiếng Anh, báo chí dữ liệu được gọi là “Data journalism”
1 https://vi.wikipedia.org/wiki/Dữ_liệu
Trang 2819
Trong bài viết Báo chí dữ liệu/Data journalism của Nguyễn Cao Cường,
nhà báo, giảng viên chuyên ngành truyền hình tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội có đề cập đến khái niệm “Báo chí
dữ liệu” Theo đó, báo chí dữ liệu thực chất là việc sử dụng con số để kể lại câu chuyện tốt nhất có thể Nó không phải là toán học, hoặc biểu đồ hoặc thậm chí
mã Bạn không chỉ suy nghĩ nhiều về từ ngữ Thay vào đó, đây là cách tốt nhất
có thể để kể câu chuyện Các kỹ thuật của báo chí dữ liệu thay đổi, nó được đưa ra bởi các công cụ phong phú và ngày càng dễ tiếp cận hơn.2
có “quá nhiều chữ” và việc đơn giản những con chữ, con số bằng hình ảnh phong phú, những thông tin chính và đồ thị được gọi là trực quan hóa số liệu Các kỹ thuật của báo chí đang thay đổi bởi công cụ công nghệ phong phú và
dễ dàng tiếp cận hơn
Cuốn sách “Một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại”
(2016), NXB Thông tin và Truyền thông các tác giả có viết: Báo chí dữ liệu, khác với báo chí chúng ta vẫn nhắc tới, coi trọng dữ liệu thô hơn là tin tức Thuật ngữ “dữ liệu” khiến nhiều người nghĩ tới các con số Trong thời đại kỹ thuật số, mọi thứ đều có thể được mô tả bởi những con số [tr.57]
Trong bài viết về loại hình báo chí này, nhà báo Lê Quốc Minh, Tổng biên tập báo điện tử Vietnamplus (TTXVN) có đề cập: 3Một bài viết trên
trang The Next Web ví von báo chí dữ liệu là cuộc hôn phối giữa khả năng
“ngửi tin” của một phóng viên và tình yêu đối với việc phân tích dữ liệu của một nhà thống kê Bằng cách phân tích các bộ dữ liệu khổng lồ, các “nhà báo
2 https://nguyencuong.org/bao-chi-du-lieudata-journalism/#_ftnref1
3 https://dhtn.ttxvn.org.vn/tintuc/bao-chi-du-lieu-huong-di-moi-cua-tuong-lai-6011
Trang 2920
dữ liệu” sử dụng dữ liệu để phơi bày sự thực và kể câu chuyện của họ Điều đó có nghĩa là các nhà báo phải lục lọi hàng đống dữ liệu và nhờ đến các công cụ digital,
để tìm ra những điểm bất thường thú vị biến nó thành tác phẩm báo chí
Nói đến báo chí dữ liệu cũng là nói đến khái niệm “hình ảnh hóa” (visualization) - thực chất là ám chỉ tới các biểu đồ Dữ liệu và khả năng hình ảnh hóa kết hợp với việc phân tích báo chí và lối viết bài hấp dẫn sẽ tạo ra sức mạnh lớn hơn nhiều so với các bài báo thông thường Báo chí dữ liệu tranh thủ sức mạnh của máy tính, các hình thức thể hiện dữ liệu digital cùng những công nghệ khác để trình bày dữ liệu theo cách thức lôi cuốn, hữu hiệu và nhanh chóng hơn cách đưa tin truyền thống
Một ví dụ rõ ràng nhất của báo chí dữ liệu là vụ Panama Papers, với 11,5 triệu bản tài liệu và 2,6 TB dữ liệu Các phóng viên đã phải sử dụng phần mềm đặc biệt để phân tích hồ sơ nhằm hỗ trợ cho các bài phóng sự điều tra của họ Ngoài ra, có thể kể đến những dự án nổi bật khác như bài viết của
Telegraph về chi tiêu của các nghị sỹ Quốc hội Anh, bài mô tả hiệu quả của vaccine bằng những hình ảnh trực quan trên Wall Street Journal, hay dự án
“Build a New St Louis” của tờ nhật báo khu vực St Louis Post- Dispatch
thách thức bạn đọc tái thiết khu vực này trong khi vẫn tiết kiệm ngân sách
Hình 1.1 Hình ảnh vụ “Hồ sơ Panama” làm chấn động thế giới
Trang 3021
Báo chí dữ liệu là chuyên ngành báo chí phản ánh vai trò tăng lên của
dữ liệu số được sử dụng trong sản xuất và phân phối thông tin trong kỷ nguyên số Nó phản ánh sự gia tăng tương tác giữa các nhà sản xuất nội dung (nhà báo) và một số lĩnh vực khác như thiết kế, khoa học máy tính và thống
kê Theo quan điểm của các nhà báo, nó thể hiện “một tập hợp các năng lực chồng chéo rút ra từ các lĩnh vực khác nhau
Báo chí dữ liệu được sử dụng rộng rãi để kết hợp nhiều khái niệm và liên kết chúng với báo chí Một số người coi đây là những cấp độ hoặc các giai đoạn dẫn từ việc đơn giản đến phức tạp hơn việc sử dụng các công nghệ mới trong quá trình báo chí
Cũng viết về báo chí dữ liệu, trong bài “Báo chí dữ liệu”, Cẩm nang báo chí dữ liệu (2012), Paul Bradshaw, Đại học Thành phố Birmingham có
nói: Báo chí dữ liệu, đơn giản rằng đó là báo chí được thực hiện với dữ liệu Một số người nghĩ đến dữ liệu như bất kỳ bộ sưu tập các con số, nhiều khả năng thu thập được trên bảng tính 20 năm trước, đó là một loại dữ liệu duy nhất mà các nhà báo giải quyết Nhưng hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới kỹ thuật số, một thế giới gần như mọi thứ có thể được- và hầu như mọi thứ đều được mô tả bằng số
Báo chí dữ liệu là loại hình thể hiện các thông tin, dữ liệu hoặc kiến thức bằng hình ảnh trực quan Những dữ kiện thông tin được thể hiện ngắn gọn, rõ ràng bằng ký hiệu, bản đồ, biểu tượng Nhờ vậy mà người truyền đạt thông tin (các nhà khoa học, nhà toán học, những người làm công tác thống kê) có thể truyền đạt các ý tưởng, khái niệm một cách rõ ràng, đầy đủ hơn
Có nhiều khái niệm được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập, trong
khuôn khổ khóa luận này, tác giả thống nhất lựa chọn khái niệm: “Báo chí dữ liệu là hình thức sử dụng dữ liệu (thường là thông tin dạng số) thu thập được
và sử dụng dữ liệu đó (ở dạng thô hoặc đã qua phân tích, tổng hợp và chắt
Trang 31Trên thế giới, loại hình báo chí này có những tên gọi như online newspaper (báo chí trên mạng, báo trực tuyến), electronic- journal (báo điện tử)…
Ở Việt Nam, cũng có nhiều cách gọi như báo mạng điện tử, báo internet, báo trực tuyến… Trong đó báo điện tử là thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất như báo Lao động điện tử, Nhân dân điện tử, báo điện tử Vietnamnet, báo điện tử VnExpress… Ngoài ra còn có thuật ngữ báo online như Tuổi trẻ online, Tiền phong online…
Trong cuốn “Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử”, tác giả
Nguyễn Quang Huy có viết: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới,
có khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết và âm thanh chỉ trong vài phút đến vài giây, với số trang không hạn chế Báo mạng điện tử là hình thức báo chí được sinh ra từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu”
Trong cuốn sách “Báo mạng điện tử: Những vấn đề cơ bản”, PGS.TS
Nguyễn Thị Trường Giang đưa ra khái niệm: “Báo mạng điện tử” Theo đó, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet [8; tr49 - 54]
Còn theo “Luật Báo chí 2016” (chương I, điều 3), Báo điện tử là loại
hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử
Trang 3223
Khái niệm báo mạng điện tử được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập, trong
khuôn khổ khóa luận này, tác giả thống nhất lựa chọn khái niệm: “Báo mạng điện
tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao” để sử dụng
1.2 Vai trò của Báo chí dữ liệu trên Báo mạng điện tử
Lọc luồng dữ liệu: Khi thông tin khan hiếm, phần lớn các nỗ lực của
nhà báo đã được dành cho việc săn bắn và tập hợp Bây giờ thông tin đó phong phú, chế biến là quan trọng hơn Nhà báo xử lý ở hai cấp độ: phân tích
để đưa ý thức và cấu trúc ra khỏi luồng dữ liệu không bao giờ kết thúc; trình bày để có được cái gì là quan trọng và có liên quan đến người tiêu dùng Giống như khoa học, nhà báo dữ liệu tiết lộ các phương pháp của nó và trình bày những phát hiện của nó theo cách có thể được xác minh bằng cách nhân bản (Philip Meyer, Giáo sư danh dự, Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill)
Cách tiếp cận mới để kể chuyện: Báo chí dữ liệu là một thuật ngữ bao gồm
một công cụ, kỹ thuật và cách tiếp cận để kể chuyện Nó có thể bao gồm tất cả mọi thứ từ báo cáo được hỗ trợ bởi máy tính truyền thống (sử dụng dữ liệu như là một nguồn) cho các ứng dụng tin tức và dữ liệu tiên tiến nhất Mục tiêu thống nhất
là một báo chí: cung cấp thông tin và phân tích để giúp thông báo cho nhà báo tất
cả các vấn đề quan trọng trong ngày (Aron Pilhofer, Thời báo New York)
Báo chí dữ liệu là tương lai: Báo chí dựa vào dữ liệu là tương lai Các
nhà báo cần phải có kiến thức về dữ liệu Trước đây bạn đã từng nghe những câu chuyện bằng cách trò chuyện với những người trong quán bar và có thể bạn sẽ làm theo cách đó một vài lần Nhưng bây giờ nó cũng sẽ được mày mò trên dữ liệu, trang bị cho mình những công cụ để phân tích nó và chọn ra những gì thú vị Và giữ nó trong quan điểm, giúp đỡ người dân bằng cách thực sự nhìn thấy nó phù hợp với nhau và những gì đang xảy ra trong nước (Tim Berners- Lee, người sáng lập ra World Wide Web)
Trang 3324
Sắp xếp luồng thông tin khổng lồ, một biện pháp khắc phục thông tin không đối xứng, tình trạng “lụt” về dữ liệu: Sự không đối xứng thông tin-
chứ không phải là thiếu thông tin, nhưng không có khả năng đưa vào và xử lý
nó với tốc độ và khối lượng mà chúng ta cho là một trong những vấn đề quan trọng nhất mà công dân phải đối mặt trong việc lựa chọn cách sống của họ Thông tin lấy từ các phương tiện tin, hình ảnh và âm thanh ảnh hưởng đến sự lựa chọn và hành động của người dân Báo chí dữ liệu tốt giúp chống lại sự không đối xứng về thông tin (Tom Fries, Quỹ Bertelsmann)
Một cách để tiết kiệm thời gian: Các nhà báo không có thời gian để
lãng phí việc sao chép bằng tay và lộn xộn xung quanh việc cố gắng lấy dữ liệu ra khỏi các tệp PDF, do đó, học một ít mã hoặc biết nơi tìm kiếm những người có thể giúp đỡ là vô cùng có giá trị (Pedro Markun, Transparencia Hacker)
1.3 Đặc điểm cơ bản của Báo chí dữ liệu trên Báo mạng điện tử
1.3.1 Đặc điểm nội dung
Về đối tượng phản ánh: Đối tượng phản ánh của bài báo chí dữ liệu ở
đây là những cái mới Cái mới là đối tượng, đồng thời là mục đích phản ánh, thông tin của nhà báo Cái mới luôn xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống Đó là những sự kiện, sự việc, tình huống, hoàn cảnh mới nảy sinh, mới xuất hiện, tiêu biểu cho sự vận động, phát triển không ngừng của cuộc sống Không phải cái mới nào cũng có thể trở thành đối tượng của bài báo dữ liệu Nhiều cái mới chỉ mang tính chất ngẫu nhiên, đơn lẻ, đột xuất nên không thể đưa vào sản xuất Infographics Đó là những cái mới tiêu biểu, điển hình gắn với bản chất và phản ánh xu thế vận động đích thực của đời sống, đồng thời không được xâm hại đến quyền lợi của quốc gia… Quan trọng hơn là phân tích, đánh giá để hiểu đúng bản chất của cái mới đó
Về đề tài: đề tài trong các bài báo dữ liệu là phạm vi đời sống hiện thực
Đề tài có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Với nghĩa rộng, đề tài
Trang 3425
tương ứng với các lĩnh vực hoạt động trong đời sống như đề tài kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế, thể thao… Với nghĩa hẹp, có thể hiểu đề tài là sự kiện, vấn đề mà nhà báo hướng tới, nhận thức và phản ánh vào tác phẩm
Đối với xã hội hiện đại ngày nay, khi mọi thứ không ngừng biến động, cái mới cái cũ giao thoa, hàng loạt vấn đề nảy sinh… chúng ta có thể dễ dàng tìm được đề tài để sản xuất bài báo dữ liệu trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống
Đề tài nảy sinh từ hiện thực cuộc sống, những đề tài nào có khả năng làm được báo chí dữ liệu thì các tòa soạn báo sẽ triển khai, các nhà báo sẽ không ngại va vấp để tìm hiểu
1.3.1 Đặc điểm hình thức
1.3.1.1 Độ dài
Mỗi bài báo dữ liệu có đặc điểm thông tin khác nhau nên có độ dài cũng khác nhau Nhìn chung xu hướng của các bài báo dữ liệu trên báo mạng điện tử là ít chữ vì xu hướng của độc giả là ngày càng lười đọc hơn, thích xem ảnh nhiều hơn
vẽ, đây là các dạng ghi lại ngôn ngữ theo các phương tiện truyền đạt phi văn bản, ví dụ như các băng từ tính trong các đĩa âm thanh Chữ viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ Người ta có thể
Trang 3526
không biết chữ nhưng vẫn có ngôn ngữ để giao tiếp Nhiều dân tộc có ngôn ngữ riêng nhưng vẫn chưa có chữ viết
Sơ đồ, bản đồ
Sơ đồ: “Sơ đồ là hình vẽ quy ước, sơ lược nhằm mô tả đặc trưng nào
đó của sự vật hay một quá trình nào đó Thông tin bằng sơ đồ là sự đơn giản hóa một quá trình, một mô hình vì vậy độ chính xác chỉ là tương đối Tuy nhiên, trên báo chí hình thức này hiệu quả hơn hẳn hình thức thông tin bằng văn tự trong việc giúp công chúng hình dung ra vấn đề, sự việc” [9, tr.253]
Ví dụ: “Sơ đồ phố đi bộ Hồ Gươm và các điểm trông xe” trên báo baotintuc.vn thứ 3, ngày 30/08/2016
Sơ đồ tổ chức để mô tả mối liên hệ: các sơ đồ tổ chức để chỉ ra mối liên
hệ theo cấp bậc, quyền hạn hoặc trách nhiệm Thậm chí các quan hệ rắc rối nhất cũng có thể được thể hiện trong các sơ đồ tổ chức theo một cách thật đơn
Trang 3627
giản Sơ đồ có thể thay thế được vô số đoạn chữ mà vẫn giữ được nội dung ban đầu
Bản đồ: Bản đồ là hình ảnh thu nhỏ và khái quát hóa của một phần mặt
đất lên mặt giấy phẳng theo những quy luật toán học nhất định Bản đồ được
sử dụng nhằm giúp mọi người định vị, xác định phương hướng Trên báo chí, bản đồ được sử dụng khá phổ biến Nó thường được dùng trong các tin tức sự kiện như chiến sự, thiên tai, dự báo thời tiết Hình thức này dù chỉ được thể hiện bằng những nét phác thảo nhưng cũng đủ để độc giả khi xem vẫn có thể hiểu được thông tin cần Bản đồ có nhiều điểm giống sơ đồ, nhất là mục đích thông tin
Ví dụ tin “Dự báo thời tiết ngày 25/02/2017” trên báo Vietnamplus (TTXVN) ngày 25/02/2017
Hình 1.3 Bản đồ dự báo thời tiết
Bản đồ dự báo thời tiết trên Vietnamplus cho thấy kiểu thời tiết: nắng, mưa, hanh khô…ở các vùng miền của Việt Nam như Tây Bắc Bộ, Đông Bắc
Trang 3728
Bộ, khu vực từ Thanh Hóa- Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng- Bình Thuận, Tây Nguyên và Nam Bộ với mức nhiệt độ cụ thể
Biểu đồ (chart)
“Biểu đồ là hình vẽ biểu diễn một khái niệm, quy luật hay quan hệ nào
đó, nó mô tả một cách trực quan sự phụ thuộc giữa các đại lượng” [9, tr.245]
Với những nội dung có nhiều số liệu phức tạp, biểu đồ luôn là hình thức thông tin phát huy tối đa Nhìn vào một biểu đồ người xem sẽ nắm được sự biến thiên của các đại lượng hoặc mối tương quan giữa chúng một cách nhanh chóng Chính bởi ưu điểm này, biểu đồ thường được ứng dụng trong các lĩnh vực thông tin về kinh tế
Có nhiều dạng biểu đồ: histogram (biểu đồ tần suất), bar chart (biểu đồ dạng cột), pie chart (biểu đồ hình quạt - biểu đồ miếng), timeline chart (biểu
đồ thời gian)… Ngoài ra còn có các dạng kết hợp với tranh minh họa hoặc biểu tượng dạng biểu đồ tạo thành biểu đồ hình vẽ Tuy nhiên, trong khuôn khổ của khóa luận, chúng tôi chỉ đề cập đến 4 dạng biểu đồ chính thường hay
sử dụng nhất: biểu đồ dạng cột, biểu đồ dạng miếng, biểu đồ hình vẽ và biểu
đồ thời gian
Biểu đồ dạng cột- Bar chart: “Gồm hai kiểu: biểu đồ cột đứng và biểu
đồ cột nằm (hay còn gọi là cột ngang), trong đó biểu đồ cột đứng được dùng phổ biến hơn” [9, tr.247]
Ví dụ: Báo chí dữ liệu dưới dạng biểu đồ cột trong tin bài “Cán cân xuất nhập khẩu Việt Nam- Trung Quốc” ngày 20/08/2015 trên báo Tuổi trẻ online
Trang 3829
Hình 1.4 Biểu đồ cột
Biểu đồ cán cân thương mại Việt Nam- Trung Quốc qua các năm từ
2010 đến 2014 và dự kiến cán cân xuất nhập khẩu 2015
Biểu đồ cột với hai màu sắc nổi bật, tương phản, chú thích và số liệu rõ ràng, chi tiết tạo điều kiện cho độc giả có thể dễ dàng tiếp nhận thông tin một cách trực quan sinh động Qua biểu đồ trên, độc giả có thể dễ dàng nhận thấy
sự chênh lệch lớn giữa việc nhập khẩu từ Trung Quốc và xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc Qua đó, nắm bắt được nội dung chính của bài viết một cách nhanh chóng mà không phải đọc một văn bản chứa nhiều số liệu
Biểu đồ dạng miếng (biểu đồ hình tròn) - Pie chart: “Dạng biểu đồ này giúp nhận diện, so sánh tỷ lệ các đại lượng qua độ to- nhỏ của các mũi Nó có thể nằm thẳng, nằm nghiêng, có thể đặc hoặc có lỗ ở giữa Các múi có thể phân biệt nhau bằng màu sắc, có thể tách rời khỏi tâm vòng tròn, lùi xa khỏi vòng tròn và có khi chỉ còn là một múi độc lập của đại lượng” [9, tr.247]
Biểu đồ dạng miếng thường chỉ rõ tương quan giữa các thành phần cấu thành nên một dữ liệu tổng Chính vì vậy, ta thường bắt gặp biểu đồ này với các số liệu phần trăm
Trang 39Biểu đồ hình vẽ/minh họa (Pictograph): “Đây thực chất là một tranh minh họa nhưng lại vẽ theo dạng biểu đồ hoặc vừa kết hợp biểu đồ cột đứng với tranh minh họa hay với tranh” [9, tr.246]
Trang 4031
Ví dụ: “Thương vong toàn cầu do mìn gây ra”, trên báo Vietnamplus (TTXVN) ngày 18/12/2017
Hình 1.6 Biểu đồ hình minh họa
Biểu đồ phản ánh số người chết và bị thương do mìn gây ra trên thế giới
từ năm 1999 đến năm 2016, thông tin thể hiện dưới dạng biểu đồ cột và có lồng ghép nền ảnh minh họa (một quả mìn phát nổ khi các tay sung Yemen tiến hành tuần tra gần Mocha, Yemen vào ngày 20/1/2017) Theo đó, con số chết và bị thương vì mìn chống người thể hiện sự giảm từ 9,228 người (năm 1999) xuống còn 8,605 người (2016) qua từng mốc thời gian cụ thể Biểu đồ này cho thấy tình hình thương vong do mìn gây ra trên toàn cầu tuy có nhiều biến động nhưng đang có xu hướng giảm
Biểu đồ minh họa là loại hình thông tin thể hiện sự sáng tạo, có tính gợi
mở đến chủ đề được đề cập tới Tuy nhiên, hình thức thông tin này đòi hỏi người làm phải có mắt thẩm mỹ và sự liên tưởng nhạy bén với thông tin Đối với báo chí phương Tây thì loại biểu đồ này được sử dụng khá thường xuyên Nhưng với báo chí Việt Nam, do còn nhiều hạn chế nên loại biểu đồ này chỉ xuất hiện ở một số báo với số lượng ít