LỜI MỞ ĐẦU Đề tài Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khắc phục MỤC LỤC 1Đề tài Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khắc phục 1ĐẶT VẤN ĐỀ 2CHƯƠNG I 2TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN GIAO THÔNG 21 Tổng quan về ô nhiễm không khí 22 Hiện trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam 33 Các vấn đề môi trường liên quan đến ho.
Trang 1Đề tài: Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp khắc phục.
Trang 2MỤC LỤC
Đề tài: Tổng quan về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp
khắc phục 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN GIAO THÔNG 2
1 Tổng quan về ô nhiễm không khí 2
2 Hiện trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam 2
3 Các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao thông 3
4 Nguồn gốc phát thải chất ô nhiễm 4
5 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí do giao thông 7
CHƯƠNG 2: 8
TỔNG QUAN VỀ TP.HCM VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ 8
GIAO THÔNG 8
1 Đặc điểm chung về TP Hồ Chí Minh 8
2 Hiện trạng giao thông của TP Hồ Chí Minh 9
3 Hiện trạng các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao
thông tại TP.HCM 10
CHƯƠNG 3: 11
HIỆN TRẠNG CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TẠI 11
TP HỒ CHÍ MINH 11
1 Ô nhiễm môi trường không khí tại TP Hồ Chí Minh 11
2 Hiện trạng ô nhiễm không khí tại các nút giao thông chính 13
3 Nhận xét chung về tình hình ô nhiễm không khí 13
CHƯƠNG 4: 14
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM 14
1 Biện pháp quản lý: 14
2 Biện pháp giáo dục: 17
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 18
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay xã hội ngày càng phát triển nhanh, đời sống con người ngày càng được mởrộng, nhu cầu sinh hoạt đi lại của con người cũng ngày càng được nâng cao Cùng với sựphát triển đó, các phương tiện phục vụ cho nhu cầu đi lại của con người cũng phát triển theo.Nhưng chính vì sự phát triển nhanh chóng đó đã làm cho môi trường bị hủy hoại, ô nhiễmmôi trường ngày một tăng Ô nhiễm môi trường không khí ở các đô thị, thành phố lớn củanước ta đang là vấn đề được xã hội quan tâm Theo kết quả của nhiều đề tài nghiên cứu,trong số các nguồn gây ô nhiễm, nguồn do giao thông vận tải ở nước ta chiếm một tỉ lệ lớn
tốc độ tăng hàng năm về xe máy 1518%, về ô tô 810% như hiện nay, vấn đề ô nhiễmkhông khí tại các nút giao thông của TP Hồ Chí Minh cũng như các thành phố lớn kháctrong cả nước trong những năm tới chắc chắn sẽ còn nghiêm trọng hơn
Trong những năm gần đây số lượng người vào bệnh viện với các chứng bệnh về đường
hô hấp ngày càng tăng lên Một trong những tác nhân đáng kể, đó chính là các chất ô nhiễmkhông khí Tuy đã có những biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm không khí tại nhiều thành phố, đôthị nhưng cho đến nay tình trạng ô nhiễm vẫn diễn ra và ngày càng nghiêm trọng hơn, khókhắc phục hơn Đặc biệt tại các nút giao thông chính trong thành phố, nơi tập trung số lượnglớn xe vào giờ cao điểm, gây ách tắc giao thông, ô nhiễm không khí và tiếng ồn, làm ảnhhưởng đến những người tham gia giao thông và người dân trong khu vực
Trang 5CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN
GIAO THÔNG
1 Tổng quan về ô nhiễm không khí
Bên cạnh các thành phần chính của không khí, bất kỳ một chất nào được thải vào khôngkhí với nồng độ vừa đủ để ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, gây ảnh hưởng xấu tới sự pháttriển, sinh trưởng của động vật, thực vật, phá huỷ vật liệu, làm giảm cảnh quan đều gây nên
ô nhiễm
Vấn đề ô nhiễm không khí có thể chia một cách đơn giản thành ba phần cơ bản sau đây:
Nguồn ô nhiễm: Nguồn ô nhiễm là nguồn thải ra các chất ô nhiễm Ví dụ: khí thải từ
ống khói, khí từ xe cộ, bụi từ các máy mài…
Khí quyển: Khí quyển là môi trường trung gian để vận chuyển chất ô nhiễm từ nguồn
gốc gây ô nhiễm tới nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm
Nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm: Nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm là con người, động vật,
thực vật và các đồ vật công trình và cảnh quan môi trường
2 Hiện trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam.
Tình hình ô nhiễm không khí tại Việt Nam thường tập trung ở một số thành phố lớn vàcác khu đô thị công nghiệp Các thành phố lớn và khu công nghiệp của Việt nam so vớinhiều nước trên thế giới tuy quy mô và tầm cỡ chưa bằng, nhưng tình trạng ô nhiễm môitrường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng đang ngày một tăng và có nơi đã ở mứctrầm trọng
Ở nước ta, chưa xảy ra thảm hoạ nào ảnh hưởng lớn đến môi trường do ô nhiễm khôngkhí Tuy nhiên trên thực tế cho thấy do các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, sinhhoạt, nông nghiệp…, đã làm gia tăng mức độ ô nhiễm không khí lên rất cao, nhất là sau khi
Trang 6có chính sách mở của đầu tư vào sản xuất (từ năm 1984) Tại các khu công nghiệp, các thànhphố lớn, nồng độ chất ô nhiễm vượt quá mức cho phép rất nhiều lần
Nếu không nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc, từ các cấp quản lí tới người dân bìnhthường, tương lai sẽ phải trả giá rất đắt cho tình trạng ô nhiễm không khí ngày một gia tăng,nhất là tại các thành phố lớn và đông dân như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
3 Các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao thông
Mỗi ngày lại có thêm nhiều người chết và thương tích do tai nạn giao thông, nhiều đô thịlớn thường xuyên bị ùn tắc đó lànhững gì mà phương tiện truyền thông thường xuyên nhắcđến trong suốt thời gian qua Khi quá quan tâm đến mảng an toàn giao thông thì vấn đề ônhiễm môi trường lại bị bỏ qua Ô nhiễm môi trường giao thông là tiếng ồn, khói bụi, phátthải nhiên liệu xăng dầu vào không khí của các phương tiện tham gia giao thông như xe gắnmáy, ô tô, cá nhân gây ra
Dân số nước ta vào khoảng 100 triệu người, với số lượng phương tiện giao thông cơ giớigần 3 triệu xe ôtô các loại và trên 47 triệu xe gắn máy Nhìn vào vấn đề giao thông trong cácthành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay đã nói lên điều này Đó là lýgiải vì sao ô nhiễm môi trường giao thông ngày càng tăng cao Nhưng chúng ta vẫn cứ mặcnhiên chịu đựng sự ngột ngạt ô nhiễm trong không khí trên đường để cố đổi lấy sự đi lại cho
tự do bằng việc mỗi người một phương tiện Đặc biệt khi bị ùn tắc giao thông trong các đôthị lãng phí nhiên liệu tăng lên, đồng thời sự ô nhiễm càng tăng do khối lượng phương tiệndồn ứ không di chuyển được
Hơn 47 triệu xe máy đang hoạt động đồng nghĩa với với việc hơn 47 triệu bình xăngcùng với 47 triệu ống xả xả vào không khí Trong khi sông Đồng Nai ô nhiễm do công ty bộtngọt Vedan đã nhiều năm lén xả xuống chất thải độc hại, thì bầu không khí cũng trong trạngthái ô nhiễn nhưng không phải do lén lút mà rất đường hoàng từ chính phương tiện cá nhâncủa mỗi chúng ta
Sử dụng giao thông cá nhân không phù hợp hay hoạch định sách lược về giao thông vậntải không đúng hướng dẫn đến nhiều hệ luỵ Thật khó tự lý giải vì sao một đất nước cònnghèo giá cả xăng dầu đã tăng cao mà phương tiện đi lại bằng xe gắn máy ôtô cá nhân thì thinhau phát triển đem lại quá nhiều hệ luỵ cho xã hội Không chỉ bụi, nồng độ khí CO và NO2
Trang 7tại các nút giao thông lớn trong đô thị cũng đã vượt tiêu chuẩn cho phép Theo đánh giá củacác chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải, do lưu lượng
xe lớn và tình trạng kẹt xe liên tục tại các nút giao thông gây ra chiếm tỉ lệ khoảng 70%
B ng 1: S gia t ng c a các ch t ô nhi m trong khí quy n ảng 1: Sự gia tăng của các chất ô nhiễm trong khí quyển ự gia tăng của các chất ô nhiễm trong khí quyển ăng của các chất ô nhiễm trong khí quyển ủa các chất ô nhiễm trong khí quyển ất ô nhiễm trong khí quyển ễm trong khí quyển ển
Tốc độ tăng(%/năm)
4 Nguồn gốc phát thải chất ô nhiễm
Ảnh hưởng chủ yếu của các phương tiện vận tải đến môi trường là gây ô nhiễm khôngkhí, gây ồn, rung động và bụi Khí thải phát tán từ các phương tiện vận tải chiếm tỷ trọnglớn so với các nguồn phát thải khác trong việc gây ô nhiễm không khí Chất gây ô nhiễmgồm có khói thải và hơi của nhiên liệu bay hơi (xăng, dầu diezel) Chúng bao gồm bụi, cáckhí CO, CO2, SO2, NOx và các chất hữu cơ bay hơi VOC
Nguồn ô nhiễm: có 3 nguồn chính là khí thải, khí lọt qua các khe hở và nhiên liệu bayhơi
Bảng 2: Các nguồn phát thải chất ô nhiễm từ phương tiện giao thông đường bộ.
Trang 8- Các xe gắn máy, xe mô tô 2-3 bánh (2 kỳ, 4 kỳ)
Các chất ô nhiễm chính phát thải từ phương tiện cơ giới:
VOC; NOx; H2O Khói đen là thành phần độc hại chủ yếu trong khí xả động cơ diezel Đó
là các hạt cacbon tự do hình thành trong quá trình nhiên liệu cháy thiếu oxy Nồng độ khóitrong khí xả liên quan nhiều đến thời điểm đánh lửa của động cơ xăng hoặc thời điểm phunnhiên liệu của động cơ diezel, tình trạng kỹ thuật động cơ, Chất thải rắn trong khí thảigồm các hạt cứng lẫn trong nhiên liệu, dầu bôi trơn, các hạt mài, … Với những động cơ chạyxăng pha chì, lượng chì thải ra không khí ở dạng bụi SO2 xuất hiện trong khí thải do lưuhuỳnh trong nhiên liệu bị cháy Alđêhyt (R-CHO) tạo ra trong quá trình cháy không hoàntoàn Mặc dù nồng độ của chúng trong khí thải không lớn nhưng độ độc hại rất cao
chế hoà khí
giữa Piston và thành xilanh xuống cácte dầu và thoát ra môi trường không khí
loại muội được sinh ra do quá trình đốt cháy nhiện liệu – còn được gọi là black carbon đã tạo
ra các hạt siêu nhỏ (nanoparticles)
như các hợp chất carbon hữu cơ, các hợp chất axít như sulfate và nitrate
đây:
Trang 9 CO2 là chất cấu tạo bình thường của khí quyển Nồng độ 380ppm, nhưng không ổnđịnh mà tăng liên tục Chủ yếu là do người ta dùng nhiên liệu hóa thạch để tạo năng lượng.Tổng số năng lượng tạo ra trên thế giới đã vượt 11 tỉ tấn đương lượng carbon, mà 9/10 là từnhiên liệu hóa thạch
hoá số nhiên liệu trên lớn cỡ nào Ước lượng có 21 tỉ tấn CO2 thải vào khí quyển Việc sửdụng nhiên liệu hoá thạch ngày càng tăng hơn một thế kỷ nay đã làm xáo trộn chu trìnhcarbon Con người đã làm cản trở sự cân bằng động giữa lượng CO2 thải ra (hô hấp, lênmen, núi lửa) và lượng hấp thu (quang hợp và trầm tích) Các nhân tố ổn định sự cân bằngkhông còn hữu hiệu, lượng CO2 từ 268ppm vào thế kỷ trước đã lên đến 380ppm như hiệnnay Sự xáo trộn chu trình carbon do hoạt động của chúng ta là một hiện tượng sinh thái họcđáng quan tâm hàng đầu vì các hậu quả của nó có thể dự kiến được
Trong điều kiện tự nhiên, CO có hàm lượng rất nhỏ, khoảng 0,1 - 0,1 ppm Nguồngốc tự nhiên của nó còn chưa biết hết Núi lửa, sự dậy men ở môi trường hiếm khí, sấmchớp, cháy rừng là nguồn chủ yếu của CO Các sinh vật biển cũng có vai trò đáng kể Cáctảo nâu như Fucus và Neocystis, sứa Physalia physalis và các sứa ống khác cũng có chứa
CO với lượng đáng kể Ngoài ra thực vật cũng tạo ra CO khi các tinh dầu thực vật bị oxydhoá Mặc dù vậy, sự đốt nhiên liệu do con người vẫn là nguồn ô nhiễm chủ yếu Ðộng cơ xehơi là nguồn thải chính của CO Chỉ riêng thành phố có đến hơn 67 triệu tấn khí CO thải vàokhông khí do xe cộ hàng năm
5 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí do giao thông
hại đến môi trường về con người
giảm độ trong suốt của khí quyển, tức là làm giảm bớt tầm nhìn So với các vùng nông thôn,
ở các vùng đô thị khi bức xạ mặt trời chiếu xuống nhỏ hơn các vùng nông thôn 15-20% thì
Trang 10có thể làm giảm ánh sang tự nhiên 1/3 về mùa hè và 2/3 về mùa đông, làm giảm độ nhìn thấy
và giảm độ tương phản giữa vật và nền Với nồng độ bụi khoảng 0,1 mg/m3 thì tầm nhìn xachỉ còn 12km (trong khi đó, tầm nhìn xa lớn nhất là 36km và nhỏ nhất là 6km) Làm giảm độnhìn thấy sẽ nguy hiểm cho các phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ cũng nhưđường không Loại ô nhiễm này còn gây tác hại làm gỉ kim loại khi không khí ẩm ướt, ănmòn và làm bẩn nhà cửa… đặc biệt là gây tác hại đối với thiết bị và mối hàn điện Đặc biệtcác phần tử nhỏ bé trong môi trường do hoạt động giao thông vận tải gây ra ở dạng các hợpchất cacbua hydro thơm là tác nhânlà tác nhân gây bệnh ung thư cho người cũng như gâybệnh hen suyễn, viêm cuốn phổi, bệnh khí thũng và bệnh viêm cơ phổi
tác hại gì đáng kể, nhưng nếu lượng đó lên đến 0,8 ppm thì sẽ phát sinh bệnh thiếu máu,hồng cầu giảm rõ rệt gây rối loạn đối với thận Đối với trẻ em, nồng độ chì 0,6 ppm trongmáu đã có thể gây ngộ độc
bị thiếu oxygène Nạn nhân bị tử vong khi 70% số hồng cầu bị khống chế (khi nồng độ COtrong không khí lớn hơn 1000ppm) Ở nồng độ thấp hơn, CO cũng có thể gây nguy hiểm lâudài đối với con người: khi 20% hồng cầu bị khống chế, nạn nhân bị nhức đầu, chóng mặt,buồn nôn và khi tỉ số này lên đến 50%, não bộ con người bắt đầu bị ảnh hưởng mạnh
người ta đã xác định được vai trò của benzen trong căn bệnh ung thư máu (leucémie) khinồng độ của nó lớn hơn 40ppm hoặc gây rối loạn hệ thần kinh khi nồng độ lớn hơn 1g/m3,đôi khi nó là nguyên nhân gây các bệnh về gan
bị oxy hóa thành H2SO4 và muối amonium rồi đi theo đường hô hấp vào sâu trong phổi.Mặt khác, SO2 làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể và làm tăng cường độ tác hại của cácchất ô nhiễm khác đối với nạn nhân
Trang 11- Theo nhiều nghiên cứu ngoài ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của con người còn gây
ra các thiệt hại to lớn khác như giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng tới hệ sinh thái, hưhỏng thiết bị, suy giảm tuổi thọ công trình và làm mất mỹ quan cơ sở hạ tầng
CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VỀ TP.HCM VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ
GIAO THÔNG
1 Đặc điểm chung về TP Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh có hình dạng kéo dài từ hướng Tây Bắc đến Đông Nam,nằm trong toạ độ địa lý 10038 – 11010 vĩ Bắc và 106022 – 106055 kinh Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và Bình Dương
- Phía Đông giáp Đồng Nai và Biển Đông
- Phía Nam và Tây Nam giáp Long An
- Phía Tây giáp Đồng Bằng Sông Cửu Long
Khoảng cách dài nhất của Thành phố là 150 km tính từ Huyện Củ Chi đến HuyệnCần Giờ Khoảng rộng nhất của Thành phố là 50 km, tính từ quận Thủ Đức đến Huyện BìnhChánh Tổng diện tích đất tự nhiên của Thành phố là 2095 km2, trong đó khu vực nội thànhgồm 19 quận (quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Tân Bình, Bình Tân, Bình Thạnh và
Gò Vấp), với diện tích là 141,34 km2 (chiếm 5,64% tổng diện tích) Khu vực mới phát triểngồm 5 quận (quận 2, 7, 9, 12, Thủ Đức) cùng với 5 Huyện ngoại thành (Bình Chánh, HốcMôn, Củ Chi, Nhà Bè và Cần Giờ), chiếm toàn bộ diện tích còn lại
Địa hình bằng phẳng thấp dần về phía Nam và Đông Nam Phía Bắc thành phố cónhiều đồi gò, phía Nam và phía Tây có nhiều đầm lầy và sông rạch Thành phố có cao độmặt đất trung bình 8,8m so với mực nước biển
Trang 122 Hiện trạng giao thông của TP Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2095 km2, dân cư khoảng gần 9 triệu người Sựphát triển của đô thị ở mức nhanh, dân số tiếp tục gia tăng cơ học, nhiều khu công nghiệpđược hình thành và phát triển… Mật độ dân cư khu vực nội thành đã vượt 30.000người/km2: cao nhất là các quận 5 (62.000 người/km2), quận 4 (56.000 người/km2), quận 3(55.000 người/km2), quận 11 (52.000 người/km2)… Mức phát triển của dân cư và kinh tế đãvượt trôi hơn sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quátrình giao thông và chất lượng môi trường đô thị
Giao thông đô thị đang gặp nhiều khó khăn: mạng lưới giao thông thành phố hiện naychất lượng kỹ thuật còn thấp, phương tiện vận tải lạc hậu, quỹ đất dành cho giao thôngchiếm tỷ lệ nhỏ, hệ thống giao thông trên các đường phố đã bị quá tải do nhu cầu giao thôngđang ngày càng tăng nhanh…
Nhiều điểm quan trọng trong mạng lưới giao thông đô thị đã bị ách tắc giao thôngtrong giờ cao điểm, mật độ đi lại hằng ngày rất lớn trong dòng xe hỗn hợp trên đường phốđang đe doạ an toàn giao thông Mạng lưới giao thông đang cần thiết phải được quy hoạchphát triển hoàn chỉnh và cải tạo xây dựng để đáp ứng nhu cầu đô thị Qua kết quả khảo sát,
có 55 đoạn đường phố trong nội thành có lưu lượng đi lại trên 10.000 lượt người giờ caođiểm, vượt qua khả năng chuyển chở của một xe buýt
Giao thông công cộng là lĩnh vực tiện ích đô thị đã giảm sút tới một tỷ lệ quá thấp,chỉ đáp ứng khoảng 2-3% nhu cầu vận tải công cộng thành phố Lưu thông trong thành phốchủ yếu bằng xe gắn máy, xe đạp… tạo nên môi trường giao thông hỗn hợp, thiếu văn minhgây nên tai nạn nhiều, tình trạng ô nhiễm không khí, khói bụi tiếng ồn trong đô thị, nạn áchtắc giao thông trên các đường phố đang phát triển
3 Hiện trạng các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động giao thông tại TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2095 km2, dân cư gần 9 triệu người Với tốc độgia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, ý thức người dân kém…, Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường