(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội(Luận án tiến sĩ) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGÔ THANH MAI
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế (Phân bố Lực lượng Sản xuất và Phân vùng Kinh tế)
Mã số: 62340410
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS LÊ THU HOA
2 PGS.TS NGUYỄN DANH SƠN
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Trang 3Lời cảm ơn đầu tiên xin phép được gửi đến bố mẹ, chồng, và hai con Anh Tâm
- Gia Huy đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi có thể vững bước, chuyên tâm vào công việc nghiên cứu
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thu Hoa và PGS.TS Nguyễn Danh Sơn đã tận tình hướng dẫn chuyên môn, gợi mở những hướng đi, giới thiệu tài liệu tham khảo, tạo điều kiện để tôi tham gia các buổi hội thảo, giúp tôi hoàn thành luận án
Lời cảm ơn chân thành tôi xin được trân trọng gửi tới Ban Lãnh đạo, Thạc sĩ Khánh Ngọc, Tuyết Nhung và các cán bộ của Viện Đào tạo Sau đại học đã hỗ trợ rất nhiệt tình về các thủ tục hành chính trong thời gian học tập và hoàn thành luận án
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Khoa và Bộ môn Kinh tế - Quản lý Tài nguyên và Môi trường, các anh chị em đồng nghiệp đã tạo điều kiện và hỗ trợ nhiệt tình về chuyên môn
Lời cảm ơn sâu sắc xin được gửi đến em Hà, chị Nga ở HTX Thành Công, chị Thuở Hội phụ nữ xã Sài Sơn và em Phạm Ngọc Toàn - Viện Khoa học Lao động và
Xã hội đã cung cấp thông tin và hỗ trợ xử lý dữ liệu
Cuối cùng, lời tri ân tôi xin được gửi đến chị Mai Hoa, bạn Thanh Huyền và em Đinh Đức Trường - những người chị, người bạn, người em của tôi dưới mái nhà ĐH Kinh tế Quốc dân - đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ những thời khắc khó khăn nhất để tôi có thể hoàn thành luận án của minh
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn./
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 15
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
5 Kết cấu của Luận án 17
6 Những đóng góp mới của Luận án 18
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 20
1.1 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 20
1.1.1 Khái niệm và ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị 20
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của quản lý chất thải rắn đô thị 23
1.1.3 Lý thuyết quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững 25
1.2 Quản lý dựa vào cộng đồng 27
1.2.1 Khái niệm cộng đồng và quản lý dựa vào cộng đồng 27
1.2.2 Đặc điểm và điều kiện của quản lý dựa vào cộng đồng 28
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình quản lý dựa vào cộng đồng 30
1.2.4 Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng 32
1.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 33
1.3.1 Khái niệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 33
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 34
1.3.3 Lý thuyết về hành động tập thể 36
1.4 Kết luận chương 1 40
Trang 5CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Quy trình thực hiện luận án 41
2.2 Nguồn dữ liệu 41
2.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp 41
2.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp 43
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 48
2.3.1 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 48
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững cho mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 53
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng 58
2.3.4 Các phương pháp phân tích và xử lý số liệu khác 61
2.4 Kết luận chương 2 62
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63
3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Thành phố Hà Nội 63
3.1.1 Tăng trưởng kinh tế 63
3.1.2 Đô thị hóa và gia tăng dân số 65
3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội 66
3.2.1 Khối lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị 66
3.2.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị 67
3.2.3 Hiện trạng phân đoạn thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị 68
3.2.4 Hiện trạng phân đoạn vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị 70
3.2.5 Hiện trạng phân đoạn xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 70
3.2.6 Hiện trạng phân đoạn tái chế chất thải rắn sinh hoạt đô thị 72
3.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 73
3.3.1 Xã hội hóa - chủ trương đặt nền tảng cho các sáng kiến dựa vào cộng đồng 73
3.3.2 Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội 75
Trang 63.4 Phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội 82
3.4.1 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh kinh tế 82
3.4.2 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh xã hội 87
3.4.3 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh môi trường 97
3.4.4 Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh thể chế/quản lý 100
3.5 Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững của 2 mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 104
3.5.1 Tính toán các chỉ số riêng biệt 104
3.5.2 Tính toán các chỉ số thành phần 108
3.5.3 Tính toán chỉ số tổng hợp bền vững 109
3.6 Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 112
3.6.1 Thống kê mô tả mẫu điều tra trên 2 địa bàn nghiên cứu 112
3.6.2 Kết quả ước lượng mô hình 115
3.7 Kết luận chương 3 119
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNg THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 120
4.1 Căn cứ đề xuất định hướng và khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội 120
4.1.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 120
4.1.2 Quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 122
4.1.3 Cơ chế, chính sách đối với quản lý chất thải rắn và vấn đề xã hội hóa 125
4.1.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội 132
4.2 Định hướng hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững 137
4.2.1 Nguyên tắc trong hoạch định và xây dựng chính sách 137
4.2.2 Định hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng 137
Trang 74.2.3 Định hướng xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách 138
4.3 Một số khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững 138
4.3.1 Khuyến nghị về cơ chế chính sách 139
4.3.2 Khuyến nghị về kinh tế 140
4.3.3 Khuyến nghị về quản lý 143
4.3.4 Khuyến nghị về nâng cao nhận thức cộng đồng 145
4.4 Kết luận chương 4 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 163
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ Môi trường
CBOs Tổ chức dựa vào cộng đồng - (Community-Based Organizations)
CTRĐT Chất thải rắn đô thị
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
CTRSHĐT Chất thải rắn sinh hoạt đô thị
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
HHCC Hàng hóa Công cộng
NGOs Tổ chức phi Chính phủ - (Non-Government Organizations) NSNN Ngân sách Nhà nước
QLCT Quản lý chất thải
QLCTR Quản lý chất thải rắn
QLCTRĐT Quản lý chất thải rắn đô thị
QLCTRSH Quản lý chất thải rắn sinh hoạt
QLCTRSHĐT Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
QLDVCĐ Quản lý dựa vào cộng đồng
URENCO Công ty Môi trường Đô thị
VHLSS Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam
WTP Sẵn lòng chi trả
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin chung về địa bàn điều tra năm 2016 45
Bảng 2.2: Quy mô của mẫu điều tra 47
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng 51
Bảng 2.4: Giá trị tối đa, giá trị tối thiểu và giá trị thực tế của các chỉ tiêu 55
Bảng 3.1: Thành phần CTRSHĐT phát sinh ở thành phố Hà Nội 67
Bảng 3.2: Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được tái chế ở một số đô thị Châu Á 73
Bảng 3.3: Doanh thu và chi phí hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSHĐT ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 83
Bảng 3.4: Lý do không nộp phí vệ sinh từ phía hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 85
Bảng 3.5: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về mức phí vệ sinh 86
Bảng 3.6: Mức độ hài lòng hộ gia đình về phương thức thu phí vệ sinh 87
Bảng 3.7: Tỷ lệ lao động địa phương ở tổ đội thu gom xã Sài Sơn năm 2016 88
Bảng 3.8: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về dịch vụ thu gom CTRSHĐT 89
Bảng 3.9: Mức độ thường xuyên nhận các thông tin về đặc điểm dịch vụ thu gom CTRSHĐT 91
Bảng 3.10: Mức độ thường xuyên được tham vấn về dịch vụ thu gom CTRSHĐT 92
Bảng 3.11: Mức độ thường xuyên thảo luận và góp ý kiến về các dịch vụ QLCTRSHĐT 93 Bảng 3.12: Mức độ thường xuyên cùng thực hiện các quy định về QLCTRSHĐT 94
Bảng 3.13: Mức độ thường xuyên cùng chịu trách nhiệm và thực hiện các hoạt động QLCTRSHĐT 95
Bảng 3.14: Nhận thức của hộ gia đình về tầm quan trọng của hệ thống QLCTRSHĐT và tác động của CTRSHĐT 96
Bảng 3.15: Tỷ lệ thu gom CTRSHĐT tại phường Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 98 Bảng 3.16: Hệ thống số liệu các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 106
Bảng 3.17: Các chỉ số thành phần của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 108
Bảng 3.18: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 109
Bảng 3.19: Phân bố hộ gia đình theo mức sẵn lòng chi trả ở Nhân Chính và Sài Sơn 113
Bảng 3.20: Mô tả thống kê các biến sử dụng trong mô hình 114
Trang 10Bảng 3.21: Kết quả ước lượng mô hình sẵn lòng chi trả 115
Bảng 3.22: Hệ số tương quan và R2 cho các mô hình 116
Bảng 3.23: Mức sẵn lòng chi trả bình quân của hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 118
Bảng 4.1: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hà Nội và cả nước giai đoạn 2011 - 2030 121
Bảng 4.2: Dự báo dân số Thành phố Hà Nội đến năm 2020 và 2030 121
Bảng 4.3: Dự báo khối lượng chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2050 123
Bảng 4.4: Mục tiêu quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2030 124
Bảng 4.5: Nguồn vốn cho Quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội 125
Bảng 4.6: Phân tích SWOT đối với mô hình kết hợp giữa Cộng đồng và Công ty/ 132
HTX dịch vụ môi trường 132
Bảng 4.7: Phân tích SWOT đối với mô hình Cộng đồng tự tổ chức với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương 135
Bảng 4.8: Tỷ lệ phí vệ sinh trung bình so với thu nhập của hộ gia đình ở 141
Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 141
Bảng 4.9: Mức phí thu gom CTR ở một số thành phố trên thế giới năm 2010 142
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Ảnh hưởng của CTRSHĐT đến môi trường và sức khoẻ của con người 23
Hình 1.2: Quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững 26
Hình 1.3: Các mức độ tham gia của cộng đồng 33
Hình 1.4: Mô hình hợp tác giữa Doanh nghiệp tư nhân và Tổ chức dựa vào 35
cộng đồng (CBOs) 35
Hình 1.5: Mô hình hợp tác giữa Chính quyền địa phương và Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs) 35
Hình 1.6: Mô hình kết hợp giữa NGOs và CBOs 36
Hình 1.7: Khung phân loại dịch vụ CTRSH 37
Hình 2.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu luận án 41
Hình 2.2: Quy trình xây dựng chỉ tiêu 48
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 -2016 63
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng theo ngành ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006-2016 64 Hình 3.3: Quy mô dân số ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 65
Hình 3.4: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở Thành phố Hà Nội 66
Hình 3.5: Chủ thể tham gia các phân đoạn trong QLCTRSHĐT ở thành phố Hà Nội 71 Hình 3.6: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính 79
Hình 3.7: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở xã Sài Sơn 82
Hình 3.8: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn 109
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Chất thải rắn (CTR - Solid Waste) là một bộ phận tất yếu, "đồng hành" với quá
trình sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế Đối với các quốc gia đang phát triển, chất
thải rắn đô thị (CTRĐT- Municipal Solid Waste) ngày càng tăng nhanh cả về khối lượng
phát sinh và mức độ nguy hại Phát triển kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa mạnh mẽ được xem là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này (UNEP, 2005) Số liệu thống kê năm 2006 cho thấy, mỗi năm trái đất sẽ tiếp nhận 2 tỷ tấn CTRĐT, tương đương với khối lượng 300kg/người/năm Đến năm 2025, khối lượng CTRĐT sẽ đạt 5,9
tỷ tấn/năm, tương đương với 59 tỷ m3, đủ để trải khắp diện tích đất nước Costarica với độ sâu 1 mét (UN-Habitat, 2010b) Trong bối cảnh đó, quản lý chất thải rắn đô thị (QLCTRĐT) trở thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong hệ thống quản lý môi trường ở các quốc gia Schubeler (1996) đã khẳng định: "phát sinh CTRĐT và cầu đối với dịch vụ thu gom CTRĐT đang thực sự là một vấn đề cấp bách đi kèm với tiến trình phát triển"
Nhiều học giả cho rằng hệ thống QLCTRĐT ở các nước đang phát triển phải đối mặt với một số khó khăn và thách thức Thứ nhất, hệ thống QLCTRĐT ở các nước này bị giới hạn về nguồn lực tài chính, năng lực con người và hệ thống luật pháp chồng chéo (Hoornweg, 2000) Vì vậy, khả năng cung cấp dịch vụ và kết quả hoạt động QLCTRĐT rất hạn chế Theo Pacione (2005), có khoảng 1/3 đến 1/2 lượng rác thải không được thu gom ở các nước thế giới thế 3 Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở các khu vực ven đô và vùng nông thôn Phần rác thải không được thu gom có thể phá huỷ cảnh quan, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người
Thứ hai, hệ thống QLCTRĐT chưa đánh giá đúng và tích hợp vai trò của các
chủ thể khác, như: doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs - Community Based Organizations) tham gia vào hoạt động QLCTRĐT Ở các đô thị mà vai trò và sự tham gia của các chủ thể được thừa nhận, khẳng định thì hoạt động QLCTRĐT được cải thiện hơn nhiều (Furedy, 1989) Có thể thấy, kết quả thực thi chưa
ấn tượng và những thách thức mà hệ thống QLCTRĐT phải đối mặt đang đặt ra những yêu cầu thay đổi cho hệ thống này Câu hỏi đặt ra là: cách thức QLCTRĐT truyền thống
mà các quốc gia đang áp dụng trong nhiều thập kỷ qua đã đúng hướng chưa và liệu có cần một sự thay đổi nào không?
Quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ - Community-based Management) là
cách tiếp cận được một số nhà khoa học gợi mở từ các nghiên cứu học thuật cũng như
thực tế từ cuối thập kỷ 80 (Whande, 2007) Đây là cách tiếp cận từ dưới lên
Trang 13(Bottom-up) và nhấn mạnh đến vai trò của người sử dụng, khuyến khích các thành viên trong cộng đồng tham gia hoạt động quản lý một cách chủ động và nhận trách nhiệm từ lập
kế hoạch, thực hiện, đến giám sát các nội dung của hệ thống quản lý Dưới góc độ chính sách, cách tiếp cận này sẽ làm giảm gánh nặng cho khu vực Chính phủ khi cung ứng hàng hóa, dịch vụ công trước cuộc khủng hoảng tài khóa và các chương trình thay đổi cơ cấu Trao quyền quản lý cho địa phương trở thành một hướng đi đúng đắn trong bối cảnh này (Rasmussen, 1995)
Ở Việt Nam, QLCRĐT - đặc biệt là quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị (QLCTRSHĐT) đã thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội Năm
2015, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trên cả nước là 23 triệu tấn/năm Tại các vùng đô thị, nơi chiếm khoảng 30% dân số cả nước, mỗi năm phát sinh gần 14 triệu tấn CTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2017) Trước áp lực phải quản lý khối lượng CTRSHĐT khá lớn, các thành phố đều xác định đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên, hệ thống QLCTRSHĐT đang gặp nhiều khó khăn do sự hữu hạn về thiết bị, về nguồn vốn, khung pháp lý còn thiếu và đặc biệt sự tham gia của cộng đồng còn mờ nhạt, chưa đúng với tiềm năng thực tế của chủ thể này (Bộ TN&MT, 2004) Nhận thức được bất cập đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chủ trương xã hội hóa (XHH) trong công tác Bảo vệ môi trường (BVMT) Ý tưởng của chủ trương này là huy động nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia vào sự nghiệp BVMT của đất nước Đây có thể coi là một hoạch định chính sách đúng đắn của Chính phủ trong bối cảnh khu vực công đang gặp nhiều khó khăn trong QLCTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2011)
Cũng như nhiều đô thị khác trên thế giới, thủ đô Hà Nội đã và đang phải đối mặt với vấn đề QLCTRSHĐT do kết quả của quá trình gia tăng dân số, đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Tiếp nối và cụ thể hóa chủ trương XHH của Chính phủ, Hà Nội được đánh giá là một (1) trong hai (2) địa phương đi đầu trong hoạt động này (Bộ TN&MT, 2004) Ngay từ cuối thập kỷ 90, thành phố đã triển khai chương trình XHH trong QLCTR nói chung và QLCTRSHĐT nói riêng Hàng loạt công ty tư nhân được thành lập và tham gia vào phân đoạn cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển
CTRSHĐT Hàng chục mô hình dựa vào sáng kiến của cộng đồng (Community-based Initiatives) đã được ra đời, tự hoạt động, tự quản lý ở nhiều khu vực Có thể kể đến mô hình thu gom, vận chuyển rác ở phường Nhân Chính, xã Sài Sơn, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng Các chương trình XHH đã chia sẻ trách nhiệm QLCTRSHĐT với Chính phủ và đem lại những kết quả tích cực ban đầu Tuy vậy, trải qua một thời gian vận hành, các mô hình QLDVCĐ đã bộc lộ những bất cập và hạn chế Vai trò,
Trang 14mức độ tham gia của cộng đồng còn yếu và chưa rõ nét; nhiều mô hình gặp khó khăn
về tài chính khi nguồn thu từ cộng đồng không đủ để chi trả cho cung ứng dịch vụ QLCTRSHĐT; mô hình chưa có vị thế rõ ràng, chưa có văn bản pháp lý đầy đủ và hoàn thiện để thúc đẩy phát triển Trong bối cảnh đó, việc phân tích và đánh giá mô hình QLDVCĐ là điều cần thiết để đề xuất các giải pháp vận hành, hoàn thiện mô hình theo hướng bền vững
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
2.1 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn
Đã từ lâu, QLCTR nói chung và QLCTRĐT nói riêng là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Các nghiên cứu về QLCTR được thực hiện ở nhiều quốc gia, thành phố với nhiều nội dung hết sức đa dạng, phong phú Trên bình diện lớn, có thể nhận thấy bốn (4) mảng nội dung chính được các học giả tập trung nghiên cứu Cụ thể như sau:
• Một là, nhóm các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích hiện trạng phát
sinh, thu gom, xử lý chất thải ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển
Nghiên cứu của UN-Habitat (2010a) cho thấy khó khăn lớn nhất mà các thành phố/q uốc gia đang phát triển phải đối mặt trong QLCTRĐT là: tỷ lệ thu gom thấp, phương thức xử lý CTRSHĐT chưa đúng kỹ thuật và an toàn Theo nhiều nghiên cứu,
tỷ lệ thu gom CTRĐT ở các thành phố lớn chỉ đạt 30-50%, tỷ lệ này còn thấp hơn ở các thành phố nhỏ và khu vực ven đô (Hardoy và cộng sự, 2001; UN-Habitat, 2010a) Các tác giả cũng đã bình luận việc thiếu quy định về QLCTRĐT và điều kiện môi trường ô nhiễm ở các thành phố này Miêu tả một bức tranh tương tự, nghiên cứu của Worldbank (2012) ước tính rằng: trong một số trường hợp, 60% CTR phát sinh tại đô thị các nước
có thu nhập thấp không được thu gom Vấn đề này nổi bật và tập trung rõ nét ở các quốc gia thuộc khu vực châu Phi và châu Á
Ở khu vực châu Phi, trong nghiên cứu "Định hướng tương lai về QLCTR ở châu
Phi", Mohee, R và cộng sự (2015) đã thừa nhận tình trạng QLCTRĐT hết sức yếu kém
ở châu lục này Tỷ lệ thu gom ở các thành phố lớn đạt xấp xỉ 50%; ở khu vực ven đô, tỷ
lệ này còn đáng lo ngại hơn nhiều với con số là 10% Tình hình xử lý CTRĐT ở Lusaka, Zambia cũng được cho là xấu với 90% rác thải hàng ngày bị bỏ lại, tiềm ẩn các tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng (Hardoy và cộng sự, 2001) Tại Kinshasa (Congo), phần lớn rác thải phát sinh ở trên đường, trên các bãi rác bất hợp pháp, trong các kênh thoát nước mưa hoặc được chôn lấp ở các khu đất trống (Hardoy và cộng sự, 2001)
Trang 15Năm 2007, một nghiên cứu về hiện trạng QLCTRĐT ở 11 nước của Trung tâm Năng suất Châu Á (APO, 2007) nhấn mạnh: QLCTRĐT là một thách thức lớn ở các thành
phố Nghiên cứu chỉ rõ: "mặc dù bỏ ra chi phí rất lớn cho QLCTR, các đô thị ở 11 nước vẫn
đang phải vật lộn với những thách thức ngăn chặn suy thoái môi trường do hoạt động không hiệu quả của hệ thống này QLCTRĐT trở thành một vấn đề quan trọng và cần phải được giải quyết thông qua cách tiếp cận tổng hợp, dựa vào cộng đồng và khu vực tư nhân"
Tại Sri Lanka, trung tâm hỗ trợ QLCTR quốc gia (NSMSC) (2008) đã nhận định QLCTR là một vấn đề lớn ở các thành phố của Sri Lanka Theo đó, tỷ lệ thu gom trung bình ở quốc gia này chỉ đạt 23% Tác giả đã mô tả thủ đô Colombo "đối mặt với một tình huống khủng hoảng" khi phải xử lý khoảng 1.500 tấn CTR mỗi ngày
Trong nghiên cứu "Quản lý chất thải rắn tại Trung Quốc: Tình trạng, các vấn
đề và thách thức", Dong QingZhang và các cộng sự (2010) đã nhận xét: Trung Quốc đang chứng kiến sự tích tụ nhanh chóng của rác thải đô thị như là kết quả của quá trình CNH, đô thị hóa và gia tăng dân số 668 thành phố của nước này tạo ra khoảng 212 triệu tấn rác thải mỗi năm, chiếm khoảng một phần ba tổng lượng CTR trên thế giới, trong đó có khoảng 148 triệu tấn được thu gom và chôn lấp; lượng rác thải còn lại tồn đọng trong môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và mỹ quan thành phố
Ở Việt Nam, hiện trạng QLCTRĐT được phác họa khá rõ nét qua 02 báo cáo quốc gia chuyên biệt về CTR do Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) ấn bản
năm 2004 và 2011 Theo "Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam - Chất thải rắn", Bộ
TN&MT (2004) dự báo khối lượng CTR sẽ tăng lên nhanh chóng trong bối cảnh phát triển kinh tế và gia tăng dân số Trước áp lực đó, khoảng 83 - 85% lượng chất thải phát sinh được thu gom, còn lại 15 - 17% CTR được thải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố đất, ao hồ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường Trong Báo cáo "Quản lý tổng hợp
CTR ở Việt nam - đề xuất các giải pháp" - dự án CTR Việt Nam do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) hỗ trợ, Hideki Wada (2016) lại đưa ra một bức tranh hơi khác khi cho rằng tỷ lệ thu gom CTRSHĐT ở các tỉnh, thành phố thực tế chỉ đạt 78% Dù đưa
ra số liệu khác nhau, nhưng các báo cáo đều thừa nhận "QLCTRĐT sẽ là một thách thức
to lớn và là một trong những dịch vụ môi trường đặc biệt quan trọng vì những tác động tiềm ẩn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng" (Bộ TN&MT, 2011)
• Hai là, các nghiên cứu về QLCTR đã tập trung chỉ rõ các nguyên nhân/thách
thức mà hệ thống QLCTRĐT ở các quốc gia đang phát triển phải đối mặt
Linden, O và cộng sự (1997) đã xác định 8 mối lo ngại chung mà các quốc gia châu Á đang phải đối mặt trong QLCTRĐT, bao gồm:
Trang 361.1.3 Lý thuyết quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững
1.1.1.3 Khái niệm quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững
Thuật ngữ "Tổng hợp" (Intergrated) lần đầu tiên được đề cập trong quản lý
chất thải rắn (QLCTR) vào cuối thập kỷ 70s (Murray và cộng sự, 1971, trích dẫn trong Wilson, D.C và cộng sự, 2013) Kể từ đó, nhiều học giả sử dụng thuật ngữ này với hàm ý: (1) kết hợp hoặc tổng hợp các bộ phận riêng lẻ để tạo thành một hệ thống tốt; (2) kết hợp những phân đoạn riêng biệt để tạo thành một chu trình; (3) kết hợp mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, văn hóa để tạo vốn xã hội cho sự phát triển bền vững (Klundert, A Van De, 2001)
Năm 1995, chương trình hợp tác về QLCTR ở các nước có thu nhập thấp
do UNDP, UN-Habitat và Ngân hàng Thế giới khởi xướng đã hình thành khung lý thuyết về QLCTR tổng hợp và bền vững Theo đó, QLCTR tổng hợp và bền vững được định nghĩa là "sự lựa chọn và ứng dụng các công nghệ, chương trình quản
lý phù hợp để đạt mục tiêu cụ thể của QLCTR" (Tchobanoglous, 1993 trích dẫn trong Taskanen, 2000) Phương pháp mới này chủ yếu được xây dựng trên tổng thể toàn diện, gồm: tất cả các chủ thể, các yếu tố cấu thành của hệ thống QLCTR
và các khía cạnh để đạt mục tiêu phát triển bền vững (Klundert, A Van De và cộng sự, 2001)
Từ các nghiên cứu của Chương trình chuyên biệt về chất thải đô thị (UWEP - Urban Waste Expertise Program) ở các nước đang phát triển, Bulle (1999) đã cho rằng QLCTR tổng hợp và bền vững cần thực hiện những giải pháp sau:
- Kết nối khu vực tư nhân, chính phủ và cộng đồng Đưa họ một trách nhiệm rõ ràng trên các phân đoạn quản lý khác nhau, từ thu gom đến tái chế chất thải
- Tích hợp các công nghệ được điều chỉnh một cách phù hợp để tạo ra thu nhập
và việc làm
- Quan tâm và xem xét các cộng đồng không được cung cấp dịch vụ CTR ở đô thị
Klundert, A Van De và cộng sự (2001) đã giải thích thuật ngữ "bền vững" và
"tổng hợp" được sử dụng trong QLCTR để nhấn mạnh sự cần thiết của việc tự duy trì
mà không làm ảnh hưởng đến các nguồn lực hiện tại và tương lai
• Thuật ngữ "Bền vững" hàm ý:
- Hệ thống đó phải phù hợp với với điều kiện địa phương, đảm bảo sự hài hòa, cân đối từ góc độ kinh tế, xã hội, tài chính, môi trường, thể chế
Trang 37- Hệ thống đó phải có khả năng tự duy trì trong một thời gian dài mà không làm suy giảm tài nguyên
Hệ thống QLCTR tổng hợp và bền vững cần thiết phải hình thành các mục tiêu
cụ thể và đưa ra các giải pháp phù hợp trong bối cảnh xem xét đầy đủ các nguồn lực/điều kiện của hệ thống Theo Klundert, A Van De và cộng sự (2001), để đạt được tính bền vững, hệ thống đó cần thực thi đầy đủ các nguyên tắc như sau:
Các phân đoạn trong hệ thống chất thải
Phục hồi
Giảm thiểu Tái sử dụng Tái chế
Các chủ thể
• Chính quyền địa phương
• Các tổ chức NGOs/CBOs
• Người sử dụng dịch vụ
• Khu vực tư nhân không chính thức
• Khu vực tư nhân chính thức
Trang 381 Tối đa khả năng tạo việc làm/thu nhập trong cộng đồng
2 Các dịch vụ cung ứng phải làm thỏa mãn, hài lòng người sử dụng
3 Người sử dụng dịch vụ phải tham gia các hoạt động QLCTR
Nguyên tắc
môi trường
1 Tối thiểu hóa ảnh hưởng tiêu cực đến các thành phần môi trường
2 Tăng cường khả năng tái chế/tái sử dụng chất thải theo cách thức phù hợp
Nguyên tắc
thể chế/quản lý
1 Quy định rõ quyền/trách nhiệm của các bên liên quan
2 Tạo cơ chế để các bên liên quan có thể tham gia đầy đủ, công bằng trong mô hình quản lý
3 Tồn tại khung pháp lý hỗ trợ hoạt động của mô hình QLCTR
1.2 Quản lý dựa vào cộng đồng
1.2.1 Khái niệm cộng đồng và quản lý dựa vào cộng đồng
1.2.1.1 Khái niệm cộng đồng
"Cộng đồng" là một khái niệm được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực liên quan đến chính sách xã hội và phát triển cộng đồng Giống như nhiều thuật ngữ khác, hiện vẫn chưa có sự đồng thuận giữa các học giả về khái niệm cộng đồng Một số nhà nghiên cứu định nghĩa cộng đồng thông qua việc xem xét các mối quan hệ trong đó
Chaskin (1997) cho rằng "cộng đồng là sự kết nối giữa những có cùng niềm tin, hoàn cảnh, ưu tiên, mối quan hệ hoặc mối quan tâm chia sẻ" Một số học giả khác coi "cộng đồng là những người ở trong một ranh giới địa lý hoặc nhóm người có cùng sở thích, mục đích, hoặc giá trị" (Falk & Harrison, 1998) Chaskin (1997) lập luận: "cộng đồng
là một nhóm người trong xã hội có các mối liên kết, như: liên kết xã hội (thân nhân, tình bạn và mạng lưới người quen); liên kết chức năng (tiêu dùng và chuyển giao hàng hoá và dịch vụ); liên kết văn hoá (tôn giáo, truyền thống, hoặc sắc tộc" Như vậy, dù
là cộng đồng địa lý hay cộng đồng các mối quan tâm thì các học giả đều thừa nhận ở trong cộng đồng tồn tại một mối liên kết để tạo ra cơ hội nhận diện nhóm và tạo ra cơ hội cho các hoạt động tập thể
Bray (1996) định nghĩa cộng đồng là "một nhóm người sống trong một khu vực địa
lý cụ thể (xã, thôn, huyện,) cùng có một vài giá trị chung, cùng đối diện những thách thức chung mặc dù họ có thể khác nhau về nền tảng, kinh nghiệm và kỹ năng"
Trang 39Anschutz, J., (1996) định nghĩa "cộng đồng bao gồm những người sống cùng nhau trong một số hình thức tổ chức xã hội và sự gắn kết Mặc dù có sự khác nhau về đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá, nhưng các thành viên trong cộng đồng cùng có khả năng tiếp cận, sử dụng và mối quan tâm tới dịch vụ môi trường".
Điểm chung của các tác giả đều cho rằng: cộng đồng là "một tập hợp công dân cư
trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích chung, cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống và sự phát triển của cộng đồng". Định nghĩa này về cộng đồng phù hợp để tác giả áp dụng vào bối cảnh QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng bởi lẽ dân cư ở đây được phân bố theo đơn
vị hành chính (phường, xã), có ranh giới địa lý rõ ràng, có những lợi ích chung về bảo
vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đảm bảo sự hài hòa, cân đối từ góc độ kinh
tế, xã hội, môi trường, thể chế/ quản lý
1.2.1.2 Khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng
Hiện nay, khái niệm Quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ) được nhiều tác giả
và tổ chức đưa ra với những quan điểm khác nhau tùy thuộc vào đối tượng quản lý
Trong lĩnh vực tài nguyên, theo Christie, P.(1997), QLDVCĐ là "quá trình khuyến khích người sử dụng tài nguyên và các thành viên trong cộng đồng tham gia quản lý một cách chủ động và chịu trách nhiệm về tài nguyên". Cách tiếp cận này dựa trên giả định rằng: nếu được giao trách nhiệm, thì những người sử dụng tài nguyên ở địa phương sẽ quản
lý nguồn lực của họ theo cách bền vững và thực thi các quy tắc hướng về cộng đồng
Trong lĩnh vực môi trường, Douglass và các cộng sự (1994) định nghĩa:
"QLDVCĐ là những hành động thực thi của hộ gia đình để cải thiện điều kiện môi trường và các nỗ lực tập thể của họ nhằm tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực và giảm thiểu rủi ro về sức khỏe" Định nghĩa này nhấn mạnh nhiều đến mục tiêu cải thiện môi trường địa phương và sử dụng các dịch vụ môi trường cơ bản của thành phố
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát QLDVCĐ là hình thức quản lý có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng và được hưởng lợi từ việc tham gia quản lý đó (Phạm Phương Nam, 2015)
Như vậy, cộng đồng là trọng tâm trong quản lý, bắt đầu tham gia từ lên kế hoạch thực hiện, triển khai thực hiện, nhật xét, đánh giá sau khi kết thúc thực hiện QLDVCĐ
là hình thức quản lý từ dưới lên (bottom-up) và được thực hiện theo nhu cầu, nguyện
vọng của chính cộng đồng
1.2.2 Đặc điểm và điều kiện của quản lý dựa vào cộng đồng
Theo Phạm Phương Nam (2015), mô hình QLVCĐ có những đặc điểm và điều kiện như sau:
Trang 40• Đặc điểm của quản lý dựa vào cộng đồng
- Thứ nhất, QLDVCĐ có ba khía cạnh chính là trách nhiệm, quyền lực và kiểm soát Cộng đồng có trách nhiệm quản lý, khai thác nguồn lực, đồng thời có quyền kiểm soát và quyền đưa ra các quyết định trong quá trình quản lý, khai thác nguồn lực để
đạt hiệu quả cao nhất
- Thứ hai, sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể
của địa phương, quy mô của cộng đồng, pháp luật của nhà nước, thể chế và năng lực địa phương, công nghệ được sử dụng trong quản lý
- Thứ ba, QLDVCĐ không hàm ý cộng đồng phải tham gia mọi khía cạnh của
quản lý, họ có thể tham gia một, một số hay tất cả công việc liên quan đến quản lý tùy theo điều kiện cụ thể của cộng đồng
- Thứ tư, cộng đồng đóng vai trò trung tâm và chủ động trong quá trình quản lý,
tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch, đề xuất và thực hiện các giải pháp trong quản
lý tài nguyên
- Thứ năm, cộng đồng được quyền tự chủ, tự quyết về nhân lực, tài chính
- Thứ sáu, quản lý tài nguyên phục vụ, gắn trực tiếp đời sống của cộng đồng hướng
tới cải thiện chất lượng cuộc sống cộng đồng, phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
- Thứ bảy, QLDVCĐ là quá trình liên tục phát triển, được cập nhật, điều chỉnh,
xây dựng trên những kinh nghiệm thực tế đã được đúc kết trong quá trình quản lý và kết hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Thứ tám, sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã đóng vai trò
quan trọng trong QLDVCĐ
• Điều kiện để quản lý dựa vào cộng đồng
- Thứ nhất, cộng đồng cần được biết tham gia quản lý, giám sát việc gì và
được hưởng lợi gì, phải đối diện với những chi phí, rủi do gì… Do vậy, cần tuyền truyền, phổ biến để cộng đồng nhận thức được trách nhiệm phải bảo vệ tài nguyên
môi trường
- Thứ hai, cộng đồng cần được tự quản, không bị áp đặt, ép buộc Ban tự quản
do chính cộng đồng lựa chọn
- Thứ ba, cộng đồng tự nguyện, đồng thuận trong giải quyết các vấn đề; hợp
tác, trao đổi trong thực thi pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật
- Thứ tư, biện pháp chủ yếu trong QLDVCĐ là thuyết phục, hòa giải để giải
quyết những bất đồng, mâu thuẫn
- Thứ năm, đặc biệt tôn trọng những tri thức truyền thống, bản địa, thừa nhận
giá trị tri thức và hiểu biết bản địa trong quá trình quản lý