1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Về khái niệm tác giả và đồng tác giả của tác phẩm " ppt

5 570 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 128,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chỉ được thừa nhận là tác giả nếu tác phẩm được tạo ra là kết quả của lao động sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học và quyền của họ được bảo vệ theo luật bản quyền

Trang 1

TS Ph¹m V¨n TuyÕt *

ác giả của tác phẩm có thể được phân

loại theo nhiều tiêu chí khác nhau và

với mỗi loại tác giả sẽ có một phạm vi quyền

khác nhau đối với tác phẩm Tuy nhiên, với

điều kiện nào thì sẽ được thừa nhận là tác giả

của tác phẩm? Trong trường hợp nào thì

được xác định là đồng tác giả? Các vấn đề

này hiện còn nhiều ý kiến khác nhau nên

chúng tôi thông qua bài viết này phân tích,

xác định khái niệm tác giả, đồng tác giả, nêu

các ý kiến khác nhau về đồng tác giả và đưa

ra quan điểm riêng của mình về đồng tác giả

với mong muốn đem lại cách nhìn thống

nhất về đồng tác giả

1 Khái niệm về tác giả

Quá trình tạo ra tác phẩm văn học, nghệ

thuật, các công trình khoa học, kĩ thuật là

quá trình hoạt động sáng tạo của cá nhân

Bởi vậy, tác giả của các tác phẩm văn học,

nghệ thuật, các công trình khoa học, kĩ thuật

(gọi chung là tác phẩm) chỉ có thể là những

con người cụ thể khi họ đã bằng lao động

sáng tạo của mình để trực tiếp tạo ra tác

phẩm Chính vì thế, Điều 736 BLDS năm

2005 đã định nghĩa về tác giả như sau:

“1- Người sáng tạo tác phẩm văn học,

nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi chung là

tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó

Trong trường hợp có hai hoặc nhiều

người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những

người đó là các đồng tác giả

2 Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh

từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn

là tác giả của tác phẩm phái sinh đó ”

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định của Chính phủ số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan thì tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm: Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;

cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế

về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế đó

Nhìn chung, chủ thể muốn được công nhận là tác giả cần phải đáp ứng được ba yêu cầu sau đây:

- Phải là người trực tiếp thực hiện các hoạt động sáng tạo để tạo ra tác phẩm Hoạt động sáng tạo của tác giả là kết quả của quá trình lao động trí tuệ để tạo ra các tác phẩm

T

* Ngân hàng công thương Việt Nam

Trang 2

một cách sáng tạo, hay nói cách khác, các

tác phẩm phải là kết quả của hoạt động sáng

tạo được thể hiện trên một hình thái vật chất

hoặc được thể hiện thông qua hình thức nhất

định, có tính độc lập tương đối, mang tính

mới về nội dung, ý tưởng hoặc mang tính

mới về sự thể hiện tác phẩm Tất cả các hoạt

động chỉ nhằm để hỗ trợ như cung cấp kinh

phí, vật chất, phương tiện, tư liệu, góp ý kiến

không được coi là hoạt động sáng tạo nên tổ

chức, cá nhân có những hoạt động này

không được công nhận là tác giả

- Phải có đủ các thông tin xác thực để có

thể xác định được danh tính của tác giả

Người tạo ra tác phẩm phải ghi tên thật hoặc

bút danh của mình trên tác phẩm được công

bố Trước hết, quyền đứng tên tác giả đối với

tác phẩm là một trong các quyền nhân thân

của tác giả đã được quy định tại khoản 2

Điều 738 BLDS và khoản 2 Điều 19 Luật sở

hữu trí tuệ Với quyền này, người sáng tạo ra

tác phẩm có thể lựa chọn về việc có đứng tên

hay không đối với tác phẩm đã tạo ra theo ý

muốn của mình Tuy nhiên, muốn được thừa

nhận là tác giả của tác phẩm nhất định thì

người tạo ra tác phẩm phải cá biệt hoá tác

phẩm bằng cách ghi tên hoặc bút danh của

mình vào tác phẩm để xác định tác phẩm đó

là do mình sáng tạo ra

- Chỉ được thừa nhận là tác giả nếu tác

phẩm được tạo ra là kết quả của lao động

sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ

thuật, khoa học và quyền của họ được bảo vệ

theo luật bản quyền nếu sáng tạo đó thể hiện

dưới dạng tác phẩm Kết quả của lao động

sáng tạo trong lĩnh vực văn học được gọi

chung là tác phẩm văn học bao gồm: văn

xuôi, thơ với nhiều thể loại khác nhau như truyện ngắn, tiểu thuyết, kí sự, tuyển tập, tuyển chọn v.v Kết quả của lao động sáng tạo mang tính nghệ thuật được gọi chung là tác phẩm nghệ thuật, bao gồm các lĩnh vực khác nhau: hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, điện ảnh, sân khấu, nhạc… Kết quả của lao động sáng tạo trong lĩnh vực khoa học được gọi chung là tác phẩm khoa học, bao gồm các công trình nghiên cứu được thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau như bài viết, bài phát biểu, sách, đồ hoạ v.v

Theo đó, có thể định nghĩa về tác giả như sau: Tác giả là người trực tiếp lao động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học để tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm thuộc một trong các lĩnh vực đó

2 Khái niệm đồng tác giả

Đồng tác giả được hiểu là nhiều cá nhân cùng lao động sáng tạo để tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Tuy nhiên, cách hiểu về đồng tác giả hiện nay vẫn chưa

có sự thống nhất Chúng tôi xin nêu hai cách hiểu về đồng tác giả như sau:

a Cách hiểu thứ nhất

Các cá nhân bằng lao động sáng tạo để cùng tạo ra tác phẩm thì họ là đồng tác giả của tác phẩm đó dù sự sáng tạo của mỗi người thuộc một lĩnh vực khác nhau

Theo cách hiểu này thì tất cả các tác phẩm do nhiều người cùng tạo ra đều là tác phẩm chung và phạm vi quyền của mỗi đồng tác giả được xác định như sau:

- Nếu tác phẩm được hình thành do nhiều người cùng sáng tạo trong cùng một lĩnh vực mà tác phẩm đó không phân biệt được phần nào do người nào sáng tạo nên

Trang 3

thì các đồng tác giả có quyền ngang nhau

đối với tác phẩm Trường hợp này là đồng

tác giả không định phần Chẳng hạn như hai

người viết chung một cuốn tiểu thuyết; Bill

Gates và Paul Allen là đồng tác giả của

phần mềm DOS

- Nếu tác phẩm được hình thành do

nhiều người cùng sáng tạo trong cùng một

lĩnh vực mà do kết cấu nên tác phẩm đó có

thể phân biệt được phần sáng tạo của mỗi

người thì mỗi đồng tác giả chỉ được hưởng

quyền đối với phần tác phẩm do mình sáng

tạo nên Trường hợp này là đồng tác giả có

định phần theo chiều ngang tác phẩm

Chẳng hạn nhiều người cùng biên soạn một

cuốn giáo trình

- Nếu tác phẩm do nhiều người cùng

sáng tạo nhưng sự sáng tạo của họ khác nhau

về lĩnh vực sáng tạo thì mỗi đồng tác giả chỉ

được hưởng quyền đối với lĩnh vực do mình

sáng tạo ra Trường hợp này là đồng tác giả

có định phần theo chiều dọc tác phẩm Hay

nói cách khác, đó là “những người cùng

sáng tác ra một tác phẩm thống nhất mà

phần sáng tác của mỗi người có thể tách ra

để sử dụng riêng Vị trí của các đồng tác giả

lúc này sẽ giống như vị trí của những sở hữu

chung theo phần Thí dụ như bài hát “Quê

hương” có hai đồng tác giả: tác giả bài thơ

của Đỗ Trung Quân và tác giả bài nhạc của

Giáp Văn Thạch”.(1) Hoặc khi một bộ phim

(tác phẩm điện ảnh) được hoàn thành thì tất

cả những người lao động sáng tạo để tạo nên

bộ phim đó đều là đồng tác giả nhưng quyền

của mỗi người được xác định theo lĩnh vực

sáng tạo của họ: người viết kịch bản, đạo

diễn, quay phim, dựng phim, âm thanh, ánh

sáng, khói lửa, thiết kế mĩ thuật,…

b Cách hiểu thứ hai

Các cá nhân cùng lao động sáng tạo để cùng tạo ra tác phẩm chỉ được coi là đồng tác giả nếu sự sáng tạo của họ là cùng một lĩnh vực

Theo cách hiểu này thì các tác phẩm do nhiều người cùng sáng tạo ra cần phải phân biệt thành:

- Tác phẩm chung: Là tác phẩm do nhiều người cùng hợp tác trong cùng lĩnh vực sáng tạo để tạo ra tác phẩm Cần phải xác định rằng tác phẩm chung hoàn toàn khác với sách, truyện in chung vì bản thân quyển sách hoặc quyển truyện không phải

là tác phẩm mà chỉ là hình thức vật chất mà trong đó tác phẩm được ấn định (vật mang tin của tác phẩm) Mặt khác, cần phải thấy rằng sự hợp tác giữa các cá nhân trong việc tạo ra tác phẩm có nhiều trường hợp với tính chất khác nhau, trong đó, chỉ được coi

là tác phẩm chung để xác định họ là các đồng tác giả khi sự hợp tác đó là cùng nhau góp sức sáng tạo về cùng lĩnh vực để tạo ra tác phẩm Chẳng hạn, hai người cùng hợp tác sáng tạo để hoàn thành cuốn tiểu thuyết thì cuốn tiểu thuyết đó là tác phẩm chung của họ và họ là đồng tác giả

- Tác phẩm tập thể: Là tác phẩm do

nhiều người cùng lao động sáng tạo để tạo nên tác phẩm đó nhưng sự sáng tạo của họ không cùng lĩnh vực

Theo cách hiểu này thì nếu căn cứ đơn thuần vào số lượng người tạo ra tác phẩm thì tác phẩm chỉ có hai loại là tác phẩm riêng và tác phẩm chung Tuy nhiên, đối với tác phẩm do nhiều người cùng tạo ra thì cần

Trang 4

phải dựa vào lĩnh vực sáng tạo của họ để xác

định chính xác tác phẩm đó là tác phẩm

chung hay tác phẩm tập thể Như đã nói, chỉ

là tác phẩm chung khi sự sáng tạo trong hợp

tác là cùng loại, vì thế có những tác phẩm

được tạo ra do sự hợp tác trong sáng tạo của

nhiều người nhưng vẫn không phải là tác

phẩm chung vì sự sáng tạo của mỗi người

thuộc một lĩnh vực khác nhau Chẳng hạn,

để hoàn thành bộ phim phải có sự sáng tạo

của rất nhiều người trong rất nhiều lĩnh vực

khác nhau như người viết kịch bản, đạo diễn,

quay phim, dựng phim, âm thanh, ánh sáng,

khói lửa, thiết kế mĩ thuật… nhưng không

thể coi bộ phim là tác phẩm chung Tất cả

những người đó không được coi là đồng tác

giả của bộ phim

Mặc dù vậy, bộ phim là tác phẩm điện

ảnh, là sản phẩm lao động sáng tạo của tất cả

những người nói trên nên họ phải được thừa

nhận là tác giả Tuy nhiên, tư cách tác giả

của những người này đối với bộ phim hoàn

toàn khác với tư cách tác giả của nhiều

người đối với cuốn tiểu thuyết do họ cùng

sáng tạo ra Và vì vậy, quyền lợi của họ

trong hai trường hợp đó cũng sẽ hoàn toàn

khác nhau Chẳng hạn, quyền của các đồng

tác giả đối với cuốn tiểu thuyết có thể bằng

nhau, như nhau nhưng quyền của đạo diễn,

quyền của người quay phim, người viết kịch

bản, người viết nhạc nền không thể như

nhau được

Chúng tôi đồng ý với cách hiểu thứ hai

và thấy rằng nếu hiểu đồng tác giả theo

cách hiểu thứ nhất thì sẽ có rất nhiều bất

cập sau đây:

- Nếu cho rằng tác giả của phần nhạc với

tác giả của phần lời là đồng tác giả của bài hát thì vô hình chung đều phải xác định rằng tất cả các tác giả phái sinh (tác giả dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể ) đều là đồng tác giả của tác phẩm nguyên gốc và như vậy chẳng cần phải phân biệt tác giả nguyên gốc với tác giả phái sinh làm gì

- Chúng ta đều biết rằng mọi tác phẩm

âm nhạc đều có ba thành phần chính (ngoài lời, vì có tác phẩm nhạc không lời) là giai điệu, hòa âm và nhịp điệu, các yếu tố này đều được bảo hộ trong bản nhạc Vì vậy, nếu theo cách hiểu thứ nhất sẽ lí giải như thế nào về đồng tác giả trong trường hợp cùng bài thơ “Thuyền và biển” của nhà thơ Xuân Quỳnh được hai nhạc sĩ là Phan Huỳnh Điểu và Hữu Xuân phổ nhạc thành hai bài hát “Thuyền và biển” với giai điệu, hoà âm, nhịp điệu hoàn toàn khác nhau nhưng chung ca từ?

- Giả sử có người chuyển tác phẩm văn học “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thành vở cải lương “Truyện Kiều” thì phải coi người

đó với Nguyễn Du là đồng tác giả?

- Giả sử có người đặt lời cho tác phẩm nhạc không lời của Mozat thì phải coi họ cùng với Mozat là đồng tác giả của bài hát đó?

- Nếu cho rằng tất cả những người sáng tạo để một bộ phim được hoàn thành đều là đồng tác giả của bộ phim đó, nghĩa là họ đều

có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của bộ phim

Và vì vậy, tác giả nhạc nền của bộ phim cũng có quyền không cho đạo diễn cắt xén

và sửa chữa bộ phim đó Đây là điều bất cập làm ảnh hưởng đến công việc của người đạo

Trang 5

diễn, người dựng phim Trong thực tế, nhạc

nền của bộ phim có thể do đạo diễn chọn và

sử dụng một hoặc nhiều tác phẩm âm nhạc

đã có Vì vậy, những nhạc sĩ có tác phẩm âm

nhạc được sử dụng làm nhạc nền cho bộ

phim chỉ đơn thuần là tác giả của tác phẩm

nhạc đó mà không thể trở thành đồng tác giả

của bộ phim được Trong thực tế, đã có

nhiều ca khúc vốn được nhạc sĩ sáng tác cho

nhạc nền của bộ phim đã trở thành ca khúc

độc lập sau khi bộ phim được trình chiếu và

nhạc sĩ đó là tác giả độc lập của ca khúc

Chẳng hạn như Hồng Đăng với ca khúc

“Hoa sữa” - vốn là nhạc nền trong bộ phim

“Người Hà Nội”, nhạc sĩ Bảo Phúc với ca

khúc “Những nẻo đường phù sa” là nhạc

nền của bộ phim cùng tên Đặc biệt hơn,

khi trao giải thưởng cho tác giả thì mỗi tác

giả có các giải thưởng độc lập theo lĩnh vực

sáng tác của mình Chẳng hạn, Hồng Sến

được giải thưởng Bông sen vàng về đạo

diễn với bộ phim “Cánh đồng hoang”, nhạc

sĩ Đặng Hữu Phước được giải thưởng cho

phần nhạc trong phim “Thời xa vắng” tại

liên hoan phim quốc tế Thượng Hải năm

2005 Hoặc các giải thưởng khác được trao

cho những người cùng sáng tạo trong việc

hoàn thành tác phẩm điện ảnh như: Giải nam

diễn viên xuất sắc nhất, nữ diễn viên xuất

sắc nhất v.v

Chính vì lí do trên, chúng tôi tán đồng

với cách hiểu thứ hai khi xác định bộ phim là

một tác phẩm tập thể mà trong đó mỗi người

chỉ là tác giả đối với phần sáng tạo theo lĩnh

vực sáng tạo riêng của mình Theo sự xác

định này chúng ta dễ dàng thấy rằng quyền

của mỗi tác giả trong bộ phim chỉ liên quan

và giới hạn theo lĩnh vực mà họ đã sáng tạo Chẳng hạn, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm đối với nhạc nền của bộ phim chỉ liên quan đến phần nhạc và theo đó tác giả bản nhạc chỉ có quyền cho hoặc không cho người khác cắt xén, sửa chữa phần nhạc mà hoàn toàn không có quyền đối với phần khác của

bộ phim Họ cũng chỉ có quyền đặt tên cho bản nhạc nền đó (nếu muốn) mà không có quyền đặt tên cho bộ phim

Chúng tôi cho rằng khi pháp luật quy

định đồng tác giả là những người “cùng sáng tạo ra tác phẩm” (khoản 1 Điều 736

BLDS) thì phải hiểu tác phẩm được tạo ra

phải là sản phẩm của hoạt động sáng tạo trong cùng lĩnh vực: hoặc âm nhạc, hoặc văn học Vì vậy, khi một người dựa vào tác phẩm đã có của người khác để sáng tạo ra tác phẩm theo lĩnh vực sáng tạo khác thì họ

là tác giả của hai tác phẩm khác nhau mà không thể coi là đồng tác giả được Chẳng hạn, Đỗ Trung Quân là tác giả của tác phẩm văn học, (bài thơ “Quê hương”), Giáp Văn Thạch là tác giả của tác phẩm âm nhạc (bài hát “Quê hương”), trong đó bài thơ là tác phẩm gốc, bài hát là tác phẩm phái sinh Tóm lại, từ việc lí giải các luận điểm trong các cách hiểu khác nhau về đồng tác giả, chúng tôi đi đến kết luận: Đồng tác giả

là hai hay nhiều cá nhân cùng lao động sáng tạo về cùng lĩnh vực để trực tiếp tạo

nên tác phẩm./

(1).Xem: Lê Nết: “Quyền sở hữu trí tuệ”, Nxb Đại học quốc gia TPHCM

Ngày đăng: 22/02/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w