Trước hết, để đảm bảo thực thi các kế hoạch kinh tế của Nhà nước, để điều hoà các mối quan hệ phát sinh giữa các doanh nghiệp trong nước về mặt cung ứng vật tư cũng như cung cấp sức lao
Trang 1GS MÔ L−¬ng *
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG
ĐƯƠNG ĐẠI CỦA TRUNG QUỐC
Hợp đồng là hình thức pháp lí của giao
dịch hàng hoá Pháp luật hợp đồng quy định
trực tiếp hình thức giao dịch của hàng hoá
Nó có vai trò quan trọng trong việc điều
chỉnh quan hệ trao đổi hàng hoá và thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá Tuy
nhiên, do những nguyên nhân về cơ chế kinh
tế, quá trình hoàn thiện pháp luật hợp đồng
đã phải trải qua thời gian dài và gặp nhiều
khó khăn, gần 50 năm sau ngày thành lập
nước, Trung Quốc mới có được Bộ luật hợp
đồng tương đối hoàn thiện
1 Giai đoạn bỏ trống của lập pháp
hợp đồng (những năm 50 đến những năm
70 của thế kỉ XX)
Từ khi nước cộng hoà nhân dân Trung
Hoa thành lập đến trước kì họp thứ 3 khoá
XI của Đảng cộng sản Trung Quốc, kinh tế
bị quản lí tập trung cao độ, hơn nữa Nhà
nước cũng chưa coi trọng vai trò của pháp
luật Vì thế trong 30 năm này, pháp luật hợp
đồng của Trung Quốc gần như không phát
triển Trong quãng thời gian đó, sự lưu
chuyển tài sản trong lĩnh vực kinh tế công
hữu và cung ứng các sản phẩm tiêu dùng chủ
yếu cho các cá nhân đều dựa hoàn toàn sự
điều chỉnh của nền kinh tế kế hoạch hoá
mang nặng tính hành chính; còn sự lưu
chuyển tài sản cá nhân lại bị gò bó trong
không gian rất hẹp và tuân theo các thói quen dân sự được truyền từ đời này sang đời khác Đặc biệt là trong 10 năm Đại cách mạng văn hoá, buôn bán trao đổi hàng hoá bị coi là phi pháp, sự lưu chuyển tài sản cá nhân trở thành hoạt động không công khai, nói chung chưa hề có pháp luật hợp đồng
2 Giai đoạn phân tán của pháp luật hợp đồng trong thời kì xây dựng cơ chế kinh tế hàng hoá có kế hoạch (những năm
80 của thế kỉ XX)
Năm 1979, kì họp thứ 3 khoá XI của Đảng cộng sản Trung Quốc đã thay đổi lối tư duy “tả khuynh” sai lầm trong tư tưởng chỉ đạo trước đây, bắt đầu bước vào công cuộc cải cách chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá sang cơ chế kinh tế hàng hoá có kế hoạch, đây chính là thời kì phát triển mạnh của luật hợp đồng Trung Quốc
Trước hết, để đảm bảo thực thi các kế hoạch kinh tế của Nhà nước, để điều hoà các mối quan hệ phát sinh giữa các doanh nghiệp trong nước về mặt cung ứng vật tư cũng như cung cấp sức lao động, kì họp thứ
4 Quốc hội khoá V diễn ra vào tháng 12/1981 đã xây dựng văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan đến vấn đề hợp đồng kể từ khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa - Luật hợp đồng kinh tế nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, bước đầu
* Đại học Vân Nam Trung Quốc
Trang 2chuyển từ việc điều chỉnh mối quan hệ hợp
đồng giữa các doanh nghiệp bằng kế hoạch
mệnh lệnh đơn thuần sang điều chỉnh bằng
pháp luật Tiếp theo Luật hợp đồng kinh tế,
từ năm 1983 đến năm 1986, Quốc vụ viện đã
phê chuẩn các văn bản pháp luật có liên
quan đến hợp đồng kinh tế, đó là: Điều lệ
hợp đồng mua bán sản phẩm khoáng sản,
Điều lệ hợp đồng mua bán sản phẩm phụ cho
nông nghiệp, Điều lệ hợp đồng gia công thừa
lãm, Điều lệ hợp đồng lắp đặt kiến trúc, Điều
lệ hợp đồng thanh tra công trình xây dựng,
Điều lệ hợp đồng vay nợ, Điều lệ hợp đồng
bảo hiểm tài sản Cùng lúc đó, Toà án nhân
dân tối cao Trung Quốc cũng ban hành các
văn bản hướng dẫn tương ứng Các văn bản
đó đã hình thành nên hệ thống pháp luật hợp
đồng trong giai đoạn Trung Quốc xây dựng
nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch
Trong lúc xây dựng Luật hợp đồng kinh
tế, cơ quan lập pháp Trung Quốc đã ý thức
được rằng pháp luật hợp đồng kinh tế vẫn
còn những điểm bất cập, chưa đáp ứng được
yêu cầu điều chỉnh các quan hệ giao dịch
kinh tế có yếu tố nước ngoài Sau khi xây
dựng xong Luật hợp đồng kinh tế, để đáp
ứng nhu cầu điều chỉnh các hợp đồng kinh tế
có yếu tố nước ngoài, Quốc vụ viện đã ban
hành thêm Điều lệ giao dịch kinh tế có yếu
tố nước ngoài để bổ sung cho Luật hợp đồng
kinh tế Nhưng về sau, nhận thức được rằng
Luật hợp đồng kinh tế phải tuân theo các
nguyên tắc chỉ đạo cơ bản về kế hoạch kinh
tế của nền kinh tế, còn những điều chỉnh
pháp luật về quan hệ giao dịch kinh tế có yếu
tố nước ngoài thì phải tuân theo nguyên tắc
hợp đồng tự do cũng như các thông lệ giao
dịch quốc tế, vì thế đã sửa đổi và đưa những điều chỉnh pháp luật về quan hệ giao dịch kinh tế có yếu tố nước ngoài vào Luật hợp đồng kinh tế và chịu sự chi phối của Luật hợp đồng kinh tế Do đó, Điều lệ giao dịch kinh tế có yếu tố nước ngoài do Quốc vụ viện ban hành đã bị bãi bỏ, thay vào đó bằng việc ban hành Luật hợp đồng kinh tế có yếu
tố nước ngoài của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa VI kì họp thứ 10 thông qua vào tháng 3/1985) Năm 1987, Toà án nhân dân tối cao lại ban hành cuốn Giải đáp một
số vấn đề liên quan đến việc sử dụng Luật hợp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài Từ
đó hình thành văn bản pháp luật về hợp đồng thứ 2 thời kì những năm 80 của thế kỉ XX của Trung Quốc
Do những quy định đối với hợp đồng hợp tác khoa học kĩ thuật của Luật hợp đồng kinh tế còn quá sơ sài, không đáp ứng được những yêu cầu điều chỉnh pháp luật về giao dịch hàng hoá kĩ thuật ngày càng phát triển trong công cuộc cải cách thể chế khoa học kĩ thuật Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa VI kì họp thứ 21 vào tháng 6/1987 đã xây dựng Luật hợp đồng kĩ thuật nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đây là văn bản pháp luật về hợp đồng thứ 3 trong thế kỉ XX của Trung Quốc
3 Giai đoạn pháp luật hợp đồng thống nhất trong thời kì xây dựng cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (những năm
90 của thế kỉ XX)
Năm 1992, Ủy ban trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã ban hành Quyết định về cải cách cơ chế kinh tế theo tinh
Trang 3thần của Đặng Tiểu Bình Quyết định này
đã chuyển đổi mục tiêu cải cách cơ chế kinh
tế của Trung Quốc từ xây dựng cơ chế kinh
tế hàng hoá có kế hoạch xã hội chủ nghĩa
sang xây dựng cơ chế kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa Sự chuyển đổi về mục tiêu
cải cách cơ chế kinh tế này đối lập với hệ
thống pháp luật lấy kinh tế kế hoạch làm cơ
sở, coi đối tượng điều chỉnh là quan hệ trao
đổi hàng hoá
Kinh tế thị trường yêu cầu phải có hệ
thống văn bản pháp luật hợp đồng thống
nhất, khoa học, hiện đại và phù hợp với
thông lệ quốc tế Để pháp luật hợp đồng của
Trung Quốc thích ứng được với cơ chế kinh
tế thị trường, cơ quan lập pháp Trung Quốc
đã tiến hành hai công việc lập pháp: Một là
quyết định sửa đổi Luật hợp đồng kinh tế,
hai là quyết định xóa bỏ mô hình pháp luật
hợp đồng song song tồn tại của 3 luật đã
được ban hành vào những năm 80 (gồm Luật
hợp đồng kinh tế, Luật hợp đồng kinh tế có
yếu tố nước ngoài và Luật hợp đồng kĩ thuật)
Công tác sửa đổi Luật hợp đồng kinh tế
đã được hoàn thành vào tháng 9/1993 Ngày
2/9/1993, Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu
nhân dân toàn quốc khóa VIII kì họp thứ 3
đã thông qua Quyết định về việc bổ sung,
sửa đổi Luật hợp đồng kinh tế của nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tuy Quyết
định này đã đề cập 36 điều về việc sửa đổi
Luật hợp đồng kinh tế song trên thực tế sự
sửa đổi về nội dung chỉ dừng lại ở 3 phương
diện: Xoá bỏ các quy định có liên quan đến
kế hoạch kinh tế mang tính chỉ huy; xoá bỏ
các quy định liên quan đến quản lí hợp đồng
kinh tế, xoá bỏ quyền xác nhận hợp đồng
kinh tế vô hiệu của cơ quan quản lí hành chính về công thương; đơn giản hoá trình tự
xử lí tranh chấp hợp đồng kinh tế
Từ nội dung sửa đổi của Luật hợp đồng kinh tế, chúng ta có thể thấy việc sửa đổi Luật hợp đồng kinh tế là do nhu cầu tình hình chính trị lúc bấy giờ hơn là nhu cầu hoàn thiện pháp luật hợp đồng
Cơ quan lập pháp Trung Quốc và các chuyên gia pháp lí thuộc lĩnh vực dân sự - thương mại đều ý thức được rằng Luật hợp đồng kinh tế sửa đổi về cơ bản không thể giải quyết những bất cập trong pháp luật hợp đồng của Trung Quốc Chỉ có xoá bỏ mô hình cùng tồn tại song song của 3 bộ luật hợp đồng ban hành trong thời kì cải cách cơ chế kinh tế hàng hóa có kế hoạch những năm
80 mới có thể giải quyết một cách tương đối
ổn thỏa vấn đề xây dựng pháp luật hợp đồng của Trung Quốc và đáp ứng được yêu cầu thích ứng với nền kinh tế thị trường Do đó, tháng 9/1993, Ủy ban pháp luật Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã mời các chuyên gia, các học giả tham gia thảo luận vấn đề xây dựng văn bản pháp luật thống nhất về hợp đồng Các chuyên gia đã đi đến thống nhất 3 vấn đề: Việc xây dựng văn bản pháp luật hợp đồng thống nhất không chỉ là tất yếu mà điều kiện cũng đã chín muồi; trước đây còn tồn tại tình trạng lạm dụng của các
cơ quan hành chính khi soạn thảo luật pháp, nay kiến nghị Luật hợp đồng phải do các chuyên gia và các học giả soạn thảo; để chỉ đạo việc soạn thảo Luật hợp đồng, đề nghị giao cho một số học giả soạn thảo trước phương án xây dựng Luật hợp đồng Theo tinh thần của Hội nghị này, tháng 10/1993,
Trang 4tám vị học giả đã được giao soạn thảo
Phương án xây dựng Luật hợp đồng Sau khi
hình thành nên Phương án soạn thảo Luật
hợp đồng của nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, trưng cầu ý kiến rộng rãi và tiến
hành sửa đổi phương án này tổng cộng 4 lần,
ngày 15/3/1999, Đại hội đại biểu nhân dân
toàn quốc khoá IX kì họp thứ 2 đã thông qua
Luật hợp đồng của nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa
Tuy Luật hợp đồng thống nhất này được
xây dựng trên cơ sở của 3 luật hợp đồng
trước kia nhưng nó không phải là sự lắp
ghép một cách cơ học của chúng mà là sự
tổng hợp các quy phạm pháp luật hợp đồng
theo yêu cầu điều chỉnh pháp luật của kinh tế
thị trường xã hội chủ nghĩa Trung Quốc,
trên cơ sở tiếp thu rộng rãi kinh nghiệm xây
dựng các luật hợp đồng tiên tiến trên thế
giới Nội dung của Luật hợp đồng này được
phân thành 3 phần: Tổng quan, Chi tiết và
Phụ lục, tổng cộng bao gồm 23 chương, 428
điều Phần Tổng quan nêu ra các quy định
đối với các vấn đề chung như: nguyên tắc
cơ bản của Luật hợp đồng, sự hình thành
của hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng, thực
hiện hợp đồng, sửa đổi và chuyển nhượng
hợp đồng, chấm dứt quyền lợi và nghĩa vụ
hợp đồng, vi phạm hợp đồng Phần Chi tiết
quy định về 15 loại hợp đồng, gồm hợp
đồng mua bán, hợp đồng cung cấp điện,
nước, khí đốt, nhiên liệu, hợp đồng cho tặng,
hợp đồng vay nợ, hợp đồng cho thuê tài
chính, hợp đồng cho mượn, hợp đồng xây
dựng, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng kĩ
thuật, hợp đồng bảo quản, hợp đồng lưu kho,
hợp đồng ủy thác, hợp đồng kí gửi, hợp
đồng môi giới Luật hợp đồng thống nhất là cột mốc quan trọng trong việc xây dựng Luật hợp đồng Trung Quốc, là công trình pháp luật to lớn nữa bên cạnh Dân pháp thông tắc của pháp luật dân sự Trung Quốc Công trình lập pháp này hoàn thành có ý nghĩa rất to lớn đối với sự điều chỉnh pháp luật của quan hệ kinh tế thị trường ở Trung Quốc và sự phát triển của công cuộc kiến thiết pháp chế xã hội chủ nghĩa Ở đây, tôi muốn nói đến ý nghĩa của Luật hợp đồng trên phương diện hoàn thiện việc xây dựng pháp luật hợp đồng của Trung Quốc
Khi phân tích ý nghĩa của Luật hợp đồng thống nhất đối với việc xây dựng hoàn thiện pháp luật hợp đồng của Trung Quốc, chúng
ta không thể không nói tới ý nghĩa của pháp luật hợp đồng của Trung Quốc những năm
80 của thế kỉ XX Phải nói rằng pháp luật hợp đồng của Trung Quốc những năm 80 của thế kỉ XX cũng đạt được một số thành tựu Trong đó thành tựu quan trọng là xây dựng được Luật hợp đồng kinh tế, Luật hợp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài, Luật hợp đồng kĩ thuật Ý nghĩa quan trọng của thành tựu này ở chỗ pháp luật hợp đồng của Trung Quốc phát triển từ không đến có, đáp ứng nhu cầu về điều chỉnh quan hệ hợp đồng ở một số lĩnh vực kinh tế trọng yếu trong thời
kì cải cách cơ chế kinh tế hàng hóa có kế hoạch của Trung Quốc Tuy nhiên, pháp Luật hợp đồng của Trung Quốc những năm
80 của thế kỉ XX không được xây dựng trên
cơ sở quy hoạch khoa học, còn mang nặng tính đối phó Ba văn bản pháp luật về hợp đồng ra đời mang tính đối phó, giữa chúng không có sự liên kết bên trong, kết cấu nội
Trang 5bộ của từng bộ luật cũng chưa hoàn chỉnh,
nội dung trùng lặp, mâu thuẫn với nhau Ý
nghĩa của Luật hợp đồng thống nhất còn ở
chỗ nó đã thống nhất các văn bản pháp luật
hợp đồng rời rạc, xoá bỏ những điểm tiêu
cực nảy sinh từ tính đối phó khi xây dựng
pháp luật, từ đó tiến tới hoàn thiện hơn nữa
luật hợp đồng của Trung Quốc
Sự ra đời của Luật hợp đồng thống nhất
đã xóa bỏ mô hình tồn tại song song của 3
văn bản pháp luật từ những năm 80 của
Trung Quốc, thống nhất được pháp luật hợp
đồng Trung Quốc Luật hợp đồng thống nhất
đã có được cấu trúc hợp lí, góp phần khoa
học hoá hệ thống pháp luật hợp đồng Trung
Quốc trên cơ sở tiếp thu các học thuyết tiên
tiến về luật hợp đồng nước ngoài, công ước
và thông lệ quốc tế, đã góp phần quan trọng
trong công cuộc hiện đại hoá và quốc tế hoá
pháp luật hợp đồng của Trung Quốc
Kết cấu của Luật hợp đồng thống nhất đã
thể hiện phương pháp lập pháp truyền thống,
đi từ cái chung đến cái cụ thể, phân thành 2
phần chính là phần Tổng quan và phần Chi
tiết Phần Tổng quan của Luật hợp đồng
được xây dựng dựa trên những quy tắc tự
nhiên trong trao đổi hàng hoá, tức là tính quy
luật khách quan - việc trao đổi hàng hoá
không thể không thông qua quá trình kí kết
hợp đồng và thực hiện hợp đồng của hai bên,
từ đó đưa ra những quy định toàn diện về
những vấn đề có thể phát sinh trong quá
trình này Phần Chi tiết của Luật hợp đồng
quy định rõ về chủ thể, nội dung, khách thể
của 15 loại hợp đồng
Đương nhiên, chúng ta cũng nên thừa
nhận rằng cơ cấu nội bộ của Luật hợp đồng
thống nhất vẫn còn tồn tại một số vấn đề Chủ yếu thể hiện: Thứ nhất, tiêu chuẩn sử dụng để phân chia các loại hợp đồng trong phần Chi tiết của Luật hợp đồng là không thống nhất, các loại hợp đồng cũng không đầy đủ Trong số 15 loại hợp đồng quy định trong phần Chi tiết của Luật hợp đồng, trừ hợp đồng kĩ thuật thì 14 loại hợp đồng còn lại đều phân chia dựa trên các nội dung khác nhau của nghĩa vụ trong hợp đồng, duy chỉ
có hợp đồng kĩ thuật được phân thành một loại hình riêng biệt của hợp đồng Hai là có một số vấn đề không nên quy định trong Luật hợp đồng, ví dụ như vấn đề đại lí không
có quyền… Những vấn đề này nên được quy định trong phần tổng quan của Luật dân sự
II XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HỢP ĐỒNG TRUNG QUỐC
Sự phát triển của luật hợp đồng đương đại của Trung Quốc phụ thuộc vào sự ảnh hưởng to lớn trên 3 phương diện:
cầu hóa Từ thế kỉ XX đến nay, đặc biệt là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, cơ cấu thị trường thế giới dần hình thành, kinh tế phát triển nhanh theo hướng toàn cầu hoá, nhất thể hoá, dẫn tới sự lưu động vốn toàn cầu ngày càng nhanh, hiệu suất và độ rủi ro tài chính đều không ngừng tăng, trong điều kiện kinh tế toàn cầu hoá mạnh mẽ, pháp luật hợp đồng vốn được coi là quy tắc chung trong giao dịch ngày càng quốc tế hoá Về vấn đề này, các quy tắc của hệ thống pháp luật lớn
là Anh và Mỹ đã dần dần dung hoà với nhau
triển kinh tế thị trường đối với pháp luật hợp đồng Xã hội hiện đại, kết cấu kinh tế xã hội
Trang 6thay đổi lớn, các tổ chức xã hội phát triển
lớn mạnh chưa từng có, hiện tượng lũng
đoạn gia tăng, sản xuất và tiêu dùng xã hội
quy mô hoá, tiện ích công cộng phát triển
nhanh chóng, vấn đề bảo vệ những người
yếu thế trong xã hội như người tiêu dùng,
người lao động… trở nên cấp bách, do sự
phát triển cao độ của kinh tế thị trường, sự
bình đẳng thực sự giữa các chủ thể dân sự
trong quá trình giao dịch trở thành một vấn
đề quan trọng Một bên là các doanh nghiệp,
các công ti đa quốc gia với thực lực hùng
hậu, một bên là đông đảo người tiêu dùng
yếu thế thì cho dù khi hai bên kí hợp đồng về
mặt hình thức thì bình đẳng nhưng trên thực
tế thì không có sự công bằng về năng lực
đàm phán Để duy trì sự công minh và an
toàn trong giao dịch, vì sự công bằng của
hợp đồng, vì quyền lợi của người tiêu dùng,
xu thế tất yếu của quá trình phát triển pháp
luật hợp đồng là hạn chế hơn nữa sự tự do
trong hợp đồng Chủ yếu thể hiện ở chỗ,
pháp luật hợp đồng hiện đại đã tuân theo
nguyên tắc chữ tín, thành thực… cho phép
các cán bộ pháp luật tiến hành xử lí quan hệ
hợp đồng Pháp luật hợp đồng truyền thống
chủ yếu dựa trên ý chí của đương sự đã trở
nên lỗi thời trong thời đại mới
học kĩ thuật đã trở thành thách thức đối với
pháp luật hợp đồng Các kĩ thuật hiện đại
gồm kĩ thuật thông tin liên lạc, kĩ thuật máy
tính, kĩ thuật công trình sinh vật đều đặt ra
nhiều vấn đề mà pháp luật hợp đồng cần giải
quyết Cùng với sự phát triển của kĩ thuật
thông tin liên lạc hiện đại và kĩ thuật điện tử,
các hình thức giao kết hợp đồng cũng thay
đổi mạnh mẽ, ví dụ như pháp luật dân sự truyền thống đã phát triển đưa ra lí luận về
“Biểu thị ý tứ tự động hoá” Trong lĩnh vực buôn bán đồ điện tử, người tiêu dùng ngày càng được bảo vệ
Thời kì đương đại ở Trung Quốc, ngoài
xu thế hạn chế tự do trong hợp đồng, sự phát triển của Luật hợp đồng còn tuân theo các xu thế sau:
1 Các hạn chế đối với điều khoản mẫu
Sự ra đời và phát triển của điều khoản mẫu là mốc quan trọng trong quá trình phát triển của pháp luật hợp đồng thế kỉ XX Sự ra đời của điều khoản mẫu không chỉ thay đổi phương thức kí kết hợp đồng truyền thống mà còn đặt ra thách thức đối với nguyên tắc tự do hợp đồng Các nước lần lượt đều tiến hành quy chuẩn hoá điều khoản mẫu thông qua việc sửa đổi pháp luật vốn có hoặc xây dựng pháp luật đơn tính Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trung Quốc có quy định đặc biệt với điều khoản mẫu, Luật hợp đồng Trung Quốc cũng có 3 điều khoản quy định
rõ điều khoản mẫu Điều 39 Luật hợp đồng
đã quy định rõ điều khoản mẫu là điều khoản
do một bên thảo ra trước để sử dụng nhiều lần, được chấp nhận bởi một người thứ 3 nào
đó và không thể thảo luận sửa đổi khi kí kết hợp đồng Để quy chuẩn hóa hơn nữa điều khoản mẫu, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng một cách toàn diện, Trung Quốc đã ban hành 3 quy tắc quan trọng: Một là quy định
rõ phương thức hợp lí cho người thảo ra điều khoản mẫu sử dụng để thảo ra điều khoản mẫu, điều khoản yêu cầu đối tác chú ý không tham gia hoặc giảm bớt trách nhiệm này; hai
Trang 7là nghiêm cấm người thảo ra điều khoản mẫu
lợi dụng điều khoản mẫu để trốn tránh trách
nhiệm này, đẩy trách nhiệm cho đối tác, tước
bỏ quyền lợi của đối tác; ba là khi giải thích
điều khoản mẫu nên đưa ra các giải thích
không có lợi cho bên thảo ra điều khoản mẫu
của hợp đồng Các quy định này không chỉ
bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng -
những người yếu thế trong nền kinh tế mà
còn có thể ngăn chặn và hạn chế hiệu quả
việc các công ti, các doanh nghiệp lạm dụng
ưu thế của mình để làm tổn hại quyền lợi của
người tiêu dùng
2 Mở rộng nghĩa vụ hợp đồng
Biểu hiện chủ yếu của sự mở rộng nghĩa
vụ hợp đồng thể hiện ở chỗ nghĩa vụ kèm
theo trở thành nội dung quan trọng của hợp
đồng Nghĩa vụ kèm theo tức là các nghĩa vụ
mà các bên đương sự trong hợp đồng cần
phải thực hiện phát sinh dựa trên nguyên tắc
thành thật, tin cậy, căn cứ vào tính chất của
hợp đồng, mục đích và thói quen giao dịch,
bao gồm nghĩa vụ thông báo, nghĩa vụ hợp
tác giúp đỡ, nghĩa vụ bảo mật Do loại nghĩa
vụ này kèm theo nghĩa vụ hợp đồng nên gọi
là nghĩa vụ kèm theo Nghĩa vụ hợp đồng
không phải là khái niệm độc lập trong luật
dân sự truyền thống Cùng với sự phát triển
của lí luận về nghĩa vụ, trên thực tế nghĩa vụ
kèm theo chính là dấu mốc quan trọng cho
thấy nguyên tắc thành thật, tin cậy đã phát
triển rất mạnh mẽ trong luật dân sự hiện đại
Nó đã dựa trên nguyên tắc thành thật, tin cậy
để mở rộng nghĩa vụ trong pháp luật hợp
đồng trước đây, từ đó góp phần tăng cường
đạo đức và tin cậy thương mại trong giao
dịch thương mại Đặc biệt là nghĩa vụ kèm theo có thể tự động trở thành nội dung của hợp đồng, như vậy có thể góp phần làm các bên đương sự kí kết và thực hiện hợp đồng một cách chính xác trên cơ sở đạo đức kinh doanh Pháp luật hợp đồng của Trung Quốc dựa vào nguyên tắc thành thật, tin cậy để xác định nghĩa vụ trước hợp đồng, nghĩa vụ trong khi thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ sau hợp đồng, từ đó thể hiện rõ xu thế phát triển thích ứng hoàn toàn với pháp luật hợp đồng hiện đại của Trung Quốc
3 Mở rộng hiệu lực của hợp đồng và những đột phá mang tính tương đối của hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng là hiệu quả về mặt pháp luật có được sau khi hợp đồng đã được hình thành theo đúng pháp luật, buộc các bên thực hiện các nội dung trong hợp đồng Trong luật hợp đồng cận đại - vốn coi
tự do ý chí là cơ sở triết học thì hiệu lực của hợp đồng ít nhất có các đặc trưng sau: Về mặt chủ thể, hiệu lực của hợp đồng chỉ có tác dụng giữa các đương sự, điều này trên thực tế được coi là nguyên tắc mang tính tương đối của nghĩa vụ trong hợp đồng Về mặt nội dung, nghĩa vụ hợp đồng lấy pháp định hoặc ước định làm giới hạn, những điều
mà pháp luật chưa quy định và các bên đương sự chưa thoả thuận thì không có tính ràng buộc pháp lí với các bên đương sự Về mặt thời gian, nghĩa vụ hợp đồng chỉ phát sinh trong khoảng thời gian sau khi hợp đồng được hình thành và trước khi hợp đồng chấm dứt, trách nhiệm tương ứng trong pháp luật hợp đồng chỉ là trách nhiệm vi phạm
Trang 8hợp đồng Tuy nhiên, trong quá trình pháp
luật hợp đồng biến đổi từ luật hợp đồng cận
đại sang luật hợp đồng hiện đại, hiệu lực của
hợp đồng trên cả 3 phương diện chủ thể, nội
dung và thời gian đều xảy ra những biến đổi
to lớn Về mặt chủ thể, hiệu lực của hợp
đồng từ chỗ chỉ có hiệu lực với các bên
đương sự trở nên có hiệu lực với cả bên thứ
3 ngoài quan hệ hợp đồng trong những
trường hợp ngoại lệ Do đó, trên cơ sở hiệu
lực đối ngoại cũ, hiệu lực của hợp đồng lại
có thêm một số điểm mới, đó là hiệu lực đối
ngoại hoặc các hiệu lực có liên quan; về mặt
nội dung, bên nợ ngoài việc thực hiện các
nghĩa vụ có tính bắt buộc theo quy định pháp
luật hoặc các nghĩa vụ thoả thuận ra, còn
phải thực hiện các nghĩa vụ kèm theo phát
sinh trên nguyên tắc thành thật, tin cậy như
nghĩa vụ chú ý, nghĩa vụ trông coi Có thể nói,
việc sử dụng lí luận về nghĩa vụ kèm theo làm
cho hiệu lực nợ từ chỗ gắn với các nội dung
đã định trước của khoản nợ, mở rộng ra phạm
vi các quyền lợi và nghĩa vụ không xác định
trước của các bên đương sự của khoản nợ Về
mặt thời gian, nghĩa vụ hợp đồng từ chỗ chỉ
có hiệu lực trong khoảng thời gian hợp đồng
hình thành đến khi thực hiện xong trở thành
có hiệu lực trong khoảng thời gian trước khi
hợp đồng hình thành đến sau khi thực hiện
xong hợp đồng Từ đó, trách nhiệm trong luật
hợp đồng hiện đại ít nhất đã thể hiện thành 3
dạng, gồm trách nhiệm vi phạm hợp đồng,
trách nhiệm sai sót trong kí kết, trách nhiệm
hậu hợp đồng
Tính tương đối của hợp đồng hoặc là
tính tương đối của khoản nợ là nền tảng cho
chế độ nợ hoặc chế độ hợp đồng, cũng là một trong những tiêu chuẩn để phân biệt chế
độ hợp đồng với các chế độ khác của luật dân sự Tuy nhiên, tính tương đối của hợp đồng trong pháp luật hợp đồng hiện đại gặp phải rất nhiều thách thức, chủ yếu thể hiện ở các phương diện sau: Một là để tăng cường bảo vệ người tiêu dùng, tính tương đối của quyền nợ đã có sự đột phá Ví như về trách nhiệm đối với sản phẩm, để tăng cường bảo
vệ người tiêu dùng, pháp luật của Cộng hoà Pháp thừa nhận người tiêu dùng có quyền trực tiếp kiện lên tòa án Hai là để tăng cường bảo vệ người tiêu dùng, các nước thuộc hệ thống luật đại lục đều đã công nhận rộng rãi chế độ bảo toàn nợ và hợp đồng cho bên thứ 3 Ba là đưa ra thêm một số hiệu lực mới của quyền nợ và quyền đối với tài sản (vật quyền) Ví dụ như quy tắc mua bán không làm ảnh hưởng đến việc cho thuê, để bảo vệ quyền lợi của người đi thuê
4 Sự giao thoa và thâm nhập lẫn nhau của pháp luật bản quyền và pháp luật hợp đồng
Xã hội hiện đại dựa trên nhu cầu bảo vệ nhân quyền, phạm vi quyền lợi mà luật phạm quyền bảo vệ ngày càng rộng Chủ yếu thể hiện ở quyền nhân cách, quyền thân phận và quyền tác giả ngày càng được luật phạm quyền bảo vệ một cách toàn diện hơn Sau khi nhân loại bước vào thế kỉ XX, do khoa học-kĩ thuật và tri thức quản lí ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và sự phát triển của xã hội, quyền tác giả trở thành lĩnh vực mà luật phạm quyền mở rộng nhanh nhất Đặc biệt là phạm vi của luật phạm
Trang 9quyền, do việc mở rộng sự bảo vệ các lợi ích
pháp luật thông thường, buộc pháp luật bản
quyền và pháp luật hợp đồng phải có sự giao
thoa và thâm nhập lẫn nhau
5 Sự tăng cường bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng
Luật dân sự trong quá trình bảo vệ quyền
lợi của người tiêu dùng đóng vai trò quan
trọng Trong điều kiện kinh tế thị trường vẫn
chưa phát triển, người sản xuất là thợ thủ
công hoặc chủ các phường nghề, họ không
có địa vị cao về mặt kinh tế Từ thế kỉ XV
đến thế kỉ XVIII, do chủ trương theo chủ
nghĩa tự do và nguyên tắc tự do thoả thuận,
vì thế giữa người sản xuất và người tiêu
dùng tuân theo nguyên tắc “người mua cẩn
trọng” (mãi giả đang tâm) Cho đến đầu thế
kỉ XIX, toà án không can dự vào hợp đồng
kí kết giữa thương nhân và người tiêu dùng
Từ thế kỉ XIX đến nay, cùng với sự phát
triển của kinh tế thị trường, các công ti lớn,
các doanh nghiệp lớn phát triển mạnh mẽ,
điều này làm gia tăng sự lũng đoạn trong sản
xuất và kinh doanh Các công ti, doanh
nghiệp khổng lồ này có thế lực tài chính rất
lớn So với họ, trong quan hệ trao đổi, rõ
ràng người tiêu dùng bị yếu thế Trong hoàn
cảnh khoa học kĩ thuật, các thủ thuật
marketing thay đổi với tốc độ chóng mặt,
dẫn đến người tiêu dùng không đủ hiểu biết
đối với sản phẩm, không có được thông tin
đáng tin cậy về sản phẩm đồng thời thông
tin sai lệch của các phương tiện tuyên
truyền cũng làm nhiễu thông tin về sản
phẩm, do đó quyền lợi của họ rất dễ bị tổn
hại Những năm 50 - 60 của thế kỉ XX, sự
phát triển kinh tế của các nước phương Tây
đã mở đầu cho hoạt động vì quyền lợi của người tiêu dùng Cùng lúc đó, luật pháp các nước đều rất chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Việc ban hành các giới hạn của điều khoản hình thức
và điều khoản miễn trách, tăng cường nguyên tắc kí kết đều là các biện pháp để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đối với mua bán qua đường bưu điện, mua bán phỏng vấn, kí gửi không có chào hàng, đã xét tới việc khách hàng sẽ rơi vào tình trạng mua bán mà chưa suy nghĩ thận trọng, để đảm bảo có sự suy xét kĩ lưỡng, đa số các nước ban hành quyền hậu hối Điều này đều góp phần bảo vệ người tiêu dùng
6 Xác lập nghĩa vụ bắt buộc kí kết
Bắt buộc kí kết là trong một số trường hợp đặc biệt, cá nhân hoặc doanh nghiệp có nghĩa vụ phải kí kết hợp đồng theo yêu cầu của đối tác liên quan Tức là trước yêu cầu kí kết của đối tượng liên quan, nếu không có những lí do từ chối chính đáng thì không thể
từ chối kí kết hợp đồng với đối tượng đó Luật hợp đồng của Trung Quốc quy định những người tham gia vận chuyển trên các phương tiện giao thông công cộng phải thực hiện việc kí hợp đồng bắt buộc Điều 289
Luật hợp đồng quy định: “Những người
tham gia vận chuyển trên các phương tiện giao thông công cộng không được từ chối những yêu cầu vận chuyển hợp lí, thông
xác lập nghĩa vụ bắt buộc kí kết của những người tham gia vận chuyển trên các phương tiện công cộng./