Điều L.711-1 của Bộ luật sở hữu trí tuệ Pháp định nghĩa nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu sản xuất, nhãn hiệu thương mại hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng hì
Trang 1ThS NguyÔn ThÞ Tó Anh * ước Pháp là một trong những nước có
quy định về nhãn hiệu(1) sớm nhất với
đạo luật được ban hành ngày 23/6/1857
Theo đạo luật năm 1857 căn cứ xác lập
quyền sở hữu nhãn hiệu được quy định theo
nguyên tắc quyền sở hữu nhãn hiệu sẽ thuộc
về người sử dụng đầu tiên Quyền sở hữu
nhãn hiệu chỉ mất đi nếu chủ thể quyền từ bỏ
quyền sở hữu đó chứ không mất đi bởi lí do
không sử dụng liên tục nhãn hiệu Tuy có
những hạn chế nhưng đạo luật này đã tồn tại
hơn 100 năm cho đến năm 1964 - năm đánh
dấu sự ra đời của đạo luật mới mang tính
thay đổi căn bản đó là đạo luật ban hành
ngày 31/12/1964 Đạo luật năm 1964 quy
định căn cứ xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu
theo nguyên tắc quyền sở hữu nhãn hiệu
thuộc về người đầu tiên đăng kí nhãn hiệu tại
cơ quan có thẩm quyền Thêm vào đó đạo
luật năm 1964 quy định quyền sở hữu nhãn
hiệu sẽ mất đi nếu chủ sở hữu nhãn hiệu
không sử dụng nhãn hiệu trong 5 năm liên
tục Năm 1991, để phù hợp với luật cộng
đồng châu Âu, một đạo luật mới về nhãn
hiệu được ban hành ngày 4/1/1991 thay thế
đạo luật năm 1964 Năm 1992, nước Pháp đã
pháp điển hoá các văn bản pháp luật trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ thành Bộ luật sở hữu
trí tuệ, nhãn hiệu được quy định từ Điều
L.711-1 đến Điều L.717-7 và từ Điều
R.712-1 đến R.7R.712-18-4 của Bộ luật này.(2) Năm 1995,
sau khi ra nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO, nước Pháp đã ban hành đạo luật ngày 18/12/1996 nhằm sửa đổi Bộ luật sở hữu trí tuệ cho phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPs Bài viết này giới thiệu một số quy định về bảo hộ nhãn hiệu theo luật của Cộng hoà Pháp qua đó thấy được kinh nghiệm hội nhập châu Âu và Tổ chức thương mại thế giới WTO của Cộng hoà Pháp trong lĩnh vực pháp luật nhãn hiệu, góp phần hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu Việt Nam
1 Những dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu
Khái niệm về nhãn hiệu của Pháp được định nghĩa rộng và mang tính mở Điều L.711-1 của Bộ luật sở hữu trí tuệ Pháp định
nghĩa nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu sản
xuất, nhãn hiệu thương mại hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng hình hoạ dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của thể nhân hoặc pháp nhân Những dấu hiệu có thể cấu thành nhãn hiệu là những dấu hiệu sau:
a) Tên gọi dưới mọi hình thức như: từ, tổ hợp từ, tên họ, tên địa lí, biệt danh, chữ cái, chữ số, các chữ viết tắt;
b) Những dấu hiệu âm thanh như: âm thanh, câu nhạc;
c) Những dấu hiệu hình như: hình vẽ, nhãn hiệu, con dấu, biên vải (lisière), hình nổi (relief), hình ảnh ba chiều (hologramme); logo, hình ảnh tổng hợp, hình dáng, kể cả
N
* Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2hình dáng của sản phẩm hoặc hình dáng bao
bì đóng gói hoặc dịch vụ, cách sắp xếp màu
sắc, phối hợp màu sắc hoặc phối hợp sắc
thái màu sắc”
Theo định nghĩa này có ba loại dấu hiệu
chính có thể cấu thành nhãn hiệu: Dấu hiệu
tên gọi, dấu hiệu âm thanh và dấu hiệu hình
ảnh (figuratif) kể cả dấu hiệu hình nổi
Ngoài những dấu hiệu được liệt kê, những
dấu hiệu khác cũng có thể cấu thành nhãn
hiệu nếu dấu hiệu đó có thể thể hiện được
dưới dạng hình họa, thoả mãn tiêu chí phân
biệt và các điều kiện pháp lí khác
Dấu hiệu tên gọi bao gồm dấu hiệu là họ
tên riêng (ví dụ: “Cartier” - nhãn hiệu của đồ
trang sức; “Renault” - nhãn hiệu của ô tô),
dấu hiệu là biệt danh, dấu hiệu là địa danh
(Ví dụ: “Chicago” - nhãn hiệu quần áo),(3) dấu
hiệu là chữ cái (ví dụ, chữ “ò” để chỉ một
loại nước hoa nổi tiếng Lancôme), dấu hiệu
là chữ số hoặc những chữ viết tắt được chọn
là nhãn hiệu Dấu hiệu tên gọi còn có thể là
những khẩu hiệu, biểu ngữ hoặc những từ
ngữ cách điệu (bằng phương pháp tạo từ mới
hoặc phương pháp phối hợp các từ của tiếng
Pháp hoặc tiếng nước ngoài hoặc kể cả
những từ không có nghĩa)
Bên cạnh dấu hiệu tên gọi, âm thanh
cũng được bảo hộ như nhãn hiệu tại Pháp
Thực tế, để phù hợp với các quy định của
Liên minh châu Âu (Chỉ thị No 89-104 ngày
21/12/1988), việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
bắt đầu từ đạo luật năm 1991(4) (Ví dụ: tiếng
gầm sư tử của nhãn hiệu hãng phim Mỹ
“Metro Goldwyn Mayer” đã được bảo hộ tại
Pháp từ ngày 4/11/1994).(5) Âm thanh được
bảo hộ như nhãn hiệu với điều kiện âm thanh
đó có thể được thể hiện dưới dạng hình hoạ hoặc xác định được bằng máy ảnh phổ âm thanh Ảnh phổ âm thanh là loại máy có chức năng ghi lại âm thanh và thể hiện lại
âm thanh đó dưới dạng hình hoạ bằng những đường cong khác nhau.(6) Do vậy có thể đánh giá được tính phân biệt của âm thanh Cũng theo định nghĩa trên, màu sắc có thể cấu thành nhãn hiệu Pháp luật của Pháp thừa nhận dấu hiệu màu sắc từ đạo luật năm
1857 cho đến nay Theo luật và án lệ của Pháp, màu sắc có thể được bảo hộ khi phối hợp cùng với những dấu hiệu khác hoặc bản thân sự phối kết hợp màu sắc nói riêng cũng
có thể được bảo hộ Ví dụ: được bảo hộ là
nhãn hiệu việc phối hợp các dải băng đỏ và trắng hoặc xanh lá cây và xanh da trời chạy dọc theo kem đánh răng hay màu vàng đặc biệt của bao bì sản phẩm Kodak.(7) Tuy nhiên, những màu cơ bản không được bảo hộ
vì số lượng những màu này có hạn
Riêng nhãn hiệu mùi vị đã được thừa
nhận ở một số nước khác như ở Mỹ (Ví dụ:
mùi dâu tây để chỉ chất bôi trơn cho động cơ
ô tô, động cơ trên không và động cơ dưới nước,(8) mùi hoa plumeria để chỉ chỉ khâu, chỉ thêu(9)…), ở Anh (Ví dụ: mùi hoa hồng
để chỉ lốp xe…)(10) hay liên minh châu Âu
(Ví dụ: mùi cỏ mới cắt để chỉ một loại bóng
tennis…)(11) nhưng cho đến nay vẫn chưa được luật của Pháp bảo hộ
2 Điều kiện pháp lí của dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu
Bộ luật sở hữu trí tuệ của Pháp quy định những dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu muốn được bảo hộ phải thoả mãn những điều kiện pháp lí sau: Dấu hiệu phải mang tính phân
Trang 3biệt (Điều L.711-2); dấu hiệu được lựa chọn
không được trái với trật tự công cộng và
thuần phong mĩ tục (Điều L.711-3); dấu hiệu
không mang tính lừa dối và không vi phạm
các quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ
Tiêu chí phân biệt là tiêu chí quan trọng
bởi lẽ tiêu chí phân biệt đồng thời là chức
năng của nhãn hiệu Theo Điều L.711-2 thì
tiêu chí phân biệt được đánh giá so với sản
phẩm hoặc dịch vụ mà nhãn hiệu chỉ định
Do vậy tiêu chí phân biệt của nhãn hiệu
mang tính tương đối Cùng dấu hiệu cấu
thành nhãn hiệu, dấu hiệu này có thể mang
tính phân biệt đối với một số sản phẩm hoặc
dịch vụ nhưng lại mang tính mô tả chung
chung đối với sản phẩm hoặc dịch vụ khác
Tính phân biệt của nhãn hiệu không đòi hỏi
tính mới mẻ hoặc tính độc đáo Tính mới mẻ
xa lạ với nhãn hiệu bởi lẽ nhãn hiệu không
yêu cầu sự sáng tạo Hơn nữa sáng tạo là
nghĩ ra những gì chưa tồn tại mà nhãn hiệu
chỉ là sự kết hợp những yếu tố sẵn có Tính
phân biệt cũng không yêu cầu sự độc đáo có
nghĩa là phải mang dấu ấn riêng Vậy nên,
dấu hiệu thông thường cũng có thể trở thành
phân biệt Ví dụ: Hình ảnh “chú cá voi” là
thông thường nhưng lại có tính phân biệt khi
được dùng để chỉ định nhãn hiệu muối ăn và
do vậy đã được bảo hộ tại Pháp
Tiêu chí phân biệt được xem xét, đánh
giá khi nộp đơn đăng kí bảo hộ nhãn hiệu
Tuy nhiên, luật về nhãn hiệu của Pháp cho
phép nhãn hiệu mà bản thân nhãn hiệu đó
không mang tính phân biệt nhưng có thể trở
nên phân biệt sau thời gian dài sử dụng
(Điều L.711-2 Bộ luật sở hữu trí tuệ) Điều
này cũng phù hợp với Điều 6 quinquiès c.1
của Công ước Paris về sở hữu công nghiệp (1883) Ngược lại tiêu chí phân biệt của nhãn hiệu cũng có thể mất đi sau thời gian dài sử dụng Nhãn hiệu trở thành từ ngữ thông thường để chỉ sản phẩm hoặc dịch vụ (Điều L.714 Bộ luật sở hữu trí tuệ)
Tiêu chí dấu hiệu không được trái với thuần phong mĩ tục và trật tự công cộng được đánh giá ở chính dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu mà không phải sản phẩm hoặc dịch vụ mà nhãn hiệu chỉ định Khái niệm trật tự công cộng của Pháp tương đối rộng, bao gồm toàn bộ các quy định pháp lí mang tính bắt buộc Theo án lệ của Pháp thì trật tự cộng cộng là trật tự công cộng kinh tế Về nguyên tắc là trật tự công cộng của nước Pháp mà không phải trật tự công cộng của nước xuất xứ nhãn hiệu.(12)
Một tiêu chí quan trọng nữa là dấu hiệu không mang tính lừa dối Điều L.711-3 nghiêm cấm việc thừa nhận nhãn hiệu hoặc
yếu tố cấu thành nhãn hiệu “nhằm lừa dối
công chúng, nhất là lừa dối về bản chất, chất lượng hoặc nguồn gốc địa lí của sản phẩm hoặc dịch vụ” Quy định này không điều chỉnh việc sử dụng gian lận nhãn hiệu mà tập trung vào đặc điểm lừa dối của chính nhãn hiệu đó kết hợp với mối liên hệ giữa nhãn hiệu và sản phẩm hoặc giữa nhãn hiệu và dịch vụ được nhãn hiệu chỉ định khi nộp đơn Bởi vậy, theo án lệ Pháp, nhãn hiệu
“Lavablaine et lainé” (len có thể giặt được
và làm bằng len) để chỉ các sản phẩm không được làm bằng len và cũng không thể giặt được;(13) nhãn hiệu “comme à la maison” (được làm ở nhà) để chỉ các loại mứt được sản xuất bằng dây chuyền công nghiệp; nhãn
Trang 4hiệu “Geneva” để chỉ các loại đồng hồ
không có xuất xứ từ Thuỵ Sỹ(14) đều bị coi là
nhãn hiệu lừa dối
Ngoài các tiêu chí nêu trên, dấu hiệu cấu
thành nhãn hiệu không được trùng hoặc
tương tự gây nhầm lẫn cho công chúng với
những quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ
(Điều L.711-4 Bộ luật sở hữu trí tuệ)
3 Đăng kí nhãn hiệu và gia hạn nhãn hiệu
Theo luật Pháp, quyền sở hữu nhãn hiệu
được xác lập trên cơ sở đăng kí tại Viện sở
hữu công nghiệp quốc gia (L’INPI)(15), được
ghi vào Sổ đăng bạ quốc gia về nhãn hiệu
(Registre national des marques) và được công
bố trên Tạp chí sở hữu công nghiệp (BOPI-
Bullletin officiel de la propriété industrielle)
(Điều R.714-2 Bộ luật sở hữu trí tuệ) Sau khi
hoàn tất thủ tục đăng kí theo pháp luật, chủ sở
hữu nhãn hiệu sẽ được cấp giấy chứng nhận
nhãn hiệu (Điều R.712-23 Bộ luật sở hữu trí
tuệ) Việc đăng kí sẽ có hiệu lực trong vòng
mười năm kể từ ngày nộp đơn và được gia
hạn nhiều lần liên tiếp không hạn chế
Việc gia hạn sẽ được tiến hành nếu như 6
tháng trước thời điểm hết hạn 10 năm, chủ
sở hữu nhãn hiệu nộp đơn và lệ phí yêu cầu
gia hạn (Điều 712-24 Bộ luật sở hữu trí tuệ)
Nếu như đơn yêu cầu gia hạn nộp muộn so
với thời hạn luật định thì đơn gia hạn được
coi là lần nộp đơn đầu tiên
Riêng đối với nhãn hiệu nổi tiếng, Điều
L.711-4 (a) Bộ luật sở hữu trí tuệ quy định
về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng bằng cách dẫn
chiếu đến Điều 6bis Công ước Paris về bảo
hộ sở hữu công nghiệp (1883) Theo luật và
án lệ Pháp, nhãn hiệu nổi tiếng có thể được
bảo hộ trên lãnh thổ của Pháp trong một số trường hợp ngay cả khi chủ sở hữu nhãn hiệu đó không tiến hành đăng kí tại Viện sở hữu công nghiệp (l’INPI) Chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng có quyền kiện và yêu cầu toà tuyên bố vô hiệu khi người thứ ba đăng kí nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu
đã được thừa nhận nổi tiếng (Điều L.711-4(a), Điều L.712-4 Bộ luật sở hữu trí tuệ) Cũng theo án lệ Pháp, chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng phải chứng minh sự nổi tiếng của nhãn hiệu.(16) Tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng không đăng kí thì không được kiện về việc làm giả nhãn hiệu.(17)
4 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu
Cũng như quy định của một số nước trên thế giới, luật của Pháp quy định chủ sở hữu nhãn hiệu được độc quyền khai thác nhãn hiệu đã đăng kí tại cơ quan có thẩm quyền l’INPI và có quyền cấm người thứ ba sử dụng nhãn hiệu của mình (Điều L.713-2 và L.713-3 Bộ luật sở hữu trí tuệ) Ngoài việc
sử dụng độc quyền nhãn hiệu cho sản phẩm hoặc dịch vụ của mình, chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng, cầm cố nhãn hiệu (Điều L.714-1 Bộ luật sở hữu trí tuệ), sử dụng nhãn hiệu làm vốn góp vào công ti.(18) Tuy vậy, tính độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu cũng bị hạn chế trong một số trường hợp luật định Chủ sở hữu nhãn hiệu
có nghĩa vụ không được vi phạm những quy định của pháp luật cạnh tranh Pháp (Điều 7
và 10 Pháp lệnh ngày 1/12/1986) và quy định pháp luật cạnh tranh của Cộng đồng châu Âu (Điều 81, 82 Hiệp ước Amsterdam
Trang 5và từ Điều 28 đến 30 Điều ước tự do lưu
thông hàng hoá và dịch vụ của Liên minh
châu Âu),(19) cũng như những quy định của
thuyết cạn quyền (Điều L.713-4 Bộ luật sở
hữu trí tuệ)
5 Chấm dứt quyền sở hữu nhãn hiệu
Quyền sở hữu nhãn hiệu phát sinh sau
khi chủ sở hữu nhãn hiệu tiến hành đăng kí
nhãn hiệu tại Viện sở hữu công nghiệp quốc
gia Pháp (L’INPI) Tuy nhiên, quyền sở hữu
nhãn hiệu có thể sẽ không được duy trì bảo
hộ đến hết thời hạn luật định trong những
trường hợp sau đây: trường hợp đăng kí
nhãn hiệu bị toà án tuyên bố vô hiệu, trường
hợp chủ sở hữu nhãn hiệu bị tước quyền sở
hữu nhãn hiệu và trường hợp chủ sở hữu
nhãn hiệu từ bỏ quyền sở hữu nhãn hiệu
+ Trường hợp đăng kí nhãn hiệu bị toà
án tuyên bố vô hiệu
Điều L.714-3 Bộ luật sở hữu trí tuệ quy
định các nguyên nhân vô hiệu đăng kí nhãn
hiệu: “tuyên bố vô hiệu đối với đăng kí nhãn
hiệu không phù hợp với các quy định từ Điều
L.711-1 đến L.711-4 của Bộ luật sở hữu trí
tuệ.” Nội dung quy định các điều luật này
chính là điều kiện pháp lí để các dấu hiệu có
thể trở thành nhãn hiệu như đã nêu ở trên
Hậu quả pháp lí của việc tuyên bố vô hiệu
đăng kí nhãn hiệu là tất cả các hành vi khác
liên quan đến nhãn hiệu đều bị vô hiệu, ví dụ
như hợp đồng licence về nhãn hiệu, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu…
Quyết định của toà án tuyên bố vô hiệu nhãn
hiệu sẽ được công bố trên Sổ đăng bạ nhãn
hiệu quốc gia (Registre national des marques)
Điều này tương đương với việc xoá sổ đăng
kí nhãn hiệu đã bị tuyên bố vô hiệu
+ Tước quyền sở hữu nhãn hiệu
Bộ luật sở hữu trí tuệ Pháp quy định ba nguyên nhân dẫn đến tước quyền nhãn hiệu: Tước quyền nhãn hiệu do không khai thác (Điều L.714-5 Bộ luật sở hữu trí tuệ), điều này nhằm tránh việc tồn đọng những nhãn hiệu đã đăng kí mà không được sử dụng; tước quyền sở hữu nhãn hiệu khi nhãn hiệu
đã trở nên quá thông dụng mà mất đi tính phân biệt trong thương mại sản phẩm và thương mại dịch vụ (Điều L.714-6 Bộ luật sở hữu trí tuệ); tước quyền sở hữu nhãn hiệu khi nhãn hiệu trở thành nhãn hiệu lừa dối (Điều L.714-6 (b) Bộ luật sở hữu trí tuệ)
Thứ nhất, tước quyền sở hữu nhãn hiệu
do không khai thác trong trường hợp nếu chủ
sở hữu nhãn hiệu không thực sự sử dụng nhãn hiệu một cách nghiêm túc trong năm năm liên tiếp mà không có lí do chính đáng sẽ
bị tước quyền sở hữu nhãn hiệu đã đăng kí (Điều L.714-5 Bộ luật sở hữu trí tuệ) Việc tước quyền sở hữu nhãn hiệu không được tiến hành một cách mặc nhiên mà phải do toà án quyết định Điều này có nghĩa là khi việc tuyên bố tước quyền sở hữu nhãn hiệu chưa được toà án có thẩm quyền tuyên bố thì nhãn hiệu không sử dụng vẫn được bảo hộ và quyền sử dụng nhãn hiệu vẫn thuộc về chủ sở hữu đã đăng kí nhãn hiệu đó Luật của Pháp còn quy định đối tượng có thể nộp đơn đề nghị tước quyền sở hữu nhãn hiệu đã đăng kí
là bất kì người nào có lợi ích liên quan (Điều L.714-5 Bộ luật sở hữu trí tuệ) Theo án lệ của Pháp đối tượng này có thể là các đối thủ cạnh tranh với chủ sở hữu nhãn hiệu
Trang 6Thứ hai, tước quyền sở hữu nhãn hiệu
khi nhãn hiệu đã trở nên quá thông dụng mà
mất đi tính phân biệt trong thương mại sản
phẩm, thương mại dịch vụ do chính hành vi
của chủ sở hữu nhãn hiệu Chủ sở hữu nhãn
hiệu hoặc có hành vi mang tính tích cực
nhằm thúc đẩy việc sử dụng nhãn hiệu của
mình trở nên thông dụng và khái quát (ví dụ
thông qua việc quảng cáo dịch vụ hoặc sản
phẩm) hoặc có thái độ tiêu cực thụ động đối
với nhãn hiệu của mình, trường hợp này xảy
ra nhiều trên thực tế Chủ sở hữu đã không
thực hiện những hành vi cần thiết để bảo vệ
quyền sở hữu nhãn hiệu của mình chống lại
việc nhãn hiệu đã bị sử dụng một cách thông
dụng để chỉ khái quát một loại hàng hoá
hoặc dịch vụ mà không còn khả năng phân
biệt với hàng hoá hoặc dịch vụ cùng loại
Trường hợp này thường xảy ra với nhãn hiệu
nổi tiếng, khi mối liên hệ nhãn hiệu - sản
phẩm hoặc nhãn hiệu - dịch vụ trở nên quá
gắn bó trong tâm trí người tiêu dùng khiến
cho người tiêu dùng sử dụng nhãn hiệu để
chỉ tất cả sản phẩm hoặc dịch vụ cùng loại
chứ không còn chỉ riêng một loại sản phẩm
hoặc dịch vụ nhất định có tính phân biệt với
sản phẩm, dịch vụ khác cùng loại, nhãn hiệu
trở thành danh từ chung và được sử dụng
trong cuộc sống hàng ngày Việc tước quyền
sở hữu nhãn hiệu do nhãn hiệu trở nên quá
thông dụng do lỗi của chủ sở hữu nhãn hiệu
như đã nêu ở trên phải do toà án quyết định
Thứ ba, tước quyền sở hữu nhãn hiệu khi
nhãn hiệu trở thành lừa dối Điều này xảy ra
khi bản chất, chất lượng, nguồn gốc địa lí…
làm nên đặc tính của sản phẩm, dịch vụ đã
thay đổi hoặc biến chất gây nhầm lẫn cho
người tiêu dùng và phải do lỗi của chủ sở hữu nhãn hiệu gây ra Cũng như hai trường hợp nên trên, việc tước quyền sở hữu nhãn hiệu khi nhãn hiệu trở thành lừa dối phải do toà án quyết định
+ Từ bỏ quyền sở hữu nhãn hiệu Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể từ bỏ nhãn hiệu đã đăng kí (Điều L.714-2 Bộ luật sở hữu trí tuệ) Việc từ bỏ quyền sở hữu nhãn hiệu phải được thể hiện bằng văn bản và được gửi đến Viện sở hữu công nghiệp quốc gia (L’INPI)
Như vậy, các quy định về nhãn hiệu của Pháp tương đối đầy đủ và mang tính rộng
mở Ngoài dấu hiệu chữ, những nhãn hiệu có dấu hiệu như màu sắc nói riêng, dấu hiệu âm thanh cũng được Pháp bảo hộ Trong tương lai không xa những nhà làm luật của Pháp hướng tới bảo hộ nhãn hiệu có dấu hiệu mùi
vị bởi lẽ nhãn hiệu có dấu hiệu mùi vị hiện nay đang được pháp luật của Liên minh châu
Âu từng bước bảo hộ Ở Việt Nam, cho đến nay dấu hiệu âm thanh, màu sắc, mùi vị đều chưa được bảo hộ Luật sở hữu trí tuệ của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 đã có những sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng thêm dấu hiệu được bảo hộ đối với nhãn hiệu nhưng vẫn chưa thừa nhận âm thanh, màu sắc hay mùi vị là những dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu (Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, việc mở rộng hơn nữa phạm
vi những dấu hiệu được bảo hộ là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu
Trang 7tư trong nước và nước ngoài./
(1) Nhãn hiệu hàng hoá được gọi là nhãn hiệu theo
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (khoản 16 Điều 4 Luật
sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005)
(2).Xem: Le Code de la propriété intellectuelle édition
2004, Nxb Dalloz
(3).Xem: Droit de la propriété industrielle, Jean Christophe
Galloux, Nxb Dalloz , 2000, tr 332
(4).Xem: Droit de la propriété industrielle, Jean Christophe
Galloux, Nxb Dalloz, 2000, tr 309, 341
(5).Xem: La marque sonore, par Hélène Thomopoulos
& Didier Le Goff, avocats tại http://www.legalbiznex.com
(6).Xem: Droit de la propriété industrielle, Jean
Christophe Galloux, Nxb Dalloz , 2000, tr 341
(7).Xem: Droit de la propriété industrielle, Frédéric
Pollaud-Dulian, Nxb Montchrestien, 1999, tr.532, 533
(8) Nhãn hiệu được đăng kí và công bố năm 1998 tại
Mỹ (xem http://www.breese.fr)
(9) Nhãn hiệu được đăng kí tại Mỹ ngày 26/3/1991
(xem http://www.breese.fr)
(10) Nhãn hiệu được đăng kí tại Anh ngày 9/4/1996
(xem http://www.breese.fr)
(11).Xem: “La difficile mais irréversible émergence
des marques olfactives” (sự phát triển khó khăn
nhưng không thể đảo ngược được của nhãn hiệu mùi),
Pierre Breese, đăng trên Tạp chí sở hữu công nghiệp
Breese Majerowicz No8 ra ngày 13/6/2003 tại địa chỉ
http://www.oami.eu.int/legal
(12).Xem: Droit de la propriété industrielle, Jean
Christophe Galloux, Nxb Dalloz , 2000, tr 347
(13).Xem: Droit de la propriété industrielle, Jean
Christophe Galloux, Nxb Dalloz , 2000, tr 350
(14).Xem: Droit de la propriété industrielle, Frédéric
Pollaud-Dulian, Nxb Montchrestien, 1999, tr 544
(15) L’Institut national de la propriété industrielle
(16).Xem: Droit de la propriété industrielle, Jean
Christophe Galloux, N Dalloz , 2000, tr 367
(17).Xem: Droit de la propriété industrielle (Précis),
Jacques Azéma và Jean-Christophe Galloux, Nxb
Dalloz, 2006, tái bản lần 6, tr.796, 797
(18).Xem: Droit de la propriété industrielle (Précis),
Jacques Azéma và Jean-Christophe Galloux, Nxb
Dalloz, 2006, tái bản lần 6, tr 818
(19) Droit de la propriété industrielle, Jean
Christophe Galloux, Nxb Dalloz , 2000, tr 396
VỀ CHỦ THỂ CÓ THẨM QUYỀN GIÁM
ĐỐC THẨM (tiếp theo trang 29)
Trên cơ sở những phân tích như đã trình bày, chúng tôi nhất trí với quan điểm của PGS.TS Trần Văn Độ cho rằng: Không nên quy định thẩm quyền giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC để Hội đồng tập trung vào việc hướng dẫn các toà án áp dụng thống nhất pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử; thông qua báo cáo của Chánh án TANDTC về công tác của toà án
để trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; chuẩn bị dự án luật để trình Quốc hội,
dự án pháp lệnh để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội Để thay thế vai trò của Hội đồng thẩm phán TANDTC trong giám đốc thẩm, thành lập Hội đồng thẩm phán chuyên ngành gồm 5 hoặc 7 thành viên do Chánh án TANDTC quyết định phân công cho từng
vụ án cụ thể Quy định như vậy là đảm bảo tính chuyên ngành của Hội đồng giám đốc thẩm Mặt khác, nếu thành lập Hội đồng giám đốc thẩm chuyên ngành gồm 5 hoặc 7 thành viên do Chánh án TANDTC quyết định phân công cho từng vụ án cụ thể sẽ linh hoạt hơn rất nhiều so với quy định hiện hành Việc quy định theo hướng đó cũng đảm bảo tính khả thi cho việc quy định tất
cả các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm phải có mặt tại phiên toà vì số lượng thẩm phán không nhiều và có thể thay đổi Khi các thành viên đã có mặt đầy đủ tại phiên toà thì những bất cập hiện nay trong việc Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết để
ra quyết định giám đốc thẩm cũng sẽ được giải quyết một cách triệt để hơn./