Tuy nhiên, bên cạnh pháp luật tố tụng dân sự hay pháp luật trọng tài, trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia chúng ta còn tìm thấy nhóm quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
Trang 1
TS NguyÔn §øc Minh * heo Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, người tiêu dùng được
định nghĩa là người mua, sử dụng hàng hoá,
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt
của cá nhân, gia đình và tổ chức Như vậy,
quan hệ giữa người tiêu dùng và người bán,
người cung cấp hàng hoá, dịch vụ phát sinh
trên cơ sở hợp đồng dân sự và tranh chấp từ
quan hệ đó cần phải được hai bên tự giải
quyết theo nguyên tắc hòa giải hoặc theo thủ
tục tố tụng dân sự Tuy nhiên, bên cạnh pháp
luật tố tụng dân sự hay pháp luật trọng tài,
trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia
chúng ta còn tìm thấy nhóm quy phạm pháp
luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng với
các quy định về trách nhiệm của người sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và quyền
lợi, trách nhiệm của người tiêu dùng Sự tồn
tại của nhóm quy phạm pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng cho thấy sự “chen
ngang” của Nhà nước vào quan hệ kinh
doanh của các chủ thể dân sự Liệu sự can
thiệp của Nhà nước vào quan hệ kinh doanh
của các chủ thể dân sự nhằm mục đích bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng có mâu thuẫn
với nguyên tắc bình đẳng và yêu cầu bảo
đảm nguyên tắc tự do của kinh tế thị trường
và sự phát triển của hoạt động kinh doanh?
Đó là câu hỏi mà nội dung bài viết này tập
trung làm rõ
Mục tiêu trước hết của pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng là bảo đảm sự cân bằng về lợi ích giữa các chủ thể trong quan
hệ pháp luật Ai cũng biết, trong quan hệ mua bán, trao đổi, do những hạn chế về thông tin, về kiến thức chuyên môn, về các nguồn lực, về khả năng đàm phán, kí kết hợp đồng và khả năng tự bảo vệ khi tranh chấp nên người tiêu dùng thường có vị thế yếu hơn so với người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Trong xã hội công nghiệp và nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, hàng hoá, dịch vụ không còn là sản phẩm của sự sản xuất giản đơn hay do một nhà sản xuất, kinh doanh cung cấp mà là sự kết tinh của thành tựu khoa học, công nghệ,
là kết quả của quá trình sản xuất mang tính chuyên môn hoá cao, của sự tham gia của nhiều nhà sản xuất, phân phối, kinh doanh ở các vùng lãnh thổ khác nhau Như vậy, với kinh nghiệm và sự cảm nhận thông thường không thông qua sự trợ giúp của các phương tiện kĩ thuật thì người tiêu dùng tự mình khó
có thể đánh giá đúng được giá trị thực tế, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, xuất xứ hàng hoá v.v cũng như phát hiện được các khuyết tật của hàng hoá, dịch vụ Ngoài ra, sự phức tạp của các quy định pháp luật cũng làm cho người tiêu dùng thêm khó khăn trong việc
T
* Nghiên cứu viên Viện nhà nước và pháp luật Viện khoa học xã hội Việt Nam
Trang 2hiểu và vận dụng chúng Trái lại, người sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ do hoạt
động chuyên nghiệp, thường xuyên với một
loại nhóm hàng hoá, dịch vụ cũng như do
giao dịch với nhiều đối tượng khách hàng
khác nhau nên có nhiều kiến thức chuyên
môn và kinh nghiệm nghề nghiệp hơn so với
người tiêu dùng Thêm vào đó, số lượng có
hạn người sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ (trong sự so sánh với số lượng người
tiêu dùng) cũng như việc sử dụng các hợp
đồng được soạn thảo sẵn và nghệ thuật
quảng cáo của người sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ cũng làm hạn chế thêm cơ
hội lựa chọn, khả năng tự thể hiện của người
tiêu dùng và chi phối, tác động đến ý thức
của họ khi quyết định trong đàm phán, kí kết
hợp đồng Cũng cần phải nói thêm rằng với
tài sản, vốn kinh doanh, bộ máy giúp việc,
các phương tiện kĩ thuật phục vụ hoạt động
kinh doanh, người sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ có nhiều lợi thế hơn người tiêu
dùng về phương diện nguồn lực tài chính, kĩ
thuật, nhân sự Trong quan hệ pháp luật với
người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ, người tiêu dùng được bảo vệ với hai tư
cách: tư cách của người công dân và tư cách
của người tiêu dùng Trong quan hệ công
dân, người tiêu dùng là đối tượng được điều
chỉnh của pháp luật về quyền công dân và
bảo vệ quyền công dân Trong quan hệ mua
bán, trao đổi, người tiêu dùng có các quyền
phát sinh trên cơ sở hợp đồng kí kết giữa họ
với người bán, người kinh doanh Quyền
phát sinh trên cơ sở hợp đồng là quyền thứ
phát, là cấp độ thể hiện thứ hai của quyền
công dân và được tạo ra trên cơ sở năng lực pháp luật và từ sự thực hiện năng lực hành vi của công dân Ở đây, quyền lợi của người tiêu dùng trong quan hệ với người bán, người cung cấp dịch vụ được bảo vệ theo các nguyên tắc của luật hợp đồng, luật dân sự, luật trách nhiệm sản phẩm và tranh chấp, thiệt hại phát sinh từ quan hệ đó được giải quyết theo các nguyên tắc và thủ tục của luật
tố tụng dân sự hoặc luật trọng tài Sự tồn tại của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bên cạnh pháp luật về quyền công dân
và bảo vệ quyền công dân như luật hiến pháp, luật dân sự, luật tố tụng dân sự v.v chính là một trong những hiện tượng cho thấy sự bảo vệ của Nhà nước đối với người tiêu dùng trong quan hệ giữa họ với người bán, người cung cấp dịch vụ
Đảm bảo sự cân bằng lợi ích và cùng với
đó là sự bình đẳng trên thực tế giữa người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng là lí do chính nhưng không phải là lí do duy nhất để Nhà nước can dự vào mối quan hệ giữa các chủ thể này Nếu người tiêu dùng tuy có vị thế bất lợi hơn so với người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ nhưng họ vẫn đạt được lợi ích từ sự giao dịch và quyền lợi của họ không bị xâm phạm thì đương nhiên sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ của họ là không cần thiết Tất nhiên, sự can thiệp của Nhà nước trong trường hợp này vẫn không bị loại trừ nếu như sự can thiệp đó là để bảo vệ lợi ích của người thứ ba hoặc lợi ích của xã hội Như vậy, Nhà nước chỉ can thiệp vào quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của
Trang 3người tiêu dùng khi quyền lợi của chủ thể
này bị người khác xâm phạm hoặc bị đe dọa
xâm phạm Ở đây, pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng góp phần khắc phục hậu
quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
cũng như hạn chế mặt trái của quá trình sản
xuất, tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường
Tuy nhiên, liệu sự can thiệp của các cơ quan
quản lí nhà nước có thể được thực hiện ngay
cả khi không có yêu cầu của chính người bị
xâm hại hay không là vấn đề chưa được
nhận thức thống nhất Hiện nay, ngoài việc
áp dụng chế tài đối với các hành vi vi phạm
của người sản xuất, kinh doanh, các cơ quan
quản lí nhà nước, trước hết là toà án chỉ có
thể giải quyết tranh chấp giữa người sản
xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên cơ
sở việc khởi kiện của họ Trong thời gian
qua, người tiêu dùng nước ta hầu hết đều
biết đến các vụ vi phạm của người sản xuất,
kinh doanh như chè, rau được phun chất kích
thích, nước tương được sản xuất vi phạm
quy định vệ sinh, an toàn thực phẩm v.v
nhưng do không có người tiêu dùng bị thiệt
hại nào khởi kiện nên ngoài sự can thiệp,
kiểm tra của các cơ quan chức năng về quản
lí thị trường, về quản lí chất lượng hàng hoá
và vệ sinh, an toàn thực phẩm thì toà án
không thể vào cuộc Nếu trong trường hợp
này, Nhà nước trao quyền khởi kiện vì lợi
ích chung với mục tiêu bảo vệ quyền lợi của
nhiều người tiêu dùng cho các cơ quan quản
lí nhà nước, cho các tổ chức xã hội bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng thì phạm vi bảo vệ
người tiêu dùng sẽ được mở rộng hơn Công
nhận quyền khởi kiện vì lợi ích chung là cần
thiết, nhất là khi chúng ta chưa có cơ chế khởi kiện tập thể và trong trường hợp hành
vi vi phạm gây thiệt hại cho nhiều người tiêu dùng nhưng do lợi ích bị xâm hại của mỗi người không lớn và do những lí do khác nhau nên mỗi người trong số họ không khởi kiện Nhà nước ban hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bảo đảm thực thi nó không chỉ nhằm bảo vệ người tiêu dùng mà còn vì lợi ích của chính Nhà nước
và của người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Chẳng hạn, nếu không có dịch cúm gia cầm (H5N1) mà người chăn nuôi, người buôn bán cũng có lỗi do không tiêm vắc-xin phòng bệnh cho gia cầm hoặc do chế biến, buôn bán gia cầm có mầm bệnh thì mấy năm qua ngành y tế không mất hàng trăm tỉ đồng chi cho y tế dự phòng, mua thuốc dự trữ và trang thiết bị phục vụ cho công tác khám và điều trị bệnh cúm gia cầm Như vậy, nếu làm tốt công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì Nhà nước sẽ đỡ mất nhiều chi phí
để giải quyết hậu quả từ hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng của người sản xuất, kinh doanh Ở đây, chúng ta cần nhận thức rằng chi tiêu cho công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là chi cho đầu tư phát triển chứ không phải chi cho hoạt động xã hội mang tính nhân đạo Ngoài ra, nếu coi mỗi người dân đều là người tiêu dùng thì nước ta có hơn 80 triệu người tiêu dùng Như vậy, Nhà nước bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bảo vệ số đông của xã hội Nếu Nhà nước làm tốt công tác này sẽ tạo ra tâm
lí yên tâm trong tiêu dùng của người dân và cùng với đó Nhà nước sẽ tranh thủ được sự
Trang 4ủng hộ rộng rãi của xã hội Cuối cùng, cũng
cần phải nhấn mạnh rằng so với các chủ thể
khác thì Nhà nước là chủ thể có đủ điều kiện
nhất về tài chính, nhân lực, bộ máy cưỡng
chế để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thông qua các cơ quan quản lí nhà nước,
Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh cho các
chủ thể kinh doanh, thiết lập và kiểm soát thị
trường, cảnh báo và cung cấp cho người tiêu
dùng những thông tin chính thức về hành vi
vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, giải
quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ
giữa người sản xuất, kinh doanh, cung cấp
dịch vụ và người tiêu dùng cũng như áp
dụng các chế tài hình sự, hành chính, dân sự
đối với hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo
vệ người tiêu dùng Chính hoạt động bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng sẽ làm cho cơ
quan quản lí nhà nước gần dân hơn và thể
hiện rõ hơn tính chất của dân, do dân và vì
dân của Nhà nước
Ngoài các lí do đã đề cập ở trên, bảo vệ
niềm tin của người tiêu dùng cũng là nhân tố
thúc đẩy sự can thiệp của Nhà nước vào
quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh,
cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng Như
chúng ta đã biết, giữa niềm tin của người
tiêu dùng và sự phát triển sản xuất, kinh
doanh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Tiêu dùng cá nhân của người tiêu dùng, nhất
là ở các nước kinh tế phát triển,(1) chiếm tỉ
trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc dân
nên nếu nhu cầu tiêu dùng cá nhân tăng thì
sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh
phát triển Nếu hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ
không đảm bảo chất lượng và qua đó quyền
lợi của người tiêu dùng bị xâm hại thì người tiêu dùng sẽ mất niềm tin và giảm bớt nhu cầu tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ Điều này sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất, kinh doanh Ở nước ta đã có giai đoạn thị trường bị chiếm lĩnh bởi hàng hoá của Trung Quốc như phích nước, quạt điện, xe máy, hoa quả, bia, thực phẩm, đồ chơi trẻ em v.v nhưng do chất lượng của nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc không ổn định hoặc do không an toàn trong khi sử dụng nên sau một thời gian có mặt trên thị trường nước ta các mặt hàng này đã bị giảm doanh thu tiêu thụ Trong tiêu dùng cũng có giai đoạn người dân nước ta sùng bái hàng nhập khẩu hoặc hàng hoá, dịch vụ được sản xuất, cung cấp bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là do hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trong nước kém chất lượng Nhiều người sản xuất, kinh doanh không chân chính đã lợi dụng tâm lí “chuộng hàng ngoại” đó của người tiêu dùng để sản xuất hàng giả, hàng nhái mang thương hiệu của các hãng có uy tín hoặc gắn xuất xứ nước ngoài Ở đây, cơ chế bảo vệ người tiêu dùng kém hiệu quả đã là mảnh đất để các hành vi
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phát triển và điều này đã làm tổn hại sự phát triển lành mạnh của sản xuất và thị trường Thiệt hại
từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc từ sự cung cấp sản phẩm, dịch vụ không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng đã đăng kí của người sản xuất, kinh doanh không chỉ gây hại cho người tiêu dùng mà ở mức độ nào đó còn làm tổn hại đến hình
Trang 5ảnh, uy tín của quốc gia hoặc của địa
phương nơi xuất xứ của sản phẩm, dịch vụ
Nếu tôm của các doanh nghiệp Việt Nam bị
hạn chế nhập khẩu vào thị trường Mỹ, Tây
Âu, Nhật Bản do dư lượng kháng sinh hoặc
do nuôi bằng thức ăn có chất kích thích thì
người tiêu dùng ở các quốc gia và khu vực
này cũng sẽ e ngại khi mua các sản phẩm
thủy sản khác có xuất xứ từ Việt Nam
Trong những năm qua, nhiều hàng nhái, sản
phẩm kém chất lượng do một số doanh
nghiệp kinh doanh không chân chính của
Trung Quốc sản xuất, kinh doanh đã làm
thiệt hại cho người tiêu dùng Việt Nam và
làm người dân cảnh giác, thận trọng trong
tiêu thụ, thậm chí tẩy chay các hàng hoá
khác có nguồn gốc từ Trung Quốc
Từ các lí do nói trên, sự can thiệp hợp lí
của Nhà nước vào quan hệ giữa người sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, cung cấp dịch
vụ và người tiêu dùng là cần thiết Vai trò
điều tiết, can thiệp, giám sát, trọng tài của
Nhà nước với mục tiêu đảm bảo sự bình
đẳng, tạo ra sự cân bằng trên thực tế về lợi
ích giữa người sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ và người tiêu dùng là một
trong những biện pháp bảo đảm các quyền
cơ bản của người tiêu dùng đã được nhiều
quốc gia thành viên Liên hợp quốc công
nhận.(2) Sự “chen ngang” của Nhà nước
vào quan hệ giữa người sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng
một mặt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người tiêu dùng trước sự xâm hại,
khai thác thu lợi bất chính của người sản
xuất, kinh doanh Mặt khác, thông qua việc
áp dụng các biện pháp chế tài đối với hành
vi gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, Nhà nước hạn chế những tác động tiêu cực từ mặt trái của sự phát triển kinh tế thị trường, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng từ phía nhà sản xuất, kinh doanh(3) để
từ đó củng cố niềm tin của người tiêu dùng
và hình thành nên môi trường kinh doanh văn minh.(4)
Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhưng không phải là chủ thể duy nhất thực hiện nhiệm vụ này Bên cạnh Nhà nước, trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần có sự tham gia của chính người tiêu dùng và của cả xã hội Liệu chúng ta có nên xác định rõ ràng và cụ thể mức độ trách nhiệm của mỗi chủ thể này trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nói cụ thể hơn, trong ba trụ cột bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Nhà nước (chủ yếu thông qua hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước); người tiêu dùng (người tiêu dùng và các tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp do người tiêu dùng tổ chức ra để đại diện, bảo vệ cho lợi ích của người tiêu dùng); xã hội (các tổ chức xã hội, doanh nghiệp hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài hỗ trợ, giúp đỡ trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) thì chủ thể nào có trách nhiệm chính trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc chúng ta nên nhấn mạnh vai trò của trụ cột nào?
Khác với quan điểm cho rằng người tiêu dùng là chủ thể chính của mối quan hệ giữa
Trang 6họ với người bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ
và hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng có liên quan trực tiếp đến người tiêu
dùng nên người tiêu dùng phải có trách
nhiệm chính trong công tác bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, chúng tôi cho rằng bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm
chung của toàn xã hội và cần có sự phối hợp
chặt chẽ, đồng bộ trong hành động của Nhà
nước, cộng đồng xã hội (trong đó có cả
doanh nghiệp, người sản xuất, kinh doanh,
làm dịch vụ) và của người tiêu dùng Tuy
nhiên, trong công tác bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng cũng cần xác định vai trò của từng
trụ cột Trong ba trụ cột bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng thì Nhà nước giữ vai trò chỉ
đạo, xây dựng chính sách, pháp luật, điều
phối hoạt động, kiểm tra, giám sát, giải
quyết tranh chấp và xử lí hành vi vi phạm
Bên cạnh đó, Nhà nước cần khuyến khích
vai trò giám sát xã hội, hỗ trợ, trợ giúp của
cộng đồng xã hội, đề cao tính trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp và vai trò tự bảo vệ
của người tiêu dùng Ở đây, nếu Nhà nước
phát động và duy trì được phong trào bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng thì sẽ thu hút được
sự tham gia của cả cộng đồng xã hội vào
hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
qua đó góp phần tăng cường ý thức bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng của xã hội Nếu
tạo ra sự giám sát chặt chẽ của xã hội đối với
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp thì sẽ có sự quan hệ chặt chẽ giữa
người dân và các cơ quan quản lí nhà nước
trong bảo vệ người tiêu dùng Nhờ có sự
phát hiện, tố cáo của người dân, cơ quan
quản lí nhà nước có thẩm quyền có thể kịp thời ngăn chặn việc đưa ra thị trường những sản phẩm, hàng hoá không đạt tiêu chuẩn chất lượng cho phép của các doanh nghiệp,
(Xem tiếp trang 64)
(1) Ở Quécbec (Canada) tiêu dùng cá nhân của người tiêu dùng chiếm 60% tổng sản phẩm quốc nội của
Bang này Yvan Turcotte, “Sự tham gia của Chính
phủ vào vấn đề bảo vệ người tiêu dùng”, Báo cáo tại buổi tọa đàm: “Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” do Viện khoa học pháp lí (Bộ tư pháp) tổ chức tại
Hà Nội ngày 14-15/8/2007
(2) Đó là quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, quyền được an toàn, quyền được thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được khiếu nại và bồi thường, quyền được giáo dục
về tiêu dùng và quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững Các quyền này được ghi nhận trong Bản hướng dẫn ngày 9/4/1985 của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng Ở nước ta, các quyền này của người tiêu dùng cũng được ghi nhận trong Chương II Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27/4/1999
(3).Xem: Dương Thị Thanh Mai, “Hoàn thiện pháp
luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam - Một vài gợi
mở từ góc nhìn lí luận”, Báo cáo tại buổi tọa đàm:
“Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” do Viện khoa học pháp lí (Bộ tư pháp) tổ chức tại Hà Nội ngày 14-15/8/2007
(4) Chẳng hạn, chấm dứt được các hành vi kinh doanh không lành mạnh, mang tính chộp giật, thiếu văn hoá như: Chèo kéo, bám theo khách du lịch để bán hàng ở các điểm du lịch; nâng giá hàng hoá, dịch
vụ ở các vùng bị thiên tai, bão lụt hoặc trong các dịp
lễ, tết; thu phí trông giữ phương tiện giao thông gấp nhiều lần mức Nhà nước quy định tại các bệnh viện, điểm tham quan, đền, chùa v.v sẽ góp phần tạo nên
sự văn minh trong kinh doanh ở các nơi đó