Trong thực tế, đã có nhiều biện pháp đề ra để đổi mớiphương pháp giảng dạy bộ môn như: sử dụng đồ dùng trực quan, sơ đồ hóa kiếnthức, lập bảng hệ thống kiến thức… để học sinh ghi nhớ các
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử là môn học đóng vai trò quan trọng giúp trang bị cho học sinh cónhững hiểu biết cơ bản giá trị lịch sử nhân loại, có cái nhìn đúng đắn về quá khứcủa dân tộc, từ đó có những định hướng cho tương lai, góp phần nâng cao tinhthần yêu nước cho các em Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch
sử càng trở nên cấp thiết Trong thực tế, đã có nhiều biện pháp đề ra để đổi mớiphương pháp giảng dạy bộ môn như: sử dụng đồ dùng trực quan, sơ đồ hóa kiếnthức, lập bảng hệ thống kiến thức… để học sinh ghi nhớ các sự kiện
Đổi mới phương pháp dạy học luôn là một vấn đề cần thiết trong dạy học nóichung Đối với môn Lịch sử, từ trước tới nay vẫn được coi là một môn khó học vì
có quá nhiều mốc thời gian và sự kiện Vì vậy học sinh rất ngại học và nhiều họcsinh xa dời bộ môn này Chính vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học để làmsao các em học sinh không còn “sợ”, không còn “chán” môn Lịch sử là tráchnhiệm của những thầy cô đứng lớp bộ môn Lịch sử
Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đặc biệt cuộc cáchmạng 4.0, việc khai thác tài nguyên tri thức không còn là tài sản riêng của mộtlĩnh vực nào Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau.Các nguồn thông tin phong phú đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt
giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và học
Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh tự lực chiếm lĩnhkiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảysinh trong cuộc sống Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành giáo dụcnói chung, nhà trường và giáo viên nói riêng
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cậnnội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ việc quan tâm đến họcsinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng cái gì qua việc học Đểđảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từphương pháp dạy học theo lối “ truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cáchvận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồngthời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sangkiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cảkiểm tra, đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập
để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học
và giáo dục Trong xu hướng đó giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đếncho học sinh mà cần dạy cho học sinh cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảmbảo cho việc tự học suốt đời của học sinh
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở nhiều trường phổ thông nói chung vàtrường THPT Quan Sơn – nơi tôi đang công tác – nói riêng, trong nhiều năm, họcsinh vẫn tiếp thu kiến thức lịch sử một cách khá thụ động, chưa có khả năng tựhọc, chủ yếu vẫn dựa vào kiến thức giáo viên truyền đạt, học “thuộc lòng”, ghinhớ máy móc Học sinh chủ yếu học bài nào biết bài đó, chưa có sự liên hệ giữacác bài, chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau nên chưa phát huy được tư duylogic, tư duy hệ thống Do đó, tâm lý chung của các em là rất ngại học, thậm chí
là “sợ” môn học này Và cũng vì vậy mà những năm gần đây khi Bộ Giáo dục vàđào tạo chuyển từ hình thức thi tự luận sang hình thức thi trắc nghiệm thì điểm thitốt nghiệp của các em vẫn còn thấp
Với mong muốn tạo cho các em một tâm lí hứng khởi, chủ động, tích cực vàhình thành tư duy lôgic, tư duy hệ thống, phát huy được năng lực của học sinh
Trang 2trong quá trình dạy học Lịch sử, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Sử dụng hình ảnh lịch sử và sơ đồ tư duy nhằm phát huy năng lực của học sinh lớp 12A1 trường THPT Quan Sơn qua bài 17: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, Lịch sử 12 – Ban cơ bản) Với
đề tài này sẽ giúp các em phát huy tốt khả năng tự học, chủ động, sáng tạo trongquá trình tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu cũng như từ thực tế các em sẽ học được rấtnhiều kiến thức, kỹ năng và giá trị mới; hơn nữa các em còn có thể khám phá các
ý tưởng theo sở thích, nguyện vọng của cá nhân cũng như các thành viên trongmột nhóm qua đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bài học
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi viết kinh nghiệm này với mục đích:
- Từng bước thay đổi phương pháp học của học sinh trong bộ môn Lịch sử,phát huy năng lực của học sinh, mở rộng hiểu biết cho các em và thực hiện tốt đổimới phương pháp dạy và học mà Bộ giáo dục đề ra
- Sau khi tìm hiểu bài học này các em sẽ vận dụng kiến thức một cách linhhoạt để làm bài tập trắc nghiệm, không bị nhầm lẫn các sự kiện
- Ghi chép lại những phương pháp dạy học mà tôi đã thực hiện trong nhiềunăm qua và chia sẻ với đồng nghiệp về những việc mình đã làm trong công tácgiảng dạy
- Rèn luyện tính năng động, say mê trong sáng tạo, cố gắng học tập để nângcao hơn nữa về chuyên môn bắt kịp sự phát triển của xã hội
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này có thể áp dụng được với cả các khối 12 và trên thực tế trong nămhọc 2021-2022 tôi đã áp dụng với học sinh lớp 12A1 mà tôi được giao giảng dạy,kết quả mang lại rất khả quan Đây là đối tượng đang chuẩn bị cho kỳ thi THPT.Ngoài ra, đề tài cũng chú trọng đến đối tượng học sinh khá, giỏi giúp các em cóđược những kiến thức sâu sắc về lịch sử phục vụ cho những kì thi sắp tới
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tham khảo và đọc tài liệu có liên quan đến đề tài Để có thểhiểu bài, nắm bắt được các kiến thức cơ bản, hiểu rõ được bản chất sự kiện, đồngthời có thể vẽ được sơ đồ tư duy thì điều quan trọng là phải tìm hiểu, nghiên cứu
kỹ tài liệu nhất là kiến thức sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo có liên quan
- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin: trên cơ sở của tiết học, tính hiệuquả của các tiết học và việc học sinh hứng thú tiếp thu bài như thế nào, làm bàiđạt kết quả ra sao… để đánh giá tính hiệu quả, tính thực tiễn của đề tài
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: điều tra tính hiệu quả của đề tài thôngqua phiếu học tập, thông qua kết quả học tập của học từng kỳ và cả năm học
- Soạn và thiết kế giáo án theo phương pháp định hướng năng lực
Trang 32 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận
Quan niệm về tính tích cực và tính tích cực trong dạy học lịch sử
Tính tích cực bao gồm cả tích cực bên trong thể hiện ở sự vận động tư duy,trí nhớ, những chấn động của các cung bậc tình cảm, cảm xúc và tích cực bênngoài lộ ra ở thái độ hành động đối với công việc Điều đó có nghĩa là tích cực là
một phương pháp mà khi vận dụng đòi hỏi vừa thúc đẩy sự tích cực bên trong (tư duy, tình cảm) và tích cực bên ngoài (thái độ, hành động) của cả giáo viên và học
sinh
Tính tích cực trong dạy học Lịch sử là một trong những phương pháp mớitrong quá trình dạy học, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa thầy - trò - lớp học.Trong mối quan hệ ấy, thầy đóng vai trò là người đạo diễn, tổ chức cho học tròbiết cách hành động, hợp tác với bạn, với thầy để tự mình khám phá ra chân lí vàứng dụng chân lí đó vào thực tiễn cuộc sống nhằm mục đích hình thành và pháttriển nhân cách con người lao động tự chủ, năng động sáng tạo
Quan niệm về tranh - ảnh và hình ảnh lịch sử
Quan niệm về tranh - ảnh
Tranh, ảnh là một thuật ngữ dùng để chỉ một bức vẽ, một bức hình thu chụpđược nhằm phản ánh một phần nào đó của hiện thực và nó được sử dụng làmphương tiện dạy học Đây là loại phương tiện được sử dụng phổ biến trong dạyhọc các môn học về tự nhiên và xã hội nói chung, loại phương tiện này thườngđược sử dụng khi không có vật thật hoặc hỗ trợ thêm cho vật thật
Quan niệm về hình ảnh lịch sử
Hình ảnh trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng là một loại phươngtiện trực quan quan trọng thuộc nhóm ĐDTQ tạo hình, nó chứa đựng, chuyển tảilượng thông tin lớn của giáo viên trong quá trình giảng dạy và là nguồn tri thứcphong phú, đa dạng góp phần tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển trítuệ và nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh trong quá trình học tập
Ý nghĩa của việc sử dụng hình ảnh lịch theo hướng phát huy năng lực của học sinh trong dạy học lịch sử
Thứ nhất, việc sử dụng hình ảnh trong DHLS sẽ góp phần cụ thể hóa nộidung sự kiện, nhân vật và giúp học sinh nhận thức được những nội dung khái quátlịch sử
Thứ hai, hình ảnh lịch sử không chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính mà còn ởnhận thức lí tính, làm cho học sinh có thể dễ dàng thu nhận một cách có hiệu quảkiến thức lịch sử
Thứ ba, hình ảnh lịch sử sẽ có vai trò lớn trong việc giúp học sinh nhớ kỹ,hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử, những tư tưởng thu nhận được
Thứ tư, hình ảnh lịch sử còn góp phần khắc phục tình trạng “hiện đại hóa”
của học sinh khi nhận thức lịch sử
Thứ năm, hình ảnh lịch sử ngoài việc góp phần tạo biểu tượng, hình thànhkhái niệm lịch sử, nó còn giúp học sinh phát triển khả năng quan sát, trí tưởngtượng, tư duy, ngôn ngữ và năng lực thực hành bộ môn Ngoài ý nghĩa giáodưỡng và phát triển nêu trên thì hình ảnh lịch sử còn góp phần rất lớn trong việc
Trang 4giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức và tính thẫm mỹ cho học sinh, bồi dưỡngcho học sinh những tình cảm đúng đắn, tích cực.
Cách sử dụng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là lược đồ tư duy, bản đồ tư duy (Mind Map) Đây
là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những
ý chính, ý cơ bản của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợpviệc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết… Sơ đồ tư duy là một sơ đồ
mở, nó không có một định dạng hoặc một khuôn mẫu nhất định Tùy thuộc vàotừng nội dung kiến thức, từng vấn đề, từng bài học khác nhau, tùy thuộc vào khảnăng tư duy và nhìn nhận vấn đề khác nhau của từng người mà sản phẩm tư duy(sơ đồ tư duy) sẽ có sự khác nhau
Việc sử dụng sơ đồ tư duy vào trong quá trình dạy học nhất là dạy học Lịch
sử sẽ huy động tối đa tiềm năng của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực và cótác dụng hỗ trợ cho các phương pháp dạy học khác Hơn nữa, việc vận dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học sẽ giúp học sinh tự tay ghi chép hay tổng hợp một vấn đề,một chủ đề đã học, đã đọc theo cách hiểu của học sinh dưới dạng sơ đồ tư duy
Để thực hiện việc lập sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử, tôi có thể tóm tắtthành các bước như sau:
- Bước 1: Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hoặc các nhân dựa trên yêucầu, gợi ý, hướng dẫn của giáo viên
- Bước 2: Sau khi thực hiện xong, học sinh hoặc đại diện cho nhóm sẽ lêntrình bày về sản phẩm tư duy của mình
- Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung kiến thức cho nhau để hoàn thiện sơ
đồ tư duy Giáo viên lúc này đóng vai trò là trọng tài, là cố vấn giúp các em hoànthiện sơ đồ tư duy
- Bước 4: Củng cố kiến thức, giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống lại kiếnthức bài học bằng sơ đồ tư duy
2.2 Cơ sở thực tiễn
Trường THPT Quan Sơn là một trong những trong những trường nằm ở khuvực miền núi, vùng sâu vùng xa còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn Vượt quanhiều khó khăn, thầy và trò nơi đây đã cùng nhau vượt khó, trong vài năm gầnđây tỷ lệ thi đỗ tốt nghiệp THPT và Cao đẳng - Đại học được nâng lên rõ rệt Các thầy cô trong nhà trường có trình độ chuyên môn tốt, đầy nhiệt huyếtvới lòng yêu nghề và luôn tích cực đổi mới phương pháp dạy học, rất chú trọngdạy học theo phương pháp mới - lấy học sinh làm trung tâm, phát triển tư duycho học sinh
Về thái độ học tập của học sinh: đa số các em nhiệt tình tham gia hoạt độngtrên lớp học, chịu khó tìm hiểu và phát biểu xây dựng bài Trong các hoạt độnggiao việc về nhà sưu tầm tài liệu, làm bài thuyết trình trước lớp cũng được các
em tích cực hưởng ứng
Về cơ sở vật chất: Trường có hệ thống cơ sở vật chất thuộc loại tốt và luônđược trang bị hoàn thiện hơn qua các năm học Hiện tại nhà trường có đầy đủmáy chiếu lắp đặt ở các phòng học
Tuy nhiên, do đặc thù khu vực nên việc đầu tư cho học tập và để thi đại họccao đẳng còn nhiều hạn chế, nhiều em còn rất lơ là với bộ môn Sử vì cho rằng
Trang 5môn Sử có nhiều sự kiện và khó nhớ, có nhớ cũng không nhớ được lâu nên cầnphải tạo được sự hứng thú học tập lịch sử cho các em, phát huy được tính tíchcực của bộ môn Muốn vậy, giáo viên phải tự tìm tòi, nâng cao chuyên môn, đổimới phương pháp dạy học Phát triển tư duy độc lập, sáng tạo là một khâu quantrọng trong dạy học lịch sử; tuy vậy, hiện nay một số giờ giảng của giáo viên trênlớp vẫn còn mang tính độc diễn, thầy giáo truyền thụ một chiều Cũng còn cótrường hợp, bài giảng của giáo viên chỉ là bản tóm tắt SGK mà không chú ý sửdụng các tranh ảnh cần thiết làm cho giờ học trở nên khô khan và kết quả là HSkhông hứng thú đối với việc học môn Lịch sử.
Cũng như việc học các bộ môn khác ở nhà trường phổ thông, học tập lịch sử
là một quá trình nhận thức, mỗi cá nhân phải chủ động thực hiện cùng với sựgiúp đỡ, hướng dẫn, điều chỉnh của thầy giáo Học tập lịch sử, HS không chỉdừng ở việc ghi nhớ các sự kiện, điều quan trọng là phải hiểu bản chất sự kiện,quá trình lịch sử, rút ra quy luật, tìm kiếm bài học từ quá khứ phục vụ cho hiệntại Vì vậy, dạy học lịch sử cần phát huy tính tích cực, sáng tạo từ phía học sinh
Quá trình nhận thức của học sinh cũng phải tuân theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn Đó là con đường biện chứng của của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [5, tr 270]
Chính vì vậy, đề tài tập trung đề xuất các nguyên tắc, biện pháp của việc sửdụng hình ảnh lịch sử và sơ đồ tư duy theo hướng phát huy năng lực của học sinh
trong DHLS ở trường THPT, cụ thể là bài 17 “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2- 9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, Lịch sử 12- ban cơ bản.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Tạo biểu tượng về các sự kiện, nhân vật lịch sử thông qua việc sử dụng các hình ảnh lịch sử
“Việc tạo biểu tượng có ý nghĩa rất quan trọng trong học tập lịch sử ở trường phổ thông Do đặc điểm của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ trực quan sinh động mà từ việc nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Tuy vậy, việc học tập lịch sử cũng tuân thủ quy luật chung của quá trình nhận thức từ cảm tính đến lý tính Có thể nói tạo biểu tượng là giai đoạn nhận thức cảm tính của quá trình học tập lịch sử” [7, tr 51] Biểu tượng lịch sử
là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý… được phản ánhtrong óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất
Nội dung của một sự kiện lịch sử được HS nhận thức thông qua việc tạohình ảnh về quá khứ bằng những hoạt động của các giác quan như thị giác tạonên những hình ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứthông qua lời giảng của GV Việc tạo biểu tượng cho HS là một việc làm khókhăn vì yêu cầu của DHLS là phải tái tạo những hình ảnh về các sự kiện đúngnhư nó tồn tại mà những sự kiện đó lại lùi xa vào quá khứ Vì vậy, hình ảnh lịch
sử có vai trò rất quan trọng trong việc tạo biểu tượng lịch sử cho HS
Có nhiều biện pháp để tạo biểu tượng lịch sử trong đó việc sử dụng hình ảnhlịch sử kết hợp với các đoạn tường thuật, miêu tả để tạo biểu tượng lịch sử là mộtbiện pháp sư phạm rất có hiệu quả Để thực hiện tốt biện pháp này, GV phải nắmvững và có kỹ năng sử dụng phương pháp tường thuật và miêu tả trong DHLS
Trang 6Khi học sinh quan sát hình ảnh cụ thể sẽ mang lại nhận thức chính xác, sinhđộng về sự kiện, nhân vật; trên cơ sở đó tạo cho các em những cảm xúc lịch sửmạnh mẽ, sâu sắc Đó chính là con đường có hiệu quả để tạo biểu tượng, hìnhthành khái niệm, nêu quy luật và rút bài học lịch sử.
Ví dụ, khi dạy học bài 17, “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày
2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, giáo viên có thể sử dụng bức ảnh “Lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 tại Hà Nội”, để tạo biểu tượng cho học sinh về việc
chính phủ ta kí với đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định ngoại giao và rút ranhận xét: “Lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 thể hiện hình ảnh nước Việt NamDân chủ cộng hòa trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc”
Nhận thức của HS là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết chưa sâu sắcđến biết sâu sắc, phong phú hơn Tạo tình huống có vấn đề và biết cách giảiquyết vấn đề sẽ giúp kích thích tư duy tích cực của HS Nhà tâm lí học Rubinxtên
đã khẳng định: “tư duy sáng tạo luôn luôn bắt đầu bằng một tình huống có vấn đề” [6, tr 23] Nhà thơ Maiacôpxki cũng đã phê phán một cách dí dỏm nhữngngười mà trong đầu óc họ không có những vấn đề gì để suy nghĩ bằng hai câu
thơ: “những kẻ đầu óc luôn luôn minh bạch, theo ý tôi chẳng qua họ ngốc” GV
phải biết gợi mở, trình bày, dẫn dắt, đặt ra những câu hỏi nêu vấn đề kích thích trí
tò mò, thích khám phá, sáng tạo của HS
Có nhiều cách thức để tạo tình huống có vấn đề, trong đó có biện pháp sửdụng hình ảnh lịch sử
Ví dụ: Khi dạy mục 2 II, bài 17, SGK Lịch sử lớp 12 (Chương trình
Chuẩn) GV sử dụng bức ảnh “ Nạn đói năm 1945”
Trang 7Sau khi miêu tả chi tiết bức tranh, GV đặt câu hỏi “Bức tranh nói lên điềugì?”, “Tại sao nước ta lại xảy ra nạn đói vào năm 1945? ” Cách đặt câu hỏi nhưvậy của GV cùng bức tranh sẽ làm nảy sinh trong nhận thức của HS vướng mắccần giải quyết Với sự hướng dẫn của GV, HS quan sát bức tranh, suy nghĩ và tìmlời giải Nhìn vào bức ảnh, học sinh sẽ thấy được nhiều xác người chết đói nằmngổn ngang trên các đường phố Nguyên nhân gây ra nạn đói năm 1945? Lời giải
từ bức tranh sẽ kích thích học sinh đi sâu phân tích nguyên nhân gây ra nạn đóinăm cuối năm 1945 đầu năm 1946 ở miến Bắc làm hơn 2 triệu người chết đói là
do chính sách khai thác, bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật
2.3.3 Sử dụng công nghệ thông tin để khai thác hình ảnh lịch sử nhằm tăng hiệu quả dạy học
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, nhất là công nghệthông tin với tiện ích của nó đã có tác dụng to lớn đối với sản xuất và đời sống xãhội Công nghệ thông tin đã trở thành công cụ trong nhiều lĩnh vực khác nhautrong đó có giáo dục và đào tạo
Do đặc trưng của bộ môn Lịch sử như đã trình bày ở trên nên việc ứng dụngcông nghệ thông tin lại càng cần thiết, tỏ ra khá hiệu quả và khả thi, nhất là trongviệc trình chiếu hình ảnh, chỉnh sửa bản đồ… nhằm góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học Hinh ảnh lịch sử khi được tích hợp với thiết bị của công nghệthông tin như: máy tín điện tử, máy chiếu, hệ thống âm thanh,… sẽ tạo nên màusắc, hình ảnh sống động, hấp dẫn cuốn hút HS vào bài giảng, giúp các em tiếpthu kiến thức có hệ thống và tích cực hơn
Ví dụ trong dạy học bài 17 “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày
2- 9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, SGK Lịch sử 12 GV cần phải sử dụng
một lượng hình ảnh lịch sử khá phong phú, bao gồm: các hình ảnh thể hiện các
sự kiện lịch sử; phim tư liệu… Khi chưa có công nghệ thông tin, GV phải mất rấtnhiều thời gian, công sức cho việc sưu tầm, phục dựng, in ấn, phô tô và sử dụngcác công đoạn khác theo hình thức thủ công, điều này làm GV rất ngại sử dụng
Trang 8hình ảnh thường xuyên trong các tiết dạy Hiện nay, với những thành tựu về côngnghệ thông tin, chỉ cần những thao tác đơn giản là GV có thể lên Internet tìm vàtải hình ảnh lịch sử và những tài liệu chú thích để phục vụ công việc dạy học.Như vậy, ứng dụng công nghệ thông tin góp phần giải phóng bớt những lao độngthủ công chiếm nhiều thời gian và công sức của người thầy giáo, góp phần làmbài giảng trở nên sinh động với những sự kiện nhân vật lịch sử cụ thể, chân thựcgiúp kích thích quá trình tư duy của HS, từ đó nội dung kiến thức được lĩnh hộiđầy đủ và khắc sâu hơn.
Như vậy, với những ưu thế vượt trội nêu trên không thể phủ nhận vai trò củacông nghệ thông tin trong tiến trình đổi mới PPDH Tuy nhiên, để áp dụng cóhiệu quả thành tựu công nghệ thông tin vào giảng dạy các môn học nói chunggiảng dạy lịch sử nói riêng đòi hỏi người GV cần chịu khó học hỏi nắm bắt kỹthuật và thao tác sử dụng thiết bị, phối hợp nhịp nhàng với các PPDH khác, đảmbảo bố trí hợp lí thời gian cho một tiết dạy, chủ động trong mọi tình huống Dù
có những ưu thế vượt trội nhưng chúng ta cũng không được tuyệt đối hóa và lạmdụng phương pháp này làm mờ nhạt vai trò của người GV
Ví dụ: Trong mỗi tiết học sau khi cung cấp cho HS những kiến thức của bài
học, GV tiến hành củng cố vào cuối các mục hoặc cuối bài để khái quát nhữngvấn đề cơ bản giúp HS nhớ và khắc sâu Thông thường, GV dành cho khâu củng
cố trong vòng 5 - 7 phút và với hình thức sử dụng các sơ đồ hoặc để HS trả lờinhững câu hỏi nhận thức đặt ra ở đầu mỗi bài học Hiện nay, với thành tựu vàtiện ích của công nghệ thông tin GV tổ chức cho HS củng cố kiến thức thông quamột số trò chơi với hình ảnh kết hợp với câu hỏi nhận thức để tạo tính mới mẽ,tạo hứng thú học tập cho các em GV có thể cho các em đi tìm các mảnh ghépbằng các hình ảnh để khám phá ra một bức tranh, tấm ảnh liên quan đến sự kiện,nhân vật lịch sử tiêu biểu trong bài học từ đó củng cố, khái quát, khắc sâu kiếnthức cơ bản
2.3.4 Sử dụng tài liệu thành văn và hình ảnh lịch để tạo hứng thú học tập lịch sử cho HS
Trong học tập, yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng Khi HS có tâm lýhứng thú, yêu thích học tập bộ môn thì kết quả học tập rất khả quan Hiện nay,
do tác động của một số nguyên nhân, nhiều HS không yêu thích bộ môn Lịch
sử, thực trạng ấy ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và kết quả học tập bộ môn
Để khắc phục tình trạng trên, chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp,trong đó có việc sử dụng tranh ảnh kết hợp với tài liệu thành văn để tạo hứng thúhọc tập cho HS
Tài liệu thành văn được hiểu là những sử liệu cho ta những thông tin vềcác sự kiện xảy ra được ghi lại bằng chữ viết qua các kênh thông tin khác nhau.Nguồn tài liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng đôi khi chiếm
vị trí chủ yếu trong các nguồn sử liệu [9] Tài liệu thành văn là nguồn sử liệuquý giá góp phần làm sáng tỏ những sự kiện, hiện tượng lịch sử Đây là nguồn
sử liệu đã được thời gian và thực tiễn lịch sử sàng lọc, kiểm chứng, có độ tincậy khoa học cao Việc kết hợp sử dụng tài liệu thành văn (nghe) và tranh ảnh(nhìn) sẽ tạo hiệu quả tổng hợp trong DHLS
Ví dụ: Khi dạy mục 3 III, bài 17, SGK Lịch sử lớp 12, để giải quyết nạn
Trang 9dốt, ngày 8 - 9 -1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha Bìnhdân học vụ GV sử dụng bức ảnh “Lớp Bình dân học vụ”.
Lớp bình dân học vụ
GV kết hợp với tài liệu thành văn sau: “Để phong trào có sức lan toả hơnnữa, ngày 4.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Chống nạn thất học”.Trong bài, Người nêu rõ một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc
này là nâng cao dân trí: “Muốn giữ vững nền độc lập Muốn làm cho dân mạnh nước giầu Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” Và Người kêu gọi:
“Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng.”…[8]
Với bức ảnh “Lớp Bình dân học vụ” còn có thể kết hợp với đoạn thơ trongbài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu:
“ Nhớ sao lớp học i tờĐồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan”
Đoạn tài liệu và 2 câu thơ trên sẽ giúp bổ sung, cụ thể những nội dung SGK,
góp phần làm sáng rõ vấn đề và là cơ sở để GV và HS khai thác bức ảnh “Lớp Bình dân học vụ” nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn tại sao mù chữ là một vấn nạn
và tầm quan trọng cần phải giải quyết nạn dốt và những khó khăn trong việc giảiquyết nạn dốt Qua đó cũng giáo dục cho HS ý thức học tập tốt hơn trong điềukiện đầy đủ hiện nay
2.3.5 Sử dụng hình ảnh lịch sử kết hợp với nêu câu hỏi nhận thức
Dạy học lịch sử có nhiều con đường, biện pháp để phát triển tư duy học
Trang 10sinh, một trong những biện pháp là sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồgiáo khoa để xây dựng hệ thống bài tập nhận thức.
Việc thiết kế bài tập nhận thức trên cơ sở tài liệu thành văn có thể nêu ra vàođầu giờ học hoặc trước mỗi mục nhằm tập trung sự chú ý và lôi cuốn HS Câuhỏi phải mang tính chất là một bài tập nhận thức nhưng phải tập trung vào nhữngnội dung cơ bản của bài học
Ví dụ: Khi dạy học mục 3 III, bài 17, SGK Lịch sử 12 GV có thể cho HS
xem bức ảnh “Lễ ký kết hiệp định sơ bộ” (phụ lục 8) và nêu câu hỏi nhận thức cho HS “Vì sao Đảng và chính phủ cách mạng của ta lại chủ trương hòa với Pháp ký hiệp định sơ bộ 6 – 3 -1946?” Qua đó giúp cho HS thấy được đường
lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh “cứng rắn
về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược”, phân hóa, cô lập kẻ thù cao độ Nhờ vậy
ta vượt qua được khó khăn, hiểm nghèo và bảo vệ được chính quyền cách mạng,tạo điều kiện cho toàn quốc kháng chiến
2.3.6 Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố bài học
Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong củng cố bài học lịch sử là một cách củng cốbài học dễ nhớ, dễ hiểu và mạch lạc nhất Sau bài học, giáo viên có thể cho họcsinh thiết kế một sơ đồ tư duy theo cách hiểu của các em Mỗi em sẽ có một sựsáng tạo riêng, một màu sắc riêng
Giáo viên có thể giao cho học sinh vẽ sơ đồ thiếu nội dung kiến thức cụ thể hoặcđầy đủ lượng kiến thức của bài học vừa được tìm hiểu, cho học sinh hoạt động cánhân hoặc nhóm Tuy nhiên, các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toànbài để một lần nữa khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm bài học
Ví dụ: Sau khi tìm hiểu xong mục II, bài 17: “Bước đầu xây dựng chính quyền
cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính”, GV sẽ sử dụng sơ
đồ tư duy để khái quát lại những khó khăn của cách mạng nước ta phải đối mặt, từ đó
HS sẽ thấy được tình thế của cách mạng là đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
là như thế nào (Xem phụ lục 10)
2.3.7 Thực nghiệm sư phạm
A Mục đích thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính đúng đắn của cơ sở líluận và những yêu cầu mang tính nguyên tắc cũng như kiểm nghiệm tính hiệu
quả, khả thi của đề tài “Sử dụng hình ảnh lịch sử và sơ đồ tư duy nhằm phát
huy tính tích cực của học sinh lớp 12A1 qua bài 17: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, Lịch sử 12 - Ban
cơ bản
B Phương pháp, kế hoạch thực nghiệm
Lựa chọn đối tượng thực nghiệm
- Để tiến hành đề tài này tôi chọn 1 lớp thực nghiệm (12A1) và 1 lớp đốichứng (12A2) ở trường THPT Quan Sơn
Nội dung thực nghiệm
Tiến hành dạy thực nghiệm bài: Bài 17 “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946” Tiến hành kiểm tra kết
Trang 11quả học tập giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để xem xét tính khả thi của
đề tài
Phương pháp thực nghiệm
Hướng dẫn áp dụng nội dung, phương pháp và một số biện pháp “Sử dụng
hình ảnh lịch sử và sơ đồ tư duy nhằm phát huy năng lực của học sinh lớp 12A1 qua bài 17: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946” Lịch sử 12 - Ban cơ bản.
Để đảm bảo tính khách quan, tôi chọn đối tượng nhận thức giữa lớp đốichứng và lớp thực nghiệm đều tương đương nhau về trình độ
Thực nghiệm cụ thể
Theo giới hạn của đề tài này tác giả chỉ ứng dụng trong bài:
Bài 17: NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TỪ SAU
NGÀY 2 – 9 – 1945 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19 – 12 - 1946
4 Năng lực hướng tới:
- HS hiểu được tình thế "ngàn cân treo sợi tóc” là gì, phương cách giải quyết của Đảng, CP và Bác Hồ lúc bấy giờ: nhạy bén và mềm dẻo Đảng và nhà nước ta
đã vận dụng như thế nào trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay?
II CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS
1 Chuẩn bị của giáo viên:
- Một số tư liệu:
+ Hình ảnh nạn đói cuối 1944 đầu 1945 ; hình ảnh về quân đồng minh vào
VN, phim ảnh về giặc dốt, giặc đói, tình hình tài chính
+ Tranh ảnh liên quan khác
2 Chuẩn bị của học sinh: SGK, vở ghi, vở soạn bài chuẩn bị theo nhóm
III PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC
Thuyết trình, phát vấn, hoạt động nhóm…
IV TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Hoạt động tạo tình huống:
Trang 12a Mục đích: Giúp HS huy động vốn kiến thức và kĩ năng đã có để chuẩn bị
tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới, còn nhằm tạo ra hứng thú và và một tâm thế tích cực để HS bước vào bài học mới
b Phương Pháp: GV cho HS xem 1 bức ảnh về nạn đói cuối năm 1944 đầu
năm 1945, Sau đó GV hỏi: Em biết gì về hình ảnh trên trên? HS suy nghĩ trả lời…
c Dự kiến sản phẩm:
- Dự kiến HS trả lời: nạn đói GV tiếp tục mời các em khác bổ sung
- GV bổ sung và dẫn dắt vào bài mới: Ngay sau khi ra đời, nước VNDCCHphải đối mặt trước những khó khăn chồng chất, đặt cách mạng vào tình thế "Ngàncân treo sợi tóc" Đảng, chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giảiquyết vấn đề đó như thế nào? Kết quả ra sao? Chúng ta cùng tìm hiểu bài hômnay
2 Hoạt động hình thành kiến thức:
Tiết 27.
Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân.
- GV yêu cầu HS đọc nhanh phần
I và trả lời câu hỏi: Tình hình
nước ta sau cách mạng tháng Tám
năm 1945 có những khó khăn gì?
- HS trả lời, GV chốt ý
Giáo Viên liên hệ những thỏa
thuận của hội nghị Ianta đã ảnh
hưởng đến tình hình Việt Nam
Cho HS xem hình quân Trung
Hoa Dân quốc kéo vào nước ta
(xem phụ lục 1)
Cho HS xem hình quân Anh kéo
vào nước ta (xem phụ lục 2)
GV: 20 vạn Tưởng và bọn tay sai
phản động, ĐQ Anh 1 vạn, ĐQ
Pháp, 6 vạn quân Nhật
GV cho HS xem hình “nạn đói
năm 1945” (xem phụ lục 3a,
3b) Qua đó cho Hs tìm hiểu
nguyên nhân gây ra nạn đói năm
1945
CH: Vì sao ngân khố nhà nước lại
I Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám 1945:
a Khó khăn:
* Đối ngoại:
- Sau cách mạng tháng Tám, lực lượng đếquốc đông, mạnh vào nước ta với danhnghĩa quân Đồng minh
+Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc: 20 vạn quânTrung Hoa Dân Quốc kéo vào
+ Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam: Quân Anhvào, dọn đường cho Pháp quay trở lại xâmlược
+ 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp, tiến hànhnhững hoạt động chống phá ta
- Theo sau chúng là bọn tay sai phản động
"Việt Quốc", "Việt Cách" Đại việt,Tơrôtkit
Âm mưu thủ tiêu thành quả cách mạng,chính quyền cách mạng
* Đối nội:
- Chính trị: Chính quyền cách mạng vừa
mới thành lập, lực lượng vũ trang còn nonyếu
- Kinh tế: Kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
chiến tranh tàn phá nặng nề, nạn đói…
- Tài chính: Ngân sách nhà nước trống
rỗng
Trang 13trống rỗng?
CH: Vì sao năm 1945 nước ta có
hơn 90% dân số bị mù chữ?
- GV: Theo em, khó khăn nào là
lớn nhất? Tại sao nói nước
VNDCCH đang đứng trước tình
thế “Ngàn cân treo sợi tóc”?
- Văn hoá - xã hội:
+ 90% dân số không biết chữ
+ Các tệ nạn xã hội chưa giải quyết được
=> Khó khăn lớn nhất là ngoại xâm, nội phản Đất nước đứng trước tình thế
“Ngàn cân treo sợi tóc”.
Hoạt động 2: Cá nhân.
- GV: Với muôn vàn khó khăn từ
sau CM tháng Tám năm 1945
nhưng nước ta có những thuận lợi
nào? Yếu tố nào đóng vai trò quan
trọng “Dễ trăm lần không dân
cũng chịu, khó vạn lần dân liệu
cũng xong”
- HS trả lời, GV chốt ý
CH: Dựa vào đâu khẳng định hệ
thống XHCN đang hình thành?
CH: Sau CTTG II phong trào
giải phóng dân tộc dâng cao ở
nhiều nước thuộc địa nào?
CH: Phong trào đấu tranh vì hòa
* Thế giới:
- Hệ thống XHCN trên TG đang hìnhthành…
- PT GPDT phát triển mạnh đã cổ vũ,động viên nhân dân ta đấu tranh
+ Tại sao phải xây dựng lực
lương dân quân tự vệ ở khắp nơi?
Liên hệ đến ngày nay.
II Bước đầu xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt
và khó khăn về tài chính
1 Xây dựng chính quyền cách mạng
a Vế chính trị:
- 6-1-1946 tổng tuyển cử trong cảnước, bầu quốc hội khóa đầu tiên, bầuđược 333 đại biểu
- Ở các địa phương Bắc Bộ và Trung Bộ,tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân cáccấp
- 2- 3- 1946, quốc hội họp phiên đầutiên
- 9-11- 1946, thông qua bản hiến Phápđầu tiên của nước VNDC cộng hòa
b Về quân sự:
- Lực lượng vũ trang được xây dựng, hoàn chỉnh Quân đội quốc gia VN (22-5-1946)
- Lực lượng dân quân tự vệ ở nông
Trang 14- Nhóm 2: Những biện pháp giải
quyết nạn đói ? Kết quả.
Giáo viên: quan sát hình 45 (phụ
lục 4a, 4b, 4c)
Em có nhân xét gì về việc nhân
dân Nam Bộ quyên góp gạo cứu
giúp đồng bào bị đói ở Bắc bộ
10-1945 Liên hệ ngày nay Những
6b) và đọc cho HS đoạn tài liệu
về “Phong trào Bình Dân Học
Vụ ” cùng với 2 câu thơ trong
bài thơ “Việt bắc” của Tố Hữu.
+ Vì sao HCM kí sắc lệnh thành
lập Nha Bình dân học vụ?
+ Tại sao nội dung và phương
pháp giáo dục theo tinh thần dân
HS chia nhóm thảo luận trong 5
phút và cử đại diện trình bày
- GV nhận xét, chốt ý
thôn, xã, đường phố, xí nghiệp được củng
cố và phát triển khắp cả nước
=> CQCM bước đầu được củng cố.
2 Giải quyết nạn đói
- Biện pháp trước mắt: Tổ chức quyêngóp, phát huy tinh thần “nhường cơm sẻáo”, “tương thân tương ái”
- Biện pháp lâu dài: Tăng gia sản xuất,giảm tô, xoá bỏ những thứ thuế vô lí
=> Nạn đói cơ bản bị đẩy lùi.
3 Giải quyết nạn dốt
- 8 - 9 - 1945, Hồ Chủ Tịch kí sắc lệnhthành lập “Nha bình dân học vụ” Sau mộtnăm, cả nước có 76 nghìn lớp học với 2,5triệu học viên
- Các trường tiểu học, THPT và đại họcphát triển mạnh, đổi mới nội dung vàphương pháp giáo dục
=> Nạn dốt được đẩy lùi
4 Giải quyết khó khăn về tài chính
- Kêu gọi nhân dân đóng góp qua “quỹ độclập”, “tuần lễ vàng” Quyên góp được
370 kg vàng và 20 triệu đồng vào “Quỹđộc lập”, …
- 23 - 11 – 1946 Quốc hội quyết định cholưu hành tiền Việt Nam
=> Tình hình tài chính bước đầu được củng cố…
Hoạt động 4: Cá nhân
- GV: Hãy cho biết ý nghĩa của
những kết quả đạt được trong việc
giải quyết các khó khăn trên là
gì?
* Ý nghĩa:
- Đưa cách mạng nước ta vượt qua nhữngkhó khăn to lớn, đánh bại âm mưu chia rẽ,lật đổ của bọn phản động, đế quốc, củng
cố và tăng cường sức mạnh của chính
Trang 15- Thể hiện tính ưu việt của chế độ mới.
- Cổ vũ, động viên nhân dân bảo vệ chínhquyền và nền độc lập, tự do vừa mới giànhđược
Tiết 28 tiếp theo bài 17
Pháp xâm lược lần hai của ND
Nam Bộ diễn ra như thế nào?Kết
quả bước đầu của cuộc kháng
- Đêm 22 rạng sáng 23 - 9 – 1945, thựcdân Pháp đánh úp trụ sở Uỷ ban Nam Bộ,chính thức gây chiến tranh xâm lược ViệtNam lần thứ hai
- Quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam Bộnhất tề nổi dậy chống Pháp, đốt tàu Pháp,đánh kho tàng, phá nguồn tiếp tế, dựngchướng ngại vật
- Những đoàn quân Nam tiến, vào Namchiến đấu, ND quyên góp ủng hộ đồng bàoNam Bộ KC
=> Cuộc kháng chiến đã bước đầu làm thất bại kế hoạch "Đánh nhanh thắng nhanh" của Pháp, tạo điều kiện cho cả nước kháng chiến lâu lài.
Nhóm 2: Căn cứ vào đâu ta chủ
trương hoà hoãn với quân Trung
Hoa Dân quốc?
Nhóm 3: Kết quả, ý nghĩa của chủ
trương sách lược hoà hoãn?
Đại diện các nhóm trình bày, các
- Ta nhân nhượng một số yêu sách kinh tế,chính trị cho quân THDQ: như tiêu tiềnQuan kim, Quốc tệ (mất giá), cung cấp mộtphần lương thực cho chúng; nhường 70 ghếtrong quốc hội và 4 ghế bộ trưởng trongchính phủ (ko qua bầu cử) ĐCSĐD tuyên
Trang 16Đồng minh, lực lượng đông Để
thực hiện sách lược phân hoá kẻ
thù )
GV: kể về giải quyết vụ án Ô Như
hầu (nếu còn thời gian)
- GV: Bổ sung, chốt ý
bố tự giải tán (Rút vào hoạt động bí mật)
- Ta kiên quyết vạch trần âm mưu và hànhđộng chia rẽ, phá hoại của bọn phản độngtay sai, trừng trị theo pháp luật những kẻphá hoại có đủ bằng chứng
- Ý nghĩa:
+ Hạn chế đến mức thấp nhất các hoạtđộng chống phá của quân Trung Hoa Dânquốc và tay sai
+ Làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền
phải đối phó với nhiều kẻ thù
cùng 1lúc, mượn tay Pháp để đuổi
nhanh 20 vạn quân Trung hoa
Dân quốc về nước
- GV: Nội dung hiệp định sơ bộ?
trương và biện pháp của Đảng,
Nhà nước ta trong thời kỳ này?
Ta chọn giải pháp "Hoà để tiến"
- Chiều 6 - 3 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minhthay mặt chính phủ ký với Pháp "Hiệp định
sơ bộ"
- Nội dung Hiệp định sơ bộ:
+ CP Pháp công nhận VNDCCH là 1 quốcgia tự do có CP, nghị viện, quân đội, tàichính riêng nằm trong khối liên hiệp Pháp.+ CPVN đồng ý cho 15.000 quân Phápđược ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giápquân đội Nhật và rút dần trong thời hạn 5năm
+ Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miềnNam đi đến cuộc đàm phán chính thức ởPari…
Trang 17HS: Thảo luận để trả lời câu hỏi
4 Hoạt động vận dụng, mở rộng
- Vì sao Đảng ta đã thực hiện những giải pháp giải quyết tình thế “ngàn cân
treo sợi tóc” hiệu quả?
- Hãy chỉ ra nghệ thuật chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc điềuhành chính phủ?
- Giả sử em là một nhà lãnh đạo, em sẽ giải quyết những khó khăn đó nhưthế nào?
2.4 Kết quả đạt được
2.4.1 Trước khi áp dụng nội dung đề tài vào dạy học môn Lịch sử
- Nhiều học sinh có tâm lý ngại học, chủ yếu học để thi, bài nào biết bài đó,học vẹt, học thuộc lòng mà không nắm được bản chất của Lịch sử, hay nói cáchkhác rất ít em hiểu về bản chất của sự kiện, hiện tượng Lịch sử
- Trong giờ học, có nhiều em không thực sự tập trung, tâm lý uể oải trongquá trình học vẫn còn
- Kết quả trong kiểm tra, đánh giá chưa cao Hơn 10% học sinh yếu, kém Sốhọc sinh thực sự hứng thú với môn Lịch sử không nhiều
2.4.2 Sau khi áp dụng các biện pháp vào dạy học môn Lịch sử
* Kết quả chung:
- Qua hai năm áp dụng nội dung đề tài này vào dạy học Lịch sử đặc biệt lànăm học 2021-2022 tôi áp dụng đối với học sinh lớp 12A1, tôi nhận thấy rằngviệc đổi mới phương pháp dạy học được kết hợp nhuần nhuyễn trong các tiết học
sẽ làm cho học sinh thêm hứng thú, phát huy hết khả năng tư duy sáng tạo, ócthẩm mỹ của các em
- Việc sử dụng hình ảnh lịch sử và sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử đãkhiến cho 100% các em phải động não, phải suy nghĩ và phải tự mình tập trung đểlĩnh hội kiến thức Mỗi em có cách tư duy, cách hiểu, cách lập luận, cách trìnhbày, cách vẽ khác nhau Khi quan sát các bạn trình bày, tự mình đóng góp ý kiếndưới sự tư vấn, hướng dẫn của giáo viên, các em có thể tự mình hoàn chỉnh một
sơ đồ tư duy khoa học, lôgic, dễ hiểu, dễ nhớ nhất Điều quan trọng nhất là các em
Trang 18có thể tự ghi chép theo ý mình và ôn tập ở nhà để có thể nhớ lâu và khắc ghi kiếnthức bài học.
- Trong năm học 2021 - 2022, tôi đã sử dụng sơ đồ tư duy vào tiết thao giảng
ở lớp 12A1 Kết quả được nhóm, tổ chuyên môn và các thầy cô giáo đi dự đánhgiá cao, được xếp giờ dạy giỏi cấp trường
- Đây là đề tài tôi giới hạn nghiên cứu ở lớp 12A1 Trên thực tế, ngoài lớp12A1, tôi rất tích cực sử dụng hình ảnh lịch sử và sơ đồ tư duy vào giảng dạy trênlớp đối với các lớp tôi được giao giảng dạy và trong quá trình ôn thi học sinh giỏi,
ôn thi THPT quốc gia Theo thông tin phản hồi cho thấy các em đều rất thích thú,nắm bài nhanh, hiệu quả làm bài rất tốt nhất là các bài thi trắc nghiệm
* Kết quả cụ thể
- Đề tài đã được tôi áp dụng trong hai năm giảng dạy vừa qua và thu đượckết quả rất tốt Giờ học Lịch sử trở nên sôi nổi, đa số các em có tâm lí được làmviệc, được chuẩn bị và tham gia xây dựng bài rất hăng say Kết quả cụ thể ở hailớp thực nghiệm và đối chứng như sau:
+ Lớp thực nghiệm: 12A1, sĩ số là 33 học sinh+ Lớp đối chứng: 12A2, sĩ số là 36 học sinh
Lớp
Điểm giỏi (9 – 10)
Điểm khá (7 - 8)
Điểm TB (5 – 6)
Điểm yếu (3 – 4)
Điểm kém (< 3)
Lớp thực
nghiệm 12 36.4 16 48.5 5 15.1 0 0 0 0Lớp đối
chứng 7 19.4 19 52.8 10 27.8 0 0 0 0
Qua kết quả thực nghiệm tôi nhận thấy:
Việc sử dụng hình ảnh lịch sử và sơ đồ tư duy nhằm phát huy năng lực củahọc sinh, giúp học sinh tích cực tham gia vào tiến trình bài học một cách tự giác.Nâng cao tính chủ động của học sinh trong quá trình học tập, góp phần tạo sựcộng tác chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh, giữa các học sinh với nhau trong giờhọc Tăng cường khả năng chú ý của học sinh, tăng cường thời gian duy trì trạngthái tích cực hoạt động của học sinh trong giờ học Đề tài có tính khả thi, nên ápdụng vào dạy học Lịch sử để nâng cao hiệu quả bài học