Lý do chọn đề tài Nước ta đã bắt đầu áp dụng “chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra” nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các ph
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nước ta đã bắt đầu áp dụng “chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra” nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho người học năng lực giải quyết các tình huống cuộc sống và nghề nghiệp
Trong dạy học vật lí, bài tập vật lí đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kiến thức mới, ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức, phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn, thói quen làm việc chủ động tự lực sáng tạo Tuy nhiên hệ thống bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập vật lí thường thiếu tính hệ thống để có thể giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng cần thiết Mặt khác số lượng bài tập có nội dung thực tế còn ít, trong quá trình dạy học giáo viên ít tạo điều kiện cho học sinh vận dụng những tri thức của mình để giải quyết vấn đề có liên quan tới vật lí trong đời sống và sản xuất mà thường đi quá sâu vào những bài tập có tính đánh đố, biến học sinh thành những thợ giải bài tập nhưng lại lúng túng khi phải vận dụng hoặc lựa chọn những kiến thức vật lí vào giải quyết một tình huống cụ thể trong thực tiễn đời sống
Để hình thành và phát triển năng lực học sinh đáp ứng nhu cầu đầu ra của chương trình giáo dục, khi dạy học các phần, các chương phải xây dựng được hệ thống các bài tập có nội dung thực tế và tổ chức hoạt động phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh Góp phần giải quyết vấn đề nêu trên tôi chọn đề
tài: Phương pháp sử dụng bài tập có nội dung thực tế chương “Động học chất điểm” vật lí 10 nhằm tạo hứng thú học tập và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tác giả kính mong nhận được sự đóng góp những ý kiến quý báu của quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng các bài tập có nội dung thực tế chương “Động học chất điểm” và
tổ chức hoạt động dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức học sinh
- Rèn luyện cho học sinh tính tích cực, tự lực, sáng tạo trong nhận thức các kiến thức vật lý và tạo niềm tin, hứng thú, say mê trong việc vận dụng kiến thức vật lí vào giải quyết các tình huống cụ thể trong thực tiễn đời sống
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động dạy và học chương “Động học chất điểm” vật lí 10, sử dụng bài tập có nội dung thực tế
Trang 21.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lí luận việc sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí
2.1.1 Bài tập có nội dung thực tế
Bài tập có nội dung thực tế: là những bài tập có nội dung khoa học vật lí xuất phát từ thực tiễn, đời sống hàng ngày Quan trọng nhất là các bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất, góp phần giải quyết một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn
2.1.2 Vai trò của bài tập có nội dung thực tế trong dạy học vật lí
- Thông qua giải bài tập có nội dung thực tế học sinh hiểu kĩ hơn cac khái niệm, định luật vật lí; củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hóa kiến thức, mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng
nề khối lượng kiến thức của học sinh
- Rèn luyện và phát triển cho học sinh năng lực nhận thức, năng lực phát triển và năng lực giải quyết vấn đề liên quan đến thực tế đời sống Rèn luyện và phát triển các kĩ năng thu thập thông tin, vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống có vấn đề thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo
- Rèn luyện cho học sinh tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác sáng tạo trong học tập và quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Thông qua nội dung bài tập giúp học sinh thấy rõ lợi ích việc học môn vật lí từ
đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết làm tăng hứng thú học môn vật lí và từ đó có thể làm cho học sinh say mê nghiên cứu khoa học công nghệ, giúp học sinh có những định hướng nghề nghiệp tương lai
- Bài tập vật lí thực tiễn còn cung cấp cho học sinh những hiện tượng lí thú của
kĩ thuật, những kết quả mới về phát minh, vấn đề khoa học giúp học sinh hòa mình vào sự phát triển khoa học kĩ thuật mà thời đại mình đang sống
2.1.3 Xây dựng bài tập có nội dung thực tế
- Để xây dựng nhiều bài tập có nội dung thực tế hay và phù hợp với tiến trình dạy học, giáo viên tìm hiểu tham khảo nhiều tài liệu sách, báo, internet…… Bài tập có nội dung thực tế có thể xây dựng từ 3 nguồn sau:
Trang 3+ Lựa chọn từ các bài tập đã được biên soạn và giới thiệu trong sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo
+ Từ quan sát và vốn hiểu biết của giáo viên đối với các sự vật hiện tượng vật lí trong đời sống có liên quan đến nội dung dạy học
+ Khai thác các kênh thông tin khác như: báo, internet…
2.1.4 Quy trình giải bài tập có nội dung thực tế
- Giải bài tập có nội dung thực tế gồm có các bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề
Để giải một bài tập có nội dung thực tế trước hết học sinh đọc kĩ đề bài, xác định ý nghĩa vật lí của các thuật ngữ, các từ khóa Tóm tắt đầy đủ các giả thiết
và nêu bật câu hỏi chính của bài tập
Bước 2: Phân tích hiện tượng vật lí có trong bài
Mỗi bài tập có nội dung thực tế chứa những hiện tượng vật lí khác nhau, do
đó học sinh phải phân tích kỹ các hiện tượng vật lí xảy ra, nghiên cứu các dữ kiện ban đầu của bài tập (những hiện tượng gì ? sự kiện gì ? những tính chất nào của vật thể ? những trạng thái nào của hệ ? )
Bước 3: Chỉ ra các dữ kiện và ẩn số
Mỗi bài tập đều có dữ kiện cho và cái phải tìm Vì thế học sinh phải xác định được hai loại dữ kiện này để từ đó tìm được mối liên hệ giữa chúng
Bước 4: Huy động các kiến thức liên quan
Sau khi phân tích kĩ các hiện tượng vật lí xảy ra và chỉ ra được các dữ kiện,
ẩn số Học sinh huy động các kiến thức liên quan đến bài tập mà ca em đã học hoặc đã biết từ kinh nghiệm cuộc sống Các kiến thức mà học sinh huy động thường là các định nghĩa, định luật, các quy tắc vật lí….bằng cách tự nhớ lại hoặc qua tài liệu, qua trao đổi với bạn bè, thầy cô
Bước 5: Lập luận giải
- Đối chiếu cái dữ kiện cho và cái phải tìm, để xác định các định luật, quy tắc vật lí liên quan
- Xác lập các mối liên hệ cụ thể giữa các dữ kiện và cái cần tìm, từ đó vận dụng vào để giải quyết các yêu cầu của bài tập
+ Đối với những bài tập có nội dung thực tế định tính: Thực hiện những suy luận logic cần thiết để có thể giải thích dự báo các hiện tượng vật lí Khi suy luận cần chú ý tới bản chất vật lí của hiện tượng
+ Đối với nhũng bài tập có nội dung thực tế định lượng: Thực hiện biến đổi, tính toán, rút ra các đại lượng cần tìm Khi tính toán chú ý đến đơn vị, thứ nguyên của các đại lượng đã cho và bản chất vật lí của hiện tượng khảo sát
Trang 4Bước 6: Chính xác hóa lời giải
Sau khi tìm ra được con đường giải bải tập, học sinh sẽ tiến hành giải một cách chi tiết thực hiện đầy đủ các bước để tìm ra kết quả chính xác và vận dụng các kiến thức cần thiết để kiểm tra lại
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng đề tài
- Qua trao đổi với một số giáo viên ở các trường phổ thông trên địa bàn mà tôi đang công tác, tôi đã rút ra một số nhận xét sau:
+ Trong quá trình dạy học còn nhiều giáo viên thực hiện theo lối dạy truyền thống, ít chú trọng đến các bài tập có nội dung thức tế Do đó học sinh ít tích cực trong giờ học, ít có cơ hội được vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống trong thực tiễn
+ Đa số giáo viên chú trọng đến bài tập tính toán thuần túy vận dụng công thức
mà ít chú trọng tới các bài tập có nội dung thực tế Trong khi đa số học sinh đều cảm thấy thú vị và hứng thú trong các hoạt động ngoại khóa tìm hiểu về kiến thức vật lí, vận dụng kiến thức để giải các tình huống trong thực tế
- Trong thời điểm hiện nay số lượng các bài tập vật lí có nội dung thực tế trong sách giáo khoa, sách bài tập đang còn ít Trong những năm gần đây trong các đề thi học sinh giỏi, thi trung học phổ thông quốc gia đã xuất hiện các bài tập có nội dung thực tế nhưng số lượng chưa nhiều Với xu hướng kiểm tra đánh giá năng lực học sinh thì số lượng bài tập có nội dung thực tế sẽ tăng lên trong các
đề thi, để bắt kịp với xu thế trên thì mỗi giáo viên cần có sự đầu tư chuyên môn nghiên cứu tìm tòi xây dưng được hệ thống các bài tập có nội dung thực tế đáp ứng nhu cầu dạy học
2.3 Đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn, hạn chế của thực trạng trên 2.3.1 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập có nội dung thực tế chương
“Động học chất điểm” vật lí 10-THPT
Bài 1: Một cột mốc trên đường quốc lộc 1A có ghi Thanh Hóa 40 km Em hãy
cho biết ý nghĩa số ghi trên cột mốc ?
Mục tiêu bài tập:
- Học sinh phát hiện và hiểu đúng vấn đề cần giải quyết: vật làm mốc, thước đo
- Học sinh vận dung thông tin để giải quyết vấn đề trong thực tế hàng ngày
Hướng dẫn giải:
+ Người đi đường hiện tại cách Thanh Hóa 40 km
+ Trường hợp này người đi đường chọn một cột cây số ở Thanh Hóa là vật làm mốc (số 0 của thước đo), cột số như một vạch chia của thước cho biết khoảng cách từ vật mốc đến Thanh Hóa là 40 km
Trang 5Gợi ý sử dụng bài tập:
- Bài tập nên sử dụng trong hoạt động khởi động hoặc hoạt động hình thành kiến thức mới
Bài 2: Cho bảng giờ tàu Thống Nhất Bắc
Nam như hình vẽ Bỏ qua thời gian tàu
đỗ lại ở các ga
a Hãy cho biết đoàn tàu chạy từ ga Hà
Nội đến ga Thanh Hóa trong bao lâu?
b Nếu lấy mốc thời gian là thời điểm tàu
xuất phát từ ga Hà Nội Xác định thời
điểm tàu đến Huế
Bảng giờ tàu
Hà Nội 19 giờ 00 phút Nam Định 20 giờ 56 phút Thanh Hóa 22 giờ 31 phút
Đồng Hới 4 giờ 42 phút Đông Hà 6 giờ 44 phút
Đà Nẵng 10 giờ 54 phút Tam ký 12 giờ 26 phút Quảng Ngãi 13 giờ 37 phút Diêu Trì 16 giờ 31 phút Tuy Hòa 18 giờ 25 phút Nha Trang 20 giờ 26 phút Tháp Chàm 22 giờ 05 phút Sài Gòn 4 giờ 00 phút
Mục tiêu bài tập:
- Học sinh phát hiện và hiểu đúng vấn đề cần giải quyết: thời điểm, thời gian, mốc thời gian
Hướng dẫn giải:
a) Từ Hà Nội tới Thanh Hóa trong 3giờ 31phút (∆ t=3 giờ 31 phút)
b) Tàu đến Huế lúc 13 giờ 05 phút (Tại Hà Nội t = 0, đến Huế t = 13 giờ 05 phút)
Gợi ý sử dụng bài tập:
- Bài tập nên sử dụng sau khi đã hình thành kiến thức về mốc thời gian, thời điểm, thời gian, dùng trong khâu cũng cố, vận dụng
Bài 3: Một truyện dân gian kể rằng: khi chết một phú ông để lại cho người con
một hũ vàng chôn trong một khu vườn rộng và một mảnh giấy ghi: đi về phía đông 23 bước chân, sau đó rẽ phải 4 bước chân, đào sâu 3 m Hỏi với chỉ dẫn này người con có tìm được hũ vàng không ? Vì sao ?
Mục tiêu bài tập:
Trang 6- Học sinh thấy được tầm quan trọng vật làm mốc.
- Học sinh vận dung thông tin để giải quyết vấn đề trong thực tế hàng ngày
- Học sinh phát hiện và hiểu đúng vấn đề cần giải quyết: xác định vị trí hũ vàng trước tiên xác định được vật làm môc
- Vận dụng lí thuyết vật làm mốc để trà lời tình huống khác trong cuộc sống
Hướng dẫn giải:
+ Câu trả lời “vui” nhằm giải tỏa sự căng thẳng trong giờ học là: Nếu biết trong khu vườn có hũ vàng thì dù có rộng mấy người con cũng tìm ra được, bằng cách đào khắp vườn với độ sâu 3 m
+ Câu trả lời mang ý nghĩa Vật lý: Người con sẽ không tìm được Vì theo thông tin ghi trong mảnh giấy người con không xác định được vật làm mốc (không biết bắt đầu đi từ đâu)
Nhận xét: Khi xác định vị trí việc chọn vật làm mốc là rất quan trọng.
Gợi ý sử dụng bài tập:
- Bài tập nên sử dụng sau khi đã hình thành kiến thức về vật làm mốc dùng trong khâu luyện tập
Bài 4: Năm 1946 các nhà khoa học đã đo khoảng cách giữa Trái đất và Mặt
trăng bằng kỹ thuật phản xạ rada Tín hiệu rada phát đi từ Trái đất truyền với tốc
độ c = 3.108 m/s phản xạ trên bề mặt của Mặt trăng và trở lại Trái đất Tín hiệu phản xạ ghi nhận được sau 2,5 giây kể từ lúc truyền Coi Trái đất và Mặt trăng
có dạng hình cầu bán kính lần lượt là Rđ = 6400 km, Rt = 1740 km Tính khoảng cách giữa hai tâm của Trái đất và Mặt trăng
Mục tiêu bài tập:
- Học sinh rèn luyện kĩ năng, thu thập, xử lí thông tin
- Học sinh phát hiện đúng vấn đề giải quyết: xác định khoảng cách từ bề mặt trái đất đến bề mặt mặt trăng
- Vận dụng công thức tính quảng đường trong chuyển động thẳng đều để giải quyết bài toán
- Vận dụng lí thuyết về chuyển động thẳng đều để giải quyết các tình huống khác trong cuộc sống
Hướng dẫn giải: + Trong 2,5 giây tín hiệu đi được quãng đường bằng hai lần
khoảng cách từ bề mặt Trái Đất đến bề mặt Mặt Trăng:
2 d=v t=3 108 2,5=7,5.10 8m=7,5.105m
+ Khoảng cách giữa hai tâm của Trái Đất và Mặt Trăng là:
Trang 7r =d +R đ+R T=375000+6400+1740=383140 km
Gợi ý sử dụng bài tập:
Bài tập trên được dùng để cũng cố, vận dụng sau khi học xong bài chuyển động thẳng đều
Bài 5: Nam đi xe đạp từ nhà đến trường Khi đi được 6 phút thì chợt nhớ mình
quên mang máy tính cầm tay Rồi quay trở về nhà lấy sau đó đi đến trường Do vậy thời gian chuyển động của người đó bằng 1,5 lần thời gian đến trường nếu như không quên máy tính Biết thời gian lên xe và xuống xe không đáng kể và vận tốc là như nhau, không đổi và bằng 14km/h Tính quãng đường từ nhà đến trường và thời gian đến trường nếu không quên máy tính
Mục tiêu bài tập:
- Học sinh rèn kĩ năng, thu thập, xử lí thông tin
- Học sinh phát hiện đúng vấn đề giải quyết: xác định khoảng thời gian đi từ nhà đến trường trong các trường hợp, khoảng cách từ nhà đến trường
- Vận dụng công thức tính quảng đường trong chuyển động thẳng đều để giải quyết bài toán
- Vận dụng lí thuyết về chuyển động thẳng đều để giải quyết các tình huống khác trong cuộc sống
Hướng dẫn giải:
- Gọi t là thời gian đến trường của những hôm không quên máy tính, thời gian đến trường của hôm quên bút là: t+2.6=t +12
- Theo bài ra: t+12=1,5 t=¿t=24 phút
- Quãng đường từ nhà đến trường: s=v t=14.24
60=5,6 km
Gợi ý sử dụng bài tập:
Bài tập trên được dùng để cũng cố, vận dụng sau khi học xong bài chuyển động thẳng đều
Bài 6: Một người đứng ở bến A cách đường
quốc lộ BH một đoạn h = 50 m Trên đường
một ô tô đang tiến lại với vận tốc v1=36 km/h
Khi nhìn thấy ô tô cách mình một đoạn AB
= 200 m thì người ấy bắt đầu chạy ra đường
để đón ô tô (hình vẽ) Hỏi người đó phải
chạy theo hướng nào với vận tốc nhỏ nhất là
bao nhiêu để đón được ô tô ?
v2
B
A
Mục tiêu bài tập :
Trang 8- Rèn luyện kĩ năng thu thập và xử lí thông tin.
- Học sinh phát hiện và hiểu đúng vấn đề cần giải quyết Xác định hướng người chạy để gặp xe bus với vận tốc nhỏ nhất
- Vận dụng lí thuyết tốc độ trung bình, công thưc tính quảng đường trong chuyển động thẳng đều
- Hướng dẫn giải:
+ Gọi G là vị trí mà người gặp xe, v2 là vận tốc của người, thời gian người chạy
từ A đến G: t2=AG
v2 ; thời gian xe chạy từ B đến G: t1=BG
v1
+ Để gặp được xe, thì: t2≤ t1= ¿ AG
v2 ≤
BG
v1 =¿
BG
AG ≥
v1
v2 (1) + Theo định lí hàm số sin trong tam giác ABG ta có: sinA BG = AG
sinB=¿sinA=
BG
AG sinB
sinA= BG
AG .
h
AB ≥
v1
v2.
h
AB=¿v2≥ v1
sinA .
h
AB (2)
+ Để v2 cực tiểu thì: sinA=1, khi đó: {v 2 min= v1 A=900
sinA .
h
AB=
10
1 .
50
20=2,5 m/s
Vậy, người đó phải chạy theo hướng AG hợp với AB góc 90 0, với vận tốc nhỏ nhất là 2,5 m/s
Gợi ý sử dụng bài tập :
- Sử dụng để củng cố vận dụng sau khi học xong bài chuyển động thẳng đều hoặc giao bài tập về nhà
Bài 7: Trong một buổi tập luyện trước Seagame
31, hai cầu thủ Phan Tấn Tài và Nhâm Mạnh
Dũng đứng tại vị trí T và D trước một bức tường
thẳng đứng như hình vẽ (Hình 1) Phan Tấn Tài
đứng cách tường 20 m, Nhâm Mạnh Dũng đứng
cách tường 10 m Phan Tấn Tài đá quả bóng lăn
trên sân về phía bức tường Sau khi phản xạ,
bóng sẽ chuyển động đến chỗ Nhâm Mạnh
Dũng đang đứng Coi sự phản xạ của quả bóng
khi va chạm vào bức tường giống như hiện
tượng phản xạ của tia sáng trên gương phẳng
Cho AB = 30 m, vận tốc của bóng không đổi và
bằng 6 m/s Em hãy xác định:
10 m
20 m
D
T
B A
a Góc tạo bởi phương chuyển động của quả bóng và bức tường
b Thời gian bóng lăn từ Phan Tấn Tài đến chân Nhâm Mạnh Dũng
Trang 9Mục tiêu bài tập:
- Học sinh rèn kĩ năng, thu thập, xử lí thông tin
- Học sinh phát hiện đúng vấn đề giải quyết: xác định khoảng thời gian quả bóng chuyển động, sự phản xạ của bóng tại điểm va chạm với tường
- Vận dụng công thức tính quảng đường trong chuyển động thẳng đều, kiến thức hình học phẳng để giải quyết bài toán
- Vận dụng lí thuyết về chuyển động thẳng đều để giải quyết các tình huống khác trong cuộc sống
Hướng dẫn giải:
a) Ta có OB=1
2OA=
1
3 AB=10 m
¿ >AO=20(m)
¿ >α=450
b) s=¿ +OD=20√2+10√2=30√2(m)
¿ >t= s
v=
30√2
T
O B
A α
α
Gợi ý sử dụng bài tập:
Bài tập trên được sử dụng để bồi dưỡng học sinh khá giỏi sau khi học xong bài chuyển động thẳng đều
Bài 8: Một hành khách muốn đi từ thành phố Hồ Chí Minh về Vinh thông tin
các chuyến bay được cho ở hình ảnh các hãng hàng không như sau:
11:45
Thanh Hóa
Bay thẳng 13:40
Hồ Chí Minh
14:10
Thanh Hóa
Bay thẳng 16:05
Hồ Chí Minh
16:30
Thanh Hóa
Bay thẳng 18:25
Hồ Chí Minh
Biết khoảng cách khoảng cách đường bay từ Thanh Hóa đi Hồ Chí Minh là 1.020 km Coi máy bay tăng tốc trong 10 phút đầu và sau đó bay với vận tốc không đổi và 10 phút cuối giảm tốc độ để hạ cánh Hãy tính vận tốc lớn nhất của máy bay khi bay
Mục tiêu bài tập:
Trang 10- Học sinh rèn kĩ năng, thu thập, xử lí thông tin.
- Học sinh phát hiện đúng vấn đề giải quyết: Xác định chuyển động máy bay chia làm 3 giai đoạn: nhanh dần đều, đều, chậm dần đều
- Vận dụng công thức tính quảng đường, thời gian, vận tốc trong chuyển động thẳng đều, thẳng biến đổi đều để giải quyết bài toán
Hướng dẫn giải:
- Thời gian bay từ Thanh Hóa đến Hồ Chí Minh là: t=1 gi ờ 55 p hú t
- Gọi a là gia tốc chuyển động trong 10 phút đầu, thì gia tốc trong 10 phút cuối
là – a
+ vận tốc sau khi tăng tốc: v2=a t1=600 a
+ quãng đường đi được trong 10 phút đầu bằng quãng đường đi được trong 10 phút cuối: s1=s3= 1
2a t1
2
= 1
2a (600 )
2
=180000 a (m) + Thời gian và quãng đường bay với vận tốc không đổi là:
t2=t−20 p hú t=1 gi ờ 35 p hú t; s2=v2t2=600 a 5700=3420000 a (m)
+ Ta có: s1+s2+s3=180000 a+3420000 a+ 180000 a=1020000
¿ >a=17
63 (m/s2)
+ Vận tốc lớn nhất của máy bay khi bay là: v2=a t1=600 a=600.17
63=
3400
21 (m/s)
v max=v2≈ 582,86 (km/h)
Gợi ý sử dụng bài tập:
Bài tập trên được sử dụng để bồi dưỡng học sinh khá giỏi sau khi học xong bài chuyển động thẳng biến đổi đều
Bài 9: Hãy tưởng tượng bạn là người chứng kiến cuộc tranh luận giữa cảnh sát
giao thông và lái xe Cảnh sát giao thông, theo dõi sự tuân thủ quy tắc giao thông của các lái xe, đo tốc độ một chiếc xe hơi đi ngang qua bằng một thiết bị đặc biệt Trên màn hình thiết bị anh ấy nhìn thấy số 70, tương ứng với tốc độ 70 km/h Chiếc gậy cảnh sát được giơ lên Chiếc xe hơi dừng lại Anh cảnh sát tự giới thiệu về mình, thông báo người lái xe vượt quá tốc độ cho phép Người lái
xe không đồng ý Tài xế xuất phát lúc 7h sáng, đồng hồ chỉ bây giờ là 9h 30 phút và đã đi được 120 km
a Ai đúng và tại sao ? Chứng minh bằng quan điểm của mình
b Cảnh sát giao thông đã xác định tốc độ như thế nào ?
c Tài xế đã xác định tốc độ của xe như thế nào?