1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) phát triển năng lực cảm thụ thơ đường qua bài tại lầu hoàng hạc tiễn mạnh hạo nhiên đi quảng lăng của lý bạch (SGK ngữ văn 10, tập 1, chương trình cơ bản)

20 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với một nền giáo dục đang trên đà đổi mới và hội nhập theo sự phát triển chung của nhân loại như nền giáo dục Việt Nam, việc chủ thể của giờ học từ người dạy sang người học đã đặt ra nhi

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ THƠ ĐƯỜNG

QUA BÀI: “TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI

QUẢNG LĂNG” CỦA LÝ BẠCH (SGK Ngữ Văn 10, tập 1-Chương trình cơ bản)

Chức vụ: Giáo viên

THANH HOÁ, NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC:

1 MỞ ĐẦU 1 1.1 Lý do chọn đề tài 1 1.2 Mục đích nghiên cứu _2 1.3 Đối tượng nghiên cứu 2 1.4 Phương pháp nghiên cứu 2 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm _3

2.1.1 Khái niệm dạy học theo phát triển năng lực 3 2.1.2 Đặc điểm của dạy học theo phát triển năng lực _4 2.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của thơ Đường 4

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5 2.3 Phát triển năng lực cảm thụ thơ Đường qua bài thơ: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lý Bạch 6

2.3.1 Phát triển năng lực nghệ thuật 6 2.3.2 Phát triển năng lực ngôn ngữ _9 2.3.3 Phát triển năng lực tư duy 10 2.3.4 Phát triển năng lực tạo lập văn bản _11 2.3.5 Phát triển năng lực hoạt động nhóm 12

2.4 Hiệu quả thực hiện sau khi ứng dụng sáng kiến _13

2.4.1 Kết quả khảo sát 13 2.4.2 Các năng lực hình thành cho học sinh sau khi vận dụng sáng kiến _15

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ _15 3.1 Kết luận 15 3.2 Kiến nghị _16

4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục những năm gần đây, vấn đề phát triển năng lực của người học đã và đang là một vấn đề nhận được sự quan tâm hàng đầu của các bộ ngành và đặc biệt là những người làm giáo dục Với một nền giáo dục đang trên đà đổi mới và hội nhập theo sự phát triển chung của nhân loại như nền giáo dục Việt Nam, việc chủ thể của giờ học từ người dạy sang người học đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết Khi chuyển sang việc lấy người học làm trung tâm thì người dạy sẽ đóng vai trò định hướng và hỗ trợ người học trên hành trình tìm kiếm và bổ sung tri thức Đây được coi là triết lý giáo dục đổi mới căn bản và cốt lõi nhất của nền giáo dục hiện nay

Trong nền giáo dục hiện nay, người học trở thành chủ thể trong quá trình tiếp nhận tri thức Người giáo viên sẽ đứng ở đâu trong bối cảnh mình mất đi vị

thế “trung tâm”? Đó là một câu hỏi lớn cho những giáo viên đứng lớp hiện nay.

Tất nhiên khi mất đi vị thế cũ ấy, người giáo viên muốn tồn tại cần phải thiết lập một vị thế mới: Vị thế dẫn dắt học trò Thay vì thuyết giảng thì người giáo viên cần cung cấp cho học sinh các giải pháp để học sinh tiếp cận được tri thức theo định hướng phát triển năng lực

Việc phát triển năng lực của người học với đặc thù môn học trở thành một

nhiệm vụ tạo nên cốt lõi của một nền giáo dục đổi mới theo phương châm “lấy người học làm trung tâm” Phát triển năng lực trở thành một chiếc chìa khóa vạn

năng để người dạy hướng dẫn tiếp nhận tri thức và người học trên cơ sở ấy hình thành cho mình hoạt động tiếp nhận tri thức Thay vì phải tiếp nhận tri thức một chiều mang tính thụ động, học sinh sẽ có nhiều cách tiếp cận mới, đây là điều kiện để phát triển được toàn diện năng lực của bản thân người học Bên trong người học luôn tiềm ẩn những năng lực học tập khác nhau, mà người dạy có nhiệm vụ phải đánh thức, khơi mở nó

Thơ Đường là một sản phẩm văn hóa, văn học đặc sắc của Trung Quốc

Tuy nhiên, với vị thế “đỉnh cao của nghệ thuật thi ca” nên việc tiếp nhận nó là

không hề dễ dàng Nắm bắt cái đẹp cho mình đã khó, huống hồ truyền tải được cái đẹp ấy cho người học lại càng khó hơn Trước đây với lối giảng dạy truyền thống, thầy đọc - trò chép, thầy bình giảng - trò thưởng thức đã khiến nhiều tác phẩm khi phân tích bị áp đặt, khiên cưỡng Thực tế ấy đòi hỏi một hướng tiếp cận mới để có thể phát huy được toàn bộ năng lực của người học trong việc tìm tòi và khám phá thế giới thơ ca Đây là một nhu cầu bức thiết, là nỗi lòng trăn trở của nhiều thế hệ người dạy

Tác phẩm “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quản Lăng” là

một trong số những tác phẩm thơ Đường được đưa vào chương trình Sách giáo

Trang 4

khoa Ngữ Văn 10 và được coi là một tác phẩm “kinh điển” tiêu biểu cho vẻ đẹp

nghệ thuật Đường thi

Vì những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài Phát triển năng lực cảm thụ thơ

Đường qua bài “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng”

của Lý Bạch (SGK Ngữ Văn 10, tập 1-Chương trình cơ bản) làm đề tài trong sáng kiến kinh nghiệm của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Trong quan niệm dạy học mới theo định hướng phát triển năng lực của người học, việc tổ chức một giờ học tốt là một giờ học mà người dạy lẫn người học đều phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn; bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm,

đem lại hứng thú học tập cho người học Ngoài những yêu cầu có tính chất

truyền thống như bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng của môn học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh; giờ học đổi mới phương pháp dạy học còn phải có thêm những yêu cầu mới như được thực hiện thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo hướng chú trọng đến việc rèn luyện khả năng tư duy, khả năng tự học, thái độ tự tin và giờ học được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh (chú trọng cả hoạt động dạy của giáo viên cũng như hoạt động học của học sinh) Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Bài thơ: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch (SGK Ngữ Văn 10-tập 1)

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu thực trạng sáng kiến, cơ sở

lý luận của sáng kiến, nghiên cứu chủ đề thơ Đường trong chương trình giáo dục trung học phổ thông

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Tìm hiểu lý do học sinh gặp khó khăn trong việc học các tác phẩm thơ Đường nói riêng cũng

như học phân môn Ngữ Văn nói chung, khảo sát kết quả học tập trước và sau

khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trong công tác giảng dạy cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Lang Chánh

Trang 5

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê tỉ lệ học sinh lớp 10 trường THPT Lang Chánh hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn, thống kê kết quả

học tập trước và sau khi học sinh học xong bài “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” của Lý Bạch.

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo

cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để có thể thực hiện tốt

mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, người giáo viên cần có nhận thức đúng đắn về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng này

2.1.1 Khái niệm dạy học theo phát triển năng lực:

Dạy học dựa trên phát triển năng lực là gì và điều gì làm cho nó trở nên khác biệt? Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là phương

pháp này giúp giáo viên đo được “năng lực” của học sinh Người học thể hiện

sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của bản thân, điều đó đồng nghĩa với việc người học phải chứng minh được mức độ làm chủ, mức độ nắm vững kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực) trong một môn học cụ thể Mặc dù các

mô hình học tập truyền thống vẫn có thể đo lường được năng lực của người học, song với những phương pháp dạy học này, kết quả học tập của học sinh phải dựa vào thời gian thông qua các bài đánh giá cuối mỗi kỳ học, do đó các môn học phải được sắp xếp theo từng cấp học và được thực hiện trong từng kỳ học, năm học Vì vậy, trong khi hầu hết các trường học đều cố định thời gian học tập (theo năm học) thì dạy học phát triển năng lực lại cho phép chúng ta giữ nguyên nội dung học và thay đổi thời gian học, học sinh không chỉ học trên lớp học mà có thể học ở bất kỳ đâu và trong bất kỳ thời gian nào

Chúng ta đều thừa nhận rằng, mỗi học sinh là một cá thể độc lập và chúng

có sự khác biệt về năng lực, trình độ, sở thích, nhu cầu và nền tảng xuất thân Dạy học phát triển năng lực thừa nhận thực tế này và tìm ra được những cách tiếp cận khác nhau để phù hợp với mỗi học sinh Không giống như phương pháp

Trang 6

“một cỡ vừa cho tất cả” một chiếc áo tất cả đều mặc vừa, phương pháp dạy học

theo định hướng phát triển năng lực cho phép học sinh được áp dụng những gì

đã học với cuộc sống, thông qua phương pháp dạy học phát triển năng lực và tích hợp liên môn Điều này cũng giúp học sinh thích ứng với những thay đổi của cuộc sống trong tương lai

2.1.2 Đặc điểm của dạy học theo phát triển năng lực:

- Đánh giá “năng lực” của học sinh hơn là thời gian học.

- Khai thác các thế mạnh của công nghệ thông tin trong việc dạy và học

- Thay đổi căn bản vai trò của giáo viên Trước kia, giáo viên thường làm việc với học sinh từng lớp, từng tiết học theo quy định Giáo viên là người trực tiếp làm chủ tiết học và kiểm soát quá trình học tập của học sinh Khi dạy học theo hướng phát triển năng lực của người học, giáo viên trở thành người hướng dẫn học sinh làm chủ tri thức, tức là giáo viên cùng làm việc với học sinh, hướng dẫn học sinh học tập, hướng dẫn thảo luận và giúp học sinh tổng hợp kiến thức môn học và thậm chí có thể liên hệ tích hợp kiến thức liên môn

- Xác định năng lực người học và phát triển các năng lực này phù hợp và đáng tin cậy Tiền đề cơ bản của dạy học theo định hướng phát triển năng lực là xác định được những năng lực cần hình thành cho học sinh Điều này có nghĩa là chúng ta phải xác định các năng lực được hình thành trong quá trình học tập một cách rất rõ ràng và chi tiết

2.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của thơ Đường:

- Tính hàm súc: Một bài thơ Đường luật thường rất ngắn gọn và hàm súc.

Đầu tiên, thơ Đường luật được quy định luật rất chặt chẽ về niêm luật và số

lượng câu, chữ Một bài thơ thất ngôn bát cú bao gồm tám câu thơ, mỗi câu thơ

có bảy chữ Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt thì chỉ có bốn câu thơ, mỗi câu thơ có bảy chữ Như vậy, cả một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt chỉ có hai mươi tám chữ còn một bài thơ thất ngôn bát cú chỉ có năm mươi sáu chữ So với các thể thơ khác,

thơ Đường luật thường ngắn gọn hơn rất nhiều nên khi phân tích thể thơ thất ngôn Đường luật, người giáo viên cần nói đến tính hàm súc rất riêng của thể thơ này

- Tính quy phạm: Đây là một trong những đặc tính nổi bật của thơ ca

trung đại Tính quy phạm ở thơ Đường luật trước hết thể hiện ở sự quy định chặt chẽ về luật thơ (luật bằng - trắc, niêm luật, quy định về vần và đối) và cấu tứ

(khai - thừa - chuyển - hợp với thể thất ngôn tứ tuyệt, đề - thực - luận - kết với

thể thất ngôn bát cú, kết cấu theo mô hình Kim Thánh Thán,…) Một tuyệt tác thơ thất ngôn, theo quan niệm người xưa phải vừa đảm bảo ý tứ và luật, tức ngoài nội dung còn cần quan tâm đến mặt hình thức

Trang 7

- Tính đối xứng: Tính đối xứng ở thể thơ Đường luật là một trong những

đặc trưng nổi bật Tính đối xứng ở thể thơ này thể hiện ở nhiều phương diện, với hai kiểu đối: tương phản hoặc tương hỗ Sự đối xứng của thơ Đường luật chủ yếu thể hiện ở phương diện ý tứ và ngữ âm, ngữ pháp

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Trong nhà trường hiện nay, việc dạy và học môn Ngữ văn được coi là một trong hai môn quan trọng hàng đầu cùng với môn Toán Nhưng vị thế này của môn Ngữ văn đang dần bị mất đi trong suy nghĩ và nhận thức của học sinh, đặc biệt là học sinh trường trung học phổ thông Lang Chánh

Xét về nguyên nhân thì có nhiều nguyên nhân khác: Do chương trình - một

số tác phẩm văn học được đưa vào chương trình còn mang nặng tính lý thuyết và

xã hội học, học sinh học văn học nghệ thuật mà như đang học môn giáo dục đạo

đức bởi lượng kiến thức cần tiếp thu quá khô khan Do phương pháp truyền thụ

của người thầy còn mang tính áp đặt, khiến học sinh hiểu theo cách hiểu của giáo viên, của người soạn sách, của văn mẫu… lâu dần làm cho các em thui chột cảm xúc, không mở rộng tâm hồn cũng như tư duy sáng tạo Một nguyên nhân

đáng quan tâm từ phía người học và của phụ huynh đó là: tính thực dụng chủ

yếu tập trung vào các môn học tự nhiên (như Toán, Lý, Hóa…) để thi vào các trường Đại học, Cao đẳng Những ngành học đó có khả năng giúp các em khi ra trường dễ kiếm việc làm và có thu nhập cao Vì thế ngày càng có nhiều học sinh xếp môn Ngữ văn vào hàng thứ yếu, không học hành nghiêm túc, chỉ học với

tính chất đối phó Ngoài ra, xuất phát từ tâm lý, sở thích của tuổi trẻ hiện nay

như ưa tìm tòi, thích khám phá khoa học, ưa thích thực tế, không thích văn chương sách vở dài dòng,… Từ những lý do đó, dần dần học sinh ngày càng thờ

ơ với môn Ngữ Văn

Thực trạng trên không chỉ xảy ra với học sinh trường trung học phổ thông Lang Chánh nói riêng mà còn là bức xúc chung của toàn ngành giáo dục và là thử thách lớn đối với những giáo viên giảng dạy chuyên môn Ngữ Văn như chúng ta Chúng ta không thể buông xuôi, thoái mặc; lại càng không thể lên lớp

giao giảng triết lý: “Các em phải học văn, văn học là nhân học, văn học hướng các em tới cái Chân - Thiện - Mĩ, giúp các em dần hoàn thiện nhân cách…”; mà

người thầy phải vất vả hơn trong việc tạo hứng thú cho tiết học, trăn trở tìm tòi những phương pháp dạy học hấp dẫn và hiệu quả để học sinh dần dần thay đổi lối suy nghĩ phiến diện, trở nên yêu thích bộ môn Ngữ Văn

Để thay đổi được điều đó, theo tôi, giáo viên phải chú ý đến từng đối tượng người học, biết đánh trúng vào tâm lý, tình cảm của học sinh Các em chán học, không có hứng thú thì chúng ta nên đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp các

Trang 8

em thấy được văn học là cả một chân trời mới lạ, nơi mà các em có thể thỏa sức vẫy vùng, khám phá Thêm nữa chúng ta phải dạy cho học sinh biết lợi ích, tính thực tiễn của môn Ngữ văn khi áp dụng vào trong đời sống (như viết đơn từ, lập văn bản, viết báo cáo; trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, tạo nên những trò chơi trí tuệ, mang tính nghệ thuật trong các buổi sinh hoạt tập thể…)

Để làm rõ hơn thực trạng nêu trên, tôi xin đưa ra kết quả thi vào lớp 10 bộ môn Ngữ văn của học sinh hai lớp 10 trường trung học phổ thông Lang Chánh

là 10A6 (40 HS) và 10A10 (44 HS):

Học lực

Lớp Số lượngGiỏiTỉ lệ % Số lượngKháTỉ lệ % Số lượngTrung bìnhTỉ lệ %

Nhận xét: Như vậy, có thể nhận ra rằng 60% học sinh lớp 10A6 và 52,3% học sinh lớp 10A10 có điểm thi đạt dưới 6,5 điểm và chưa đầy 5% tổng số học sinh mỗi lớp có kết quả thi vào lớp 10 từ 8 điểm trở lên Đây là tình trạng đáng báo động của cả hai lớp

2.3 Phát triển năng lực cảm thụ thơ Đường qua bài thơ: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lý Bạch:

2.3.1 Phát triển năng lực nghệ thuật:

2.3.1.1 Năng lực diễn xuất:

Giáo viên cho học sinh xây dựng một kịch bản văn học chứa đựng nội dung liên quan tới tác phẩm Thông qua đó, học sinh được thỏa sức sáng tạo những kịch bản văn học gắn liền với nội dung bài học Với cách học này, học sinh phải chủ động tìm hiểu sâu hơn về các giai thoại của tác giả, hoàn cảnh sáng tác hay giá trị nội dung, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Từ đó giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn kiến thức bài học, đồng thời giúp học sinh hình thành năng lực chủ động tìm hiểu, phân tích và tổng hợp tri thức

2.3.1.2 Năng lực hội họa:

Học sinh có thể dựa vào khả năng hội họa kết hợp với khả năng liên tưởng

để vẽ một số hình ảnh mang tính chất mô phỏng nội dung bài học Đặc trưng thơ

Đường là “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa) nên việc khai thác năng lực hội

họa trong thơ Đường có một ý nghĩa quan trọng để thưởng thức tác phẩm một cách đa chiều

Hơn nữa, khi được tự do cảm thụ kiến thức và trình bày những kiến thức cá nhân tìm hiểu từ trước qua tranh vẽ, các em học sinh đều tỏ ra hứng thú Kết quả

Trang 9

là học sinh chủ động tiếp nhận tri thức thông qua quá trình nghiên cứu và hoàn thiện các tác phẩm hội họa của cá nhân, đồng thời rèn luyện sự tự tin khi trình bày những hiểu biết của mình về nội dung bài học

(Học sinh thuyết trình về tác giả Lý Bạch thông qua tranh vẽ)

2.3.1.3 Năng lực âm nhạc:

Giáo viên có thể cho học sinh nghe hoặc biểu diễn một đoạn nhạc (với nhiều kiểu nhạc cụ khác nhau) liên quan tới tác phẩm Ví dụ mở đầu bài dạy, để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình ta có thể sử dụng tiếng sáo biệt ly

để mô phỏng nỗi lòng cho người ở lại với người ra đi

Minh họa: (Hoạt động Khởi động giao nhiệm vụ cho học sinh tái hiện vở

kịch về trích đoạn chia tay của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên Vở kịch có âm nhạc và hội họa, học sinh chuẩn bị trước ở nhà và trình bày.)

Chuẩn bị:

- Diễn xuất: Hai học sinh đóng vai Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên

- Đạo cụ:

+ Tranh ảnh: Về dòng sông Trường Giang khi thuyền bè tập nập và khi chỉ còn lại 1 cánh buồm ảm đạm đang trôi về phía hoàng hôn

+ Âm thanh: Thương tiến tửu (thơ: Lý Bạch, nhạc: Diệp Thiên Ân), Tống biệt hành (thơ: Thâm Tâm, nhạc: Khánh Ly)

Thực hiện:

Cảnh 1: Lý Bạch ngâm thơ

Lý Bạch tư thái ung dung, tay cầm sách để sau lưng, vừa đi vừa ngâm thơ

Phía đằng sau là hình ảnh sông Trường Giang “giữa mùa hoa khói”, thuyền bè

tấp nập ngược xuôi

Trang 10

Lý Bạch:

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.

Phi lưu trực há tam thiên xích, Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

Cảnh 2: Sự gặp gỡ của những tâm hồn yêu thơ

Mạnh Hạo Nhiên xuất hiện từ phía sau, vỗ tay khen ngợi

Mạnh Hạo Nhiên: Tuyệt! Tuyệt! Lời thơ thật cao sâu, uyên thâm vô ngần,

chỉ có thể là Lý Tiên sinh!

Lý Bạch ngoảnh mặt lại, hai tay giang ra ôm chầm Mạnh Hạo Nhiên

Lý Bạch: Mạnh phu tử….

(Hai người cùng ngắm nhìn trời biển, bình luận thơ văn - Nhạc Thương tiến tửu vang lên)

Cảnh 3: Từ biệt

Mạnh Hạo Nhiên tâm trạng đang vui chuyển sang buồn, khuôn mặt lộ rõ sự tiếc nuối

Mạnh Hạo Nhiên: Thời gian như bóng câu qua cửa, ta đến đây để nói lời

từ biệt Hi vọng Dương Châu có dịp gặp lại hiền đệ.

Lý Bạch khuôn mặt buồn rầu lo lắng, nhìn vào khoảng không của Trường giang vô tận

Lý Bạch: Sao huynh vội vã rời đi vậy, Hoàng Hạc giữa mùa hoa khói khác

gì tiên cảnh.

Mạnh Hạo Nhiên cũng nhìn ra khoảng không, không trả lời Lý Bạch

Lý Bạch: Huynh đi, đệ không thể can ngăn, chỉ có tấm lòng tri kỉ đi cùng

huynh Quan san cách trở muôn trùng, hiền huynh phải gìn giữ tấm thân bình an!

Mạnh Hạo Nhiên: Đệ ở lại cũng phải giữ gìn…

Cảnh 4: Chia tay

(Khung cảnh chuyển từ dòng sông Trường Giang “giữa mùa hoa khói” thuyền bè tấp nập sang bức tranh một cánh buồm bé nhỏ cô độc lạc trôi trên dòng Trường Giang – Nhạc Tống biệt hành nổi lên)

Hai người sau khi nói lời tạm biệt thì chia tay nhau, Mạnh Hạo Nhiên khuất dần sau khán đài Lý Bạch nhìn vào khoảng không gian xa xôi, thở dài tiếc nuối

Lý Bạch:

Thỉnh quân thí vấn đông lưu thủy Biệt ý dữ chi thủy đoản trường?

Như vậy thông qua phương pháp đóng vai, học sinh sẽ phát triển được các năng lực về nghệ thuật Đồng thời tạo tâm thế hứng khởi giúp học sinh tiếp thu bài học một cách chủ động hơn

Ngày đăng: 06/06/2022, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dưới đây là bản thống kê các năng lực hình thành sau khi đổi mới phương pháp học của 2 lớp 10A6 (40 HS) và 10A10 (44 HS). - (SKKN 2022) phát triển năng lực cảm thụ thơ đường qua bài tại lầu hoàng hạc tiễn mạnh hạo nhiên đi quảng lăng của lý bạch (SGK ngữ văn 10, tập 1, chương trình cơ bản)
i đây là bản thống kê các năng lực hình thành sau khi đổi mới phương pháp học của 2 lớp 10A6 (40 HS) và 10A10 (44 HS) (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w