Trong nhiều bài viết, nhiều em chưa thể hiện được chính kiến, thái độ, lập trường của mình trước những vấn đề xã hội… Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thay đổi cách kiểm tra,
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay trong môn học Ngữ văn THPT (trung học phổ thông), phần học về văn nghị luận xã hội là một phần học rất quan trọng của chương trình, đem lại nhiều tác dụng cho học sinh, giúp các em có thể bày tỏ quan điểm, thái độ của mình trước một vấn đề đời sống Qua đó góp phần giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh, giúp cho các em xác định được lối sống đúng đắn, tích cực, có thói quen quan sát, thu thập thông tin, tin tức trong cuộc sống Do vậy mỗi giáo viên dạy môn Ngữ văn THPT cần quan tâm đến các phương pháp, kĩ năng để dạy nghị luận xã hội đạt hiệu quả cao nhất
Làm văn là phân môn thực hành tổng hợp, mang tính sáng tạo, qua làm văn học sinh được vận dụng kiến thức, được suy nghĩ giải quyết các vấn đề của văn học và đời sống Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều học sinh trong đó có cả những em học sinh giỏi bộ môn văn đều cảm thấy ngại và khó khi làm bài văn nghị luận xã hội Khi viết bài văn nghị luận xã hội, các em đều gặp khó khăn cả về nội dung lẫn phương pháp
Đề bài văn nghị luận xã hội vừa là những đề gần gũi với học sinh, vừa là những
đề mới không có trong sách vở nên điều này gây cho các em tâm lý lúng túng bất ngờ khi đọc đề bài
Khó khăn về kỹ năng làm bài: Ở rất nhiều bài văn nghị luận xã hội, các em đều
tỏ ra còn yếu ở các kỹ năng như: kỹ năng tìm hiểu và phân tích đề, kỹ năng tìm ý,
kỹ năng lập ý, kỹ năng diễn đạt…trong đó yếu nhất là kỹ năng lập ý Chính vì vậy,
ta thường gặp những bài viết rất dài nhưng chất lượng chưa cao Nhiều bài viết thì thiếu ý, tức là học sinh chưa tìm được hết những ý mà đề bài yêu cầu Ở nhiều bài viết về một hiện tượng trong đời sống, học sinh liên hệ mở rộng vấn đề bằng quá nhiều dẫn chứng Nhiều khi các em sa đà sang kể chuyện Phần liên hệ ấy, không phải là trọng tâm của bài viết Như vậy dẫn đến một thực tế bài viết dài nhưng nội dung vấn đề cần bàn bạc không sâu sắc Bố cục bài làm không cân đối Diễn đạt ở nhiều bài tỏ ra gượng ép khiến lời văn nghị luận thiếu tính thuyết phục, thậm chí rơi vào công thức sáo mòn kiểu trình bày lý thuyết suông Trong nhiều bài viết, nhiều em chưa thể hiện được chính kiến, thái độ, lập trường của mình trước những vấn đề xã hội…
Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thay đổi cách kiểm tra, đánh giá, vì vậy dạng văn nghị luận xã hội trong đề kiểm tra, thi cử thay vì viết một bài văn chuyển thành viết một đoạn văn với giới hạn số chữ (khoảng 200 chữ) Học sinh tỏ ra càng lúng túng hơn, gặp khó khăn hơn trong việc lập ý, triển khai ý trong đoạn văn để đảm bảo yêu cầu đề bài Đa số các em viết đủ dung lượng song thường lan man, ý không rõ ràng, phân phối dung lượng cho các ý không khoa học, không hợp lí và lỗi mắc nhiều nhất là thiếu ý
Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh rèn luyện các kỹ năng - đặc biệt là kĩ năng lập ý là rất cần thiết Là một giáo viên THPT qua nhiều năm giảng dạy với những kinh nghiệm của mình và sự học hỏi
Trang 2của các thầy cô đồng nghiệp, tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm “Đề xuất các dạng bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh tại trường THPT Quan Hóa”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Sáng kiến kinh nghiệm “Đề xuất các dạng bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống cho học sinh tại trường THPT Quan Hóa” nhằm mục đích giúp cho bản thân tôi và các thầy cô có thể thực hành giảng dạy phần văn nghị luận xã hội đạt hiệu quả cao Cụ thể là qua sáng kiến này đề xuất các dạng bài tập cụ thể, phong phú giúp các em học sinh rèn luyện kĩ năng lập ý – một kĩ năng rất quan trọng để có thể viết được một đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả tốt nhất
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh trường THPT Quan Hóa.
- Các dạng bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu tài liệu về các dạng bài tập, kĩ năng lập ý, đoạn văn nghị luận xã hội
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và các nhà quản lí giáo dục
- Phương pháp thực tập sư phạm: thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Quan Hóa, tiến hành theo quy trình của đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục để đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: sử dụng phương pháp này để thống kê, xử lý, đánh giá kết quả thu được
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1.1 Khái niệm nghị luận về một hiện tượng đời sống
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội, có ý nghĩa xã hội đáng khen, đáng chê hay vấn đề đáng suy nghĩ [3]
2.1.2 Kĩ năng lập ý
Lập ý là định ra nội dung cần trình bày trong bài văn Trước một đề văn người ra đề cũng như người viết bài phải nêu lên được cách hiểu (nhận thức về đề)
và những ý cơ bản cần phải đạt được trong bài viết Tức là phải hình thành được hệ thống ý đáp ứng được yêu cầu của đề
Kĩ năng lập ý nhằm giúp cho bài viết có ý và trình bày ý một cách hợp lí Nhiệm vụ của nó là tìm ra được nhiều ý, ý mới, ý hay và biết tổ chức sắp xếp các ý
ấy một cách hợp lí, làm nổi bật được vấn đề trọng tâm Rèn luyện tốt kĩ năng này, người viết sẽ tránh được các lỗi như không có ý, thiếu ý, ý cũ mòn, ý trùng lặp, lộn xộn…
Trang 32.1.3 Vai trò của hệ thống bài tập
Hệ thống bài tập là tổ chức lớn nhỏ, thứ bậc, tầng bậc và mối quan hệ của các bài tập trong đó Nói đến hệ thống bài tập là nói đến các bài tập được tổ chức sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, từ khó đến dễ như: bài tập nhận biết, bài tập lí giải, bài tập ứng dụng, bài tập tổng hợp sáng tạo
Khi tổ chức dạy thực hành Làm văn, một yếu tố không thể thiếu được là hệ thống bài tập Có thể nói, bài tập chính là công cụ, là phương tiện để giáo viên thực hiện việc rèn luyện các kĩ năng cho học sinh Trong thực hành Làm văn, hệ thống bài tập còn là cơ sở, là những tài liệu thiết thực giúp học sinh trong quá trình tạo lập các văn bản khác
Nếu đã xác định dạy học Làm văn là dạy các thao tác thực hành xây dựng văn bản thì có thể nói song song với những cơ sở lí thuyết, hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng là rất quan trọng, nó giúp học sinh rèn luyện một cách chi tiết, cụ thể các kĩ năng làm văn như kĩ năng tìm hiểu và phân tích đề, kĩ năng tìm ý và lập dàn
ý, kĩ năng diễn đạt và trình bày…trước khi tạo lập một văn bản hoàn chỉnh Qua đó còn thể hiện tính tích cực chủ động của học sinh trong thực hành làm văn Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn như là những bước tập dượt ban đầu, chuẩn bị khung sườn, chuẩn bị những bước đầu tiên, những bước nhỏ cho việc xây dựng văn bản
2.2 Thực trạng của vấn đề
2.2.1 Qua khảo sát hệ thống bài tập trong sách giáo khoa
Hệ thống bài tập làm văn đã xuất hiện từ lâu trong các sách giáo khoa, tất cả các sách giáo khoa đều có bài tập làm văn Tuy nhiên việc xây dựng hệ thống bài tập bổ sung chưa được quan tâm nhiều Nhất là hệ thống bài tập để cho các em rèn luyện các kỹ năng còn yếu dường như là không có
Nội dung các bài tập về làm văn trong sách giáo khoa còn thiên nhiều về lý
thuyết trong khi đó phương pháp dạy học làm văn khẳng định “Bản thân những tiết học lý thuyết không thể tạo nên được những kỹ năng làm văn” [5] Và “Làm văn cần thực hành tổng hợp, cần đặt yêu cầu kỹ năng thực hành cao hơn yêu cầu tri thức”[5] Vì vậy, lý thuyết không phải là mục đích cuối cùng của làm văn mà là cơ
sở để rèn luyện các kỹ năng làm văn
Ngoài ra, hệ thống bài tập trong sách giáo khoa chỉ hướng dẫn kĩ năng lập ý, lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội mà không hề có hướng dẫn kĩ năng này cho đoạn văn nghị luận xã hội Hơn nữa, hệ thống bài tập xây dựng dàn ý, lập ý cho văn nghị luận xã hội trong sách giáo khoa lịa khá ít ỏi
2.2.2 Qua thực trạng làm văn nghị luận xã hội của học sinh
Hiện nay rất nhiều học sinh đều cảm thấy ngại và khó khi làm bài văn nghị luận xã hội Khi viết đoạn văn nghị luận xã hội, các em đều gặp khó khăn cả về nội dung lẫn phương pháp
Đa phần học sinh chưa hiểu được rằng đoạn văn nghị luận xã hội thực tế là bài văn nghị luận xã hội thu nhỏ, các ý của đoạn văn phải đầy đủ, không thừa, không thiếu, có mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn hoàn chỉnh Khi đảm bảo câu trúc
Trang 4như thế, đoạn văn nghị luận xã hội mới mong có thể thuyết phục, tạo sự tin tưởng nơi người đọc, người nghe
Để viết đoạn văn nghị luận xã hội, học sinh cần phải có kiến thức nhất định
về xã hội, về cuộc sống Đặc biệt, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống đề cập đến những vấn đề nóng hổi, đã và đang diễn ra quanh đời sống thường nhật, gần gũi với học trò Nếu không nắm bắt thông tin, không cập nhật được tri thức, học sinh sẽ viết bài chung chung, không có số liệu, sự việc, dẫn chứng cụ thể Từ
đó, bài viết dễ nông, sáo mòn, không làm rõ được điều định viết, không thể hiện được quan điểm, suy nghĩ của người viết… Đoạn văn như thế không được đánh giá cao, là sự thất bại của mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ có chính kiến, ham tìm tòi, hiểu biết về những điều đang xảy ra xung quanh cuộc sống
Học sinh trường THPT Quan Hóa đa phần lực học yếu, định hướng học tập chưa rõ ràng, bởi thế năng lực viết văn hạn chế, kiến thức xã hội cũng không nhiều Phần lớn ít quan tâm, không chú ý đến những vấn đề có tính thời sự đang xảy ra trong cuộc sống Dẫn đến việc viết dạng văn nghị luận xã hội nói chung, nghị luận
về một hiện tượng đời sống nói riêng tồn tại các hạn chế: đoạn văn ngắn – không đảm bảo dung lượng theo yêu cầu, thiếu thực trạng – nếu có thì không có số liệu cụ thể, chuẩn xác, chỉ ra ít nguyên nhân, giải pháp không nhiều… Ngoài ra lời văn thường khô khan, thậm chí thiếu thành phần, viết lủng củng…
Để khắc phục những hạn chế trên việc xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh rèn luyện các kỹ năng - đặc biệt là kĩ năng lập ý là rất cần thiết
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Khi tiến hành dạy học sinh viết đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống tôi đã thực hiện như sau:
2.3.1 Mô hình lập ý cho đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Để tìm ý cho dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống, người viết cần căn cứ vào các căn cứ lập ý, biết đặt ra và trả lời các câu hỏi có ý nghĩa xung quanh vấn đề trọng tâm mà đề bài yêu cầu: Vấn đề/ hiện tượng đó như thế nào?(Thực trạng); Nguyên nhân nào dẫn tới vấn đề/ hiện tượng đó? (Nguyên nhân); Vấn đề/ hiện tượng đó có kết quả hay hậu quả gì? (Kết quả - hậu quả); Cần có những giải pháp, biện pháp nào để phát huy hoặc khắc phục? (Biện pháp)
Các câu hỏi và nội dung trả lời có thể sắp xếp theo các ý sau:
- Ý 1: Giới thiệu thực trạng
- Ý 2 : Phân tích và bình luận nguyên nhân - kết quả (hậu quả)
- Ý 3 : Đề xuất ý kiến (giải pháp)
2.3.2 Đề xuất hệ thống bài tập
2.3.2.1 Bài tập nhận biết
2.3.2.1.1 Đặc điểm của bài tập nhận biết
Đối với loại bài tập này, mục đích chính là giúp học sinh có thể nhận diện được đề về một hiện tượng trong đời sống, đồng thời nắm được cách thức viết đoạn văn về một hiện tượng trong đời sống
Trang 5Đây là loại bài tập có yêu cầu ở mức độ thấp, nó mang tính khởi động, khơi gợi khả năng ghi nhớ kiến thức cơ bản về đoạn văn nghị luận về một hiện tượng trong đời sống
Học sinh sẽ được cung cấp các bài tập về các dạng nghị luận xã hội nói chung và yêu cầu học sinh nhận diện đâu là bài tập thuộc dạng đoạn văn về một hiện tượng trong đời sống
Loại bài tập này không chỉ giúp giáo viên và học sinh củng cố tri thức về đoạn văn nghị luận về một hiện tượng trong đời sống mà còn giúp giáo viên trình bày sâu hơn những vấn đề về tri thức, đồng thời giúp học sinh phát huy được khả năng nhanh nhậy của mình vào nhận biết các bài tập
Trong chương trình, dạng văn nghị luận về một hiện tượng đời sống được học sau dạng văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí, nên kiểu bài tập nhận biết này giáo viên có thể đưa ra bài tập viết đoạn văn nghị luận về tư tưởng đạo lí và bài tập viết đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống, sau đó cho học sinh chỉ rõ đâu
là bài tập về hiện tượng đời sống Như vậy học sinh vừa được giới thiệu kiến thức của bài học mới, vừa được nhớ lại kiến thức đã học trước đó
2.3.2.1.2 Hệ thống bài tập nhận biết
Một là, bài tập nhận biết dạng đề viết đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Giáo viên đưa ra các đề bài sau đây:
Đề 1: Nói về chuyện học, tục ngữ có câu :
“ Học thầy không tày học bạn”, lại có câu : “Không thầy đố mày làm nên”
Anh/chị suy nghĩ như thế nào trước những lời khuyên này? (viết đoạn văn khoảng 200 chữ)
Đề 2: Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về việc nữ sinh mặc áo dài truyền thống hay mang đồng phục hiện đại đến trường?
Đề 3: Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ bản thân về ý
kiến “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu tình thương”.
Đề 4: Người Việt trẻ hiện nay ngày càng không thích đọc sách Anh/chị hãy viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về vấn đề trên (khoảng 200 chữ)
Đề 5: Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị trong quan niệm về bạn thân sau đây:
“Thực sự, khi ở bên cạnh bạn thân, tôi có thể là chính mình, được sống thật với lòng mình, và là những giây phút vui vẻ nhất, cùng tranh luận, cùng cười, và cũng
có thể cùng khóc Tôi và nó dường như chưa giận nhau bao giờ, người ta bảo ,có giận nhau mới hiểu nhau thêm Có thể, câu nói đó đúng, nhưng với tôi, và nó, có giận nhau cũng không quá được nửa ngày, có gì lại gọi điện cho nhau luôn Thật
sự, tôi tìm được mình, tìm được niềm vui khi ở bên đứa bạn thân Tôi có thể chia sẻ mọi điều, mà không sợ sẽ bị cười, không lo sẽ bị chế giễu Tôi có thể khóc mà không ngại, có thể nói mà không sợ phê phán, không sợ chhir trích Tôi được là mình, là tôi Và nó cũng vậy Dù bây giờ, có thể, ta chưa tìm được một người bạn thân, theo đúng nghĩa, thì sau này, hay một lúc nào đó, ta cũng sẽ có được một
Trang 6người bạn bên ta những lúc ta buồn, ta cô đơn nhất, những lúc mà dường như cả thế giới rời xa ta, nhưng ta vẫn biết rằng, ta có bạn bênh cạnh Chỉ thế thôi, đã là hạnh phúc lắm rồi Mà để có được niềm hạnh phúc ấy, ta phải mở lòng mình, phải chia sẻ, nếu ta cứ khép kín, thì ta sẽ chẳng bao giờ có được một người bạn thực sự”.
(Theo Xitrum.net)
Đề 6: Game online: tốn thời gian vô bổ Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ thể hiện suy nghĩ của mình về vấn đề trên
Sau khi đưa ra các bài tập trên, giáo viên hỏi học sinh: đâu là dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống?
Học sinh căn cứ vào những đặc điểm cơ bản của dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống để nhận biết Cụ thể là:
Dạng đề nghị luận về một hiện tượng trong đời sống thường nêu lên một hiện tượng có thật trong đời sống Đó có thể là một hiện tượng tích cực cũng có thể
là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, hoặc một hiện tượng có cả mặt tích cực và tiêu cực…Như thế đòi hỏi người viết, bằng nhận thức của bản thân, phải thể hiện được chủ kiến của mình, bằng phân tích và lập luận để ca ngợi và biểu dương cái đẹp, cái tốt, cái thiện và lên án, vạch trần cái xấu, cái ác, cái phi nhân… Các dạng
đề nghị luận về một hiện tượng đời sống vừa phải gần gũi với tuổi trẻ học đường vừa phải có ý nghĩa lớn lao đối với cả cộng đồng dân tộc và thế giới
Căn cứ vào đối tượng nghị luận có thể hệ thống thành một số dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống như sau:
- Nghị luận về một hiện tượng liên quan đến môi trường sống tự nhiên của con người
- Nghị luận về một hiện tượng liên quan đến môi trường xã hội
- Nghị luận về một hiện tượng tích cực đáng biểu dương hoặc tiêu cực đáng phê phán
Với những đặc điểm trên thì đề 1, đề 3, đề 5 là dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lí; đề 2, đề 4, đề 6 là dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống
Hai là, bài tập nhận biết các đoạn văn trong mô hình lập ý
Đề 7: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng nghiện Internet trong giới trẻ hiện nay
Có đoạn văn viết cho đề bài trên như sau:
“Sự ra đời của Internet đã đánh dấu một bước tiến lớn của cả nhân loại trong
lĩnh vực kết nối thông tin toàn cầu Với những lợi ích to lớn và những kiến thức mà
nó mang lại trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Internet đã được coi như một phương tiện không thể thiếu đối với con người Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tốt đẹp mà nó mang lại, thì những vấn đề phức tạp cũng bắt đầu nảy sinh Trong đó hiện tượng nghiện Internet của không ít người đã trở thành một vấn
đề nhức nhối thực sự đối với xã hội thời hiện đại Các gia đình cũng bắt đầu nhận
ra rằng thay vì sử dụng Internet cho những mục đích tốt đẹp, những đứa trẻ hiếu động lại dễ dàng bị cuốn hút hàng giờ đồng hồ vào những hoạt động khác trên
Trang 7mạng như: chát trực tuyến, gửi mail cho bạn bè, chơi game online, hay làm quen với những người lạ, đôi khi thực hiện các hoạt động harker phá hoại… Tại nhiều quốc gia trên thế giới, thực trạng của việc trẻ em say mê Internet và game online đã lên đến mức báo động Nhiều trường hợp do mải mê với mạng Internet, những đứa trẻ thậm chí quên ăn, quên ngủ trong suốt nhiều ngày Kết quả tất yếu của tình trạng này là sức khỏe, năng lực học tập bị ảnh hưởng và giảm sút nghiêm trọng”
Anh/chị hãy cho biết đoạn văn trên thuộc phần nào trong mô hình lập ý cho kiểu bài về một hiện tượng đời sống (Giới thiệu thực trạng; Nêu nguyên nhân kết quả (hậu quả); đề xuất ý kiến (giải pháp)?
Với bài tập này, học sinh căn cứ vào mô hình lập ý vừa trình bày ở trên sẽ nhận biết được đoạn văn này thuộc phần nêu thực trạng
Đề 8: Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của bản thân
về tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông
Có đoạn văn viết cho đề bài trên như sau:
“Nâng cao ý thức của người dân khi tham gia giao thông Đây chính là vấn
đề cấp thiết nhất mà chúng ta cần phải làm ngay và nó cũng là vấn đề tiên quyết nhất trong “kế sách” giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay Vậy chúng ta phải làm như thế nào để thức tỉnh ý thức, tinh thần trách nhiệm của người dân khi tham gia giao thông? Điều này liên quan đến mặt nhận thức của con người về hành động của
họ để nhận ra phải – trái, đúng – sai Nhận thức này được hình thành trên cơ sở nền tảng giáo dục mà đặc biệt là giáo dục cộng đồng, mà tuổi trẻ học đường cần phải góp phần thay đổi ý thức của người dân trong văn hóa giao thông”
Anh/chị hãy cho biết đoạn văn trên thuộc phần nào trong mô hình lập ý cho kiểu bài về một hiện tượng đời sống (Giới thiệu thực trạng; Nêu nguyên nhân - kết quả/ hậu quả ; đề xuất ý kiến/ giải pháp?)
Tương tự như đề 7, học sinh căn cứ vào các bước của mô hình lập ý sẽ nhận biết được đoạn văn trên thuộc bước ba của mô hình lập ý đó là đoạn văn đề xuất ý kiến (giải pháp)
2.3.2.2 Bài tập lí giải, cắt nghĩa
2.3.2.2.1 Đặc điểm của kiểu bài tập lí giải, cắt nghĩa
Bên cạnh việc cho học sinh nhận diện những vấn đề về lí thuyết thông qua hệ thống bài tập nhận diện, chúng ta cần tổ chức cho học sinh làm bài tập ở mức độ cao hơn – đó là hệ thống bài tập lí giải, cắt nghĩa Kiểu bài tập này sẽ giúp học sinh lí giải, cắt nghĩa các vấn đề của đời sống xã hội được đặt ra
Cũng giống như kiểu bài tập nhận diện, kiểu bài tập này đưa ra các vấn đề về đời sống xã hội gần gũi với tuổi trẻ học đường, giàu ý nghĩa đối với cuộc sống xã hội Học sinh cần có những hiểu biết của mình về các lĩnh vực của đời sống xã hội
để lí giải các hiện tượng đó
Việc học sinh lí giải được các hiện tượng đặt ra trong bài tập thể hiện sự hiểu biết của các em về các lĩnh vực của đời sống đặc biệt là kĩ năng lập luận của các
em Bởi vì học sinh có lí giải tốt các vấn đề ngoài việc phụ thuộc vào vốn hiểu biết
Trang 8về các vấn đề của đời sống xã hội còn phụ thuộc rất lớn vào kĩ năng lập luận của học sinh trong bài viết
Giáo viên đưa ra các đoạn văn thuộc các bước của mô hình lập ý (có thể là đoạn văn thuộc phần nêu thực trạng; đoạn văn thuộc phần bình luận – phân tích nêu nguyên nhân – kết quả/ hậu quả; đoạn văn thuộc phần đề xuất ý kiến (giải pháp) sau đó yêu cầu học sinh lí giải tại sao lại phải có đoạn văn thuộc phần nêu thực trạng?; tại sao phải có đoạn văn thuộc phần bình luận – phân tích nêu nguyên nhân, kết quả/ hậu quả?; tại sao phải có đoạn văn thuộc phần đề xuất ý kiến (giải pháp)?
2.3.2.2.2 Hệ thống bài tập lí giải, cắt nghĩa
Đề 8: Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của bản thân về tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông
Với đề bài trên, tại sao lại có đoạn văn nêu thực trạng dưới đây?
“Tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay là một vấn đề bức xúc được cả xã hội quan tâm Chúng ta phải giật mình khi đối mặt với những con số thống kê của
Ủy ban An toàn giao thông quốc gia: 6 tháng đầu năm 2007 đã xảy ra 7669 vụ tai nạn giao thông làm 6910 người thiệt mạng, 5919 người bị thương; 9 tháng đầu năm 2008, số vụ tai nạn giao thông tăng tới 9484, cướp đi sinh mạng của 8606 người, làm bị thương 6167 người Nhiều vụ tai nạn thảm khốc và thương tâm vẫn còn làm kinh hoàng chúng ta mỗi khi nhắc tới Vụ xe ô tô lấn đường trên quốc lộ
18, km số 3 đường Móng Cái đi Quảng Ninh làm 3 người trong xe chết tại chỗ Vụ tàu hỏa đâm ô tô con văng ra xa hơn 30 m làm 3 người trong xe chết ngay tại chỗ trên cung đường sắt Văn Điển – Giáp Bát Vụ xe khách chở quá tải đâm vào xe ô
tô chở thép gây cái chết thương tâm cho bốn người và làm 10 người khác bị thương Vụ lật xe tại đèo Đại Ninh khiến 9 du khách người Nga thiệt mạng”
Học sinh cần lí giải, cắt nghĩa tại sao lại có câu văn nêu thực trạng cho đề bài trên bằng cách dựa vào mô hình lập ý
Khi viết văn nghị luận về một hiện tượng đời sống trước hết cần biết nhận diện hiện tượng ấy (sự việc, con người): các biểu hiện, các dạng tồn tại, thậm chí cả những số liệu cụ thể
Khi phản ánh thực trạng, ta cần đưa ra những con số, những thông tin cụ thể, tránh lối nói chung chung, mơ hồ vì chính sự cụ thể của thông tin sẽ tạo sức thuyết phục cho những ý kiến đánh giá sau đó Chẳng hạn muốn bàn về tình trạng ô nhiễm nguồn nước, cần tìm thông tin về những con sông đang bị ô nhiễm nặng nhất, mức
độ ô nhiễm cụ thể, các loại chất gây ô nhiễm hiện có mặt trong nguồn nước sông… Muốn bàn về nạn bạo hành với phụ nữ, cần tìm hiểu xem trong xã hội hiện tại, người phụ nữ phải đối mặt với những kiểu (dạng) bạo hành như thế nào, tỉ lệ phụ
nữ phải sống chung với nạn bạo hành…Hay với đề bài trên cần huy động những hiểu biết về thực trạng vấn đề tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay, cần đưa ra các con số, số liệu cụ thể để minh họa cho thực trạng tai nạn giao thông ở nước ta
Đề 9: Nhiều người cho rằng, giới trẻ ngày nay không quan tâm đến quá khứ của dân tộc
Trang 9Anh (chị) hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về vấn đề này
Với đề bài trên đây, học sinh sẽ phải tìm ý để lí giải cho nguyên nhân giới trẻ ngày nay không quan tâm đến quá khứ của dân tộc: thờ ơ với quá khứ, với lịch
sử, kém hiểu biết về chính đất nước quê hương mình
Các ý cần lí giải có thể là:
- Môi trường sống có nhiều thay đổi: đời sống vật chất lên cao, sự tiếp xúc văn hóa nhiều làm nảy sinh những cám dỗ tuy tầm thường song rất khó cưỡng lại, nhất là với tuổi trẻ vốn tò mò và ham thích cái mới; sự phân hóa giàu nghèo quá rõ rệt và
cơ sở của sự giàu nghèo không phải lúc nào cũng là năng lực thực sự khiến những bài học giáo dục đạo đức mất đi tính thuyết phục cần có sẽ làm giảm dần nhu cầu hoàn thiện bản thân, tăng nhu cầu hưởng thụ và mở đường cho một lối sống ích kỉ, sống hời hợt, sống tầm thường…
- Cách tuyên truyền, giáo dục thanh niên hiện nay còn giáo điều và nặng tính hình thức: thiên về hô hào, kêu gọi chung chung mà thiếu những tấm gương điển hình thực sự của đời sống trong thế hệ thanh niên và trong cả các thế hệ đi trước
- Bản thân lịch sử luôn luôn chứa đựng những vấn đề phức tạp Cách nói áp đặt, thiên về khuynh hướng “tô hồng” như hiện nay trở nên kém hấp dẫn nếu không muốn nói là gây phản cảm: Những con số khô khan không có khả năng thu hút, những cách nói đơn giản, xuôi chiều, dễ dãi không thể thuyết phục Dần dần, không
ít người thiếu niềm tin và sự quan tâm tới những bài học lịch sử, cũng thiếu luôn cả
sự quan tâm tới quá khứ của dân tộc
- Sự nhiễu loạn và thiếu kiểm soát của các luồng thông tin có thể gây hoang mang, dao động, thậm chí gây mất niềm tin vào tính thực tế của những bài học lịch sử Sự hoài nghi là một trong những cơ sở dẫn đến thái độ chối bỏ
Đoạn văn trên thuộc ý 2 của mô hình lập ý (phân tích, bình luận nguyên nhân, kết quả/ hậu quả) Phải có đoạn văn phân tích, bình luận nguyên nhân – kết quả/ hậu quả vì sau khi xác định rõ thực trạng, cần phân tích hiện tượng ở mặt nguyên nhân nào dẫn tới thực trạng vừa nêu ở ý 1
Có thể thấy, dạng bài tập lí giải, cắt nghĩa giúp học sinh luôn không bỏ xót ý Hơn nữa, học sinh hiểu rõ cách viết ý 1 – nêu thực trạng là cần nêu ra vấn đề/ hiện tượng ấy đang xảy ra như thế nào trong thực tế, học sinh còn còn biết phải lấy số liệu cho cụ thể, phải rõ ràng về sự việc, địa điểm, tên tuổi… và nhất là số liệu phải chính xác, mới mẻ, phải được công bố một cách đại chúng Với ý 2 – phân tích nguyên nhân – kết quả/ hậu quả, học sinh sẽ tư duy để trả lời được vì sao lại có hiện tượng đó? Hiện tượng đó có lợi hay có hại? và lợi/ hại như thế nào? Nhờ vậy đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống sẽ có sức thuyết phục
2.3.2.3 Bài tập ứng dụng
2.3.2.2.1 Đặc điểm của bài tập ứng dụng
Đây là kiểu bài tập được sử dụng nhiều nhất trong các giờ học Làm văn, nhất
là trong các giờ thực hành viết bài Giáo viên vận dụng vào ra đề, học sinh vận dụng tri thức vào thực hành
Trang 10Kiểu bài tập ứng dụng vô cùng cần thiết Nó giống như khâu cuối cùng trong quy trình dạy Làm văn Kiểu bài tập này yêu cầu học sinh vận dụng tất cả những tri thức đã học vào tạo lập một đoạn văn hoàn chỉnh
Kiểu bài tập này không chỉ giúp giáo viên có thể đánh giá được khả năng vận dụng tri thức của học sinh mà còn giúp giáo viên đánh giá được khả năng vận dụng các kĩ năng trong quá trình tạo lập văn bản của học sinh
Kiểu bài tập ứng dụng thường được sử dụng trong các tiết viết bài tại lớp hoặc ở nhà Giáo viên ra đề, học sinh vận dụng các tri thức và kĩ năng đã học về bài nghị luận về một hiện tượng trong đời sống để viết đoạn văn
Yêu cầu của bài viết về mặt kĩ năng là biết cách lập ý bên cạnh một số kĩ năng khác Học sinh biết vận dụng mô hình lập ý như đã trình bày ở trên để tạo lập một đoạn văn hoàn chỉnh
2.3.2.2.2 Hệ thống bài tập ứng dụng
Vận dụng các tri thức nghị luận về một hiện tượng đời sống, vận dụng tốt mô hình lập ý vào viết thực hành viết đoạn văn và bài văn hoàn chỉnh
Vận dụng mô hình lập ý cho kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
để viết bài:
Ý 1: Giới thiệu thực trạng
Ý : Phân tích và bình luận nguyên nhân - kết quả (hậu quả)
Ý 3 : Đề xuất ý kiến (giải pháp)
Ví dụ: Cho các đề bài sau đây
Đề 10: Hiện nay, khủng bố đang là một vấn nạn có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu Anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ về hiện tượng này
Hãy vận dụng mô hình lập ý cho dạng đề nghị luận về một hiện tượng trong đời sống để lập ý cho đề bài trên
Vận dụng mô hình lập ý sẽ có kết quả như sau:
Ý 1(Thực trạng)
- Khủng bố là một hình thức đấu tranh xã hội cực đoan bằng bạo lực, dùng bạo lực làm thước đo mức độ đấu tranh
- Khủng bố nhà nước: Nhà nước này dùng bạo lực có tổ chức để đàn áp, tấn công một nhà nước khác Có hai hình thức: bạo lực chính trị tạo sức ép và bạo lực vũ trang tấn công hủy diệt
- Các tổ chức khủng bố: Một nhóm người (cùng tôn giáo, đảng phái hoặc cùng một động cơ, mục đích) dùng bạo lực để gây sức ép với một thể chế chính trị, một bộ phận dân cư
- Khủng bố cá nhân: Dùng các hình thức bạo lực (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực…) đối với cá nhân khác
Ý 2 : Phân tích và bình luận nguyên nhân - kết quả (hậu quả)
- Nguyên nhân: