SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT THIỆU HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI DỰA TRÊN KỸ NĂNG PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH Người thực hiện: Lê Trọn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT THIỆU HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI DỰA TRÊN KỸ NĂNG PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH
Người thực hiện: Lê Trọng Vinh Chức vụ: Tổ trưởng
Đơn vị công tác: Trường THPT Thiệu Hóa SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI DỰA TRÊN KỸ NĂNG PHẢN HỒI CỦA HỌC SINH
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.5 Những điểm mới của SKKN
11122
Trang 32 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cở sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Văn nghị luận xã hội
2.1.2 Phản hồi và dạy học phản hồi
2.1.2.1 Khái niệm
2.1.2.2 Kỹ năng phản hồi tích cực
2.1.3 Dạy học phản hồi trong môn Ngữ văn ở trường THPT
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
2.2.1 Thực trạng về kỹ năng viết văn nghị luận của HSG tại các nhà
trường hiện nay
2.2.2 Thực trạng về việc sử dụng phương pháp phản hồi khi dạy học
phần Nghị luận xã hội cho HSG
2.3 Các giải pháp được sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giải pháp 1: Sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi của học sinh
trong tiến trình tìm hiểu vấn đề
2.3.2 Giải pháp 2: Các biện pháp sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản
hồi học sinh:
2.3.2.1 Phản hồi bằng hình thức trả lời miệng
2.3.2.2 Phản hồi bằng hình thức thảo luận trong nhóm
2.3.2.3 Phản hồi bằng hình thức viết
2.3.3 Thực nghiệm qua một đề văn cụ thể
2.4 Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,
đồng nghiệp và nhà trường
224455667
889
911111215
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PPDH Phương pháp dạy họcGDĐT Giáo dục đào tạo
GV Giáo viên
NXB Nhà xuất bảnSGK Sách giáo khoa
Trang 4SKKN Sáng kiến kinh nghiệmTHPT Trung học phổ thôngHSG Học sinh giỏi
1 Bảng 1: Sự khác nhau giữa mô hình dạy học truyền thống và
mô hình dạy học trên cơ sở phản hồi của học sinh
Bảng kết quả trước khi thực nghiệm – Kết qủa cấp trường
Bảng kết quả thi cấp tỉnh năm 2018 – 2019
Bảng kết quả thi cấp tỉnh năm 2020 – 2021 và 2021-2022
161717
Trang 51 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong môn Ngữ văn, văn nghị luận xã hội đã trở thành tiêu chí đánh giá đốivới học sinh trong các bài kiểm tra, các kỳ thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 và thi tốtnghiệp THPT Quốc gia Với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài cung cấp kiếnthức giáo viên cần hướng dẫn học sinh giải đề và rèn luyện kĩ năng viết bài Khigiải các dạng đề cụ thể, các em sẽ bộc lộ năng lực thể hiện kiến thức; khi rèn kỹnăng viết bài giáo viên sẽ phát hiện những ưu điểm, nhược điểm của học sinh đểphát huy, uốn nắn Cấu trúc đề thi HSG cấp tỉnh hiện nay có phần đọc hiểu, nghịluận xã hội và phần nghị luận văn học, thời gian làm bài 150 phút Khi triển khaiviết bài HS vẫn còn gặp khá nhiều lúng túng trong việc xử lí đề, hiểu yêu cầu đề, ápdụng kiến thức, diễn đạt vào bài văn , đặc biệt là ở phần nghị luận xã hội vì thế kếtquả bài thi chưa được như mong muốn
Từ thực tế dạy bồi dưỡng đội tuyểnhọc sinh giỏi, tôi nhận thấy học sinh gặpkhó khăn trong việc rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội Bởi vấn đề nghịluận xã hội rất rộng, dù đã nắm thật vững phương pháp, thao tác nghị luận ở cácdạng bài nhưng khi gặp một đề thi cụ thể, các em còn khá lúng túng trong việc xácđịnh vấn đề xã hội, tìm ý sao cho đúng, đủ yêu cầu của đề văn Trong quá trình ônluyện, trước một đề bài các em cần có những quan điểm khác khác nhau về vấn đềnghị luận Khi đó GV và các học sinh khác sẽ phản hồi như thế nào để tạo nên tínhtích cực trong học tập đặc biệt là kích thích niềm đam mê trong ôn luyện HSG
Sự phản hồi là khả năng phản ánh suy nghĩ và quan điểm của người tiếpnhận Sự phản hồi tích cực trong dạy học nói chung và trong ôn thi bồi dưỡng HSGnói riêng là cách dạy và học hữu ích để tạo ra thay đổi tích cực trước các vấn đề,kích thích niềm đam mê, sự hăng say trong học tập Thông qua sự phản hồi từ HS,chúng ta có thể biết mức độ nắm vững kiến thức và kĩ năng của người học GVcũng kiểm nghiệm lại phương pháp dạy học (PPDH) và hiệu quả dạy học của mình,
từ đó kịp thời điều chỉnh kế hoạch, phương pháp, kĩ thuật dạy học HS cũng xácđịnh được khả năng nhận thức của bản thân để tự trau dồi kiến thức và kỹ năng họctập và rèn luyện
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, kết hợp kinh nghiệm giảng dạy thực tiễncủa bản thân, cùng với những gì tiếp thu, học hỏi được từ đồng nghiệp đi trước, tôi
xin đóng góp kinh nghiệm trong việc ôn thi văn nghị luận xã hội, cụ thể là Dạy học bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi dựa trên kỹ năng phản hồi của học sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực trạng để từ đó đưa ratrình tự, cách thức tổ chức, phương pháp dạy học dựa trên phản hồi của học sinh đểđem lại hiệu quả cao trong bài nghị luận xã hội của học sinh giỏi, góp phần nângcao chất lượng dạy và học đặc biệt là chất lượng HSG
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 6- Các dạng đề nghị luận xã hội thường xuất hiện trong kì thi học sinh giỏitỉnh Thanh Hóa.
- Bài viết văn nghị luận xã hội của học sinh trong đội tuyển học sinh giỏitỉnh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp chủ yếu khảo sát, nắm bắttình hình thực tiễn và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy hàng năm để tìm ragiải pháp chung
- Phương pháp tiếp nhận thông tin phản hồi, phân tích, tổng hợp, đánh giá
- Phương pháp so sánh: trước và sau khi thực nghiệm đề tài
1.5 Những điểm mới của sáng kiến
Về lý luận: Sáng kiến đóng góp kỹ năng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi THPT
ở kiểu bài nghị luận xã hội dựa trên phản hồi của học sinh
Về thực tiễn: Đi sâu vào vấn đề rèn kỹ năng phản hồi cho học sinh thông
qua giảng dạy bộ môn Ngữ văn và dạng văn nghị luận xã hội, tôi muốn đưa ra một
số giải pháp mà bản thân tôi đã thực hiện trong quá trình bồi dưỡng HSG tỉnh tạitrường THPT Thiệu Hóa, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vàoviệc phát triển chất lượng mũi nhọn của nhà trường và góp phần thực hiện mục tiêucủa ngành giáo dục đào tạo các em học sinh trở thành con người toàn diện
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến
2.1.1 Văn nghị luận xã hội
*Khái quát về văn nghị luận xã hội
Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ
để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, triết học, đạo đức, văn học,nghệ thuật, ) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp làm sáng tỏ Luận
là bàn về đúng/sai, phải/ trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia Mục đích là đểngười khác nhận ra chân lí đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin củamình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tínhmạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận Nghịluận vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chúng minh, so sánh, bác bỏ
(Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 tập 2)
Nghị luận xã hội là bài văn bàn về vấn đề diễn ra xung quanh đời sống xãhội Đề tài của dạng bài nghị luận xã hội hết sức rộng mở Nó bao gồm tất cả cácvấn đề tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp/ chưa đẹp, một hiện tượng tích cực/ tiêucực, vấn đề thiên nhiên, môi trường sống
Như vậy, nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục
đích cuối cùng là tạo ra những tác động tích cực đến nhận thức, thái độ, hành độngcủa con người
Trang 7*Các kiểu bài cơ bản, các dạng đề chủ yếu của văn nghị luận xã hội
Với cấu trúc đề thi học sinh giỏi như hiện nay, các em học sinh sẽ rất cần tậptrung cao khi triển khai vấn đề ở câu nghị luận xã hội Bởi vấn đề nghị luận khôngthể đi chệch khỏi nội dung tư tưởng quan trọng bao trùm nhất từ đề bài Với yêucầu như vậy, phần Nghị luận xã hội sẽ được phân chia thành các kiểu bài sau:
- Các kiểu bài cơ bản (Căn cứ và nội dung ra đề): Nghị luận xã hội trong
nhà trường tập trung vào hai nội dung bàn luận: Nghị luận về một hiện tượng đờisống và nghị luận về một tư tưởng đạo lí
- Căn cứ vào hình thức ra đề: Đề nghị luận xã hội có thể ra dưới nhiều hình
thức khác nhau, tạm thời thống kê được một số dạng cơ bản sau:
+ Dạng đề trích dẫn một cụm từ/ câu nói/ nhận định:
Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói: “Trên con đường thành
công không có dấu chân của kẻ lười biếng” hoặc “Phía sau lời nói dối”
+ Dạng đề trích dẫn hai câu nói/ hai nhận định:
Ví dụ: Amonimus cho rằng: “Con đường gần nhất để ra khỏi gian nan là đi xuyên qua nó” Nhưng có người lại khuyên: “Hãy học cách ứng xử của dòng sông: gặp trở ngại, nó vòng tìm đường khác” Anh/ chị hãy bày tỏ quan điểm của mình
về những ý kiến trên?
+ Dạng đề trích dẫn một văn bản văn học (bài thơ, đoạn thơ, mẩu chuyện):
Ví dụ 1: Đọc câu chuyện “Thỏ và rùa”… Viết một bài văn nghị luận về
một bài học mà anh (chị) tâm đắc?
Ví dụ 2: Thông điệp sâu sắc nhất anh/ chị nhận được từ văn bản sau
Mùa đông đang đến gần Những bầy chim bắt đầu thấy lạnh
Rủ nhau về phương Nam lẩn tránh
Dù suốt mùa hè ca ngợi quê hương Chỉ có đại bàng vẫn ngồi im
Lặng lẽ nhìn những hàng cây trút lá Khi quê hương gặp những ngày băng giá Đại bàng không bỏ bay đi
(R.Gamzatop)Mỗi dạng đề nêu trên lại đòi hỏi những cách thức giải quyết khác nhau.Trước khi học sinh có thể đủ năng lực chủ động bài viết theo quan điểm riêng, giáoviên cần trang bị cho học sinh yêu cầu cơ bản của từng cách ra đề
*Các yêu cầu cơ bản viết bài văn NLXH
Để làm tốt phần Nghị luận xã hội, trước tiên yêu cầu các em HS cần nắmvững các yêu cầu của dạng bài nghị luận xã hội:
Yêu cầu về nội dung
Thứ nhất: phải bám sát vấn đề cần nghị luận
Thứ hai: phải nêu được quan điểm cá nhân rõ ràng, nghiêm túc và nhất quán
Trang 8Thứ ba: phải phân tích được chỗ đúng hay chỗ sai của vấn đề đang bàn luận.
Thứ tư: trong bài văn cần có những dẫn chứng thuyết phục bằng các ví dụ cụ
thể trong đời sống, trong văn chương nghệ thuật Vì vậy, điều cần thiết học sinhphải có kiến thức xã hội phong phú, đa dạng; năng lực thâu tóm, nắm bắt các vấn
đề xã hội xảy ra ngoài cuộc sống
Thứ năm: người viết cần biết cách lật ngược vấn đề, soi chiếu vấn đề ở nhiềukhía cạnh để luận bàn Từ đó, đề xuất các giải pháp thiết thực và khả thi giúp conngười, cuộc sống, xã hội tốt đẹp hơn
Yêu cầu về hình thức
Bài văn hay đoạn văn nghị luật xã hội phải đảm bảo bố cục rõ ràng ba phần
(hoặc có câu): Mở bài, thân bài và kết bài.
Trong phần thân bài, có các luận điểm, các luận điểm đó được thể hiện trongđoạn văn Đoạn văn có thể tổ chức theo một trong các hình thức kết cấu: diễn dịch,quy nạp, song hành hay móc xích, tổng – phân – hợp; đoạn văn so sánh, giải thích,tương phản, thuyết minh, tự sự hay nghị luận… ; đoạn văn phải có luận điểm rõràng, đúng đắn; luận cứ xác thực, sử dụng thao tác lập luận phù hợp; đoạn văn phải
có lời văn chính xác, sống động, cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc,mới mẻ về vấn đề nghị luận; trình bày sạch đẹp, đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ,đặt câu;; đoạn văn ngắn sẽ đi liền với yêu cầu về sự mạch lạc, lôgic; lí lẽ chặt chẽ,thuyết phục; dẫn chứng tiêu biểu, xác thực
2.1.2 Phản hồi và dạy học phản hồi
2.1.2.1.Khái niệm
Phản hồi là cách thức giao tiếp mà người ta sẽ đưa ra và tiếp nhận thông tin
Là sự thông báo qua lại giữa học sinh (HS) và giáo viên (GV) Thông qua sự phảnhồi từ HS đến GV, người GV có thể biết mức độ nắm vững kiến thức và kĩ năngcủa HS Bên cạnh đó, GV cũng kiểm nghiệm lại phương pháp dạy học (PPDH) vàhiệu quả dạy học của mình, từ đó kịp thời điều chỉnh PPDH, kế hoạch dạy học chophù hợp
Kỹ năng phản hồi được thể hiện qua 2 cách:
+ Phản hồi xây dựng (phản hồi tích cực): là đưa ra những thông tin cụ thể,trọng tâm vào vấn đề và dựa trên sự quan sát, nêu lên những điểm tích cực vànhững điểm cần cải thiện
+ Phản hồi theo kiểu “khen và chê”: là những đánh giá mang tính cá nhân,chú trọng vào quan điểm, cảm nhận của người đưa ý kiến phản hồi
Trong quá trình học tập, cũng có khi HS là người nhận phản hồi từ các thầy
cô và bạn bè, nhưng cũng có khi HS chính là người đưa ra ý kiến phản hồi chochính thầy cô hoặc bạn bè của mình Nhưng dù ở vai trò nào, chúng ta hãy cố gắng
để đừng bị rơi vào cái bẫy của kiểu phản hồi “khen và chê” Trong phạm vi sángkiến này, người viết đề cập đến kỹ năng phản hồi xây dựng (phản hồi tích cực)
Trang 92.1.2.2 Kỹ năng phản hồi tích cực
Kỹ năng phản hồi tích cực là kỹ năng người giao tiếp sẽ đưa ra các thông tin
cụ thể về vấn đề căn cứ trên sự quan sát tỉ mỉ, từ đó nêu lên những điểm tích cực vànhững điểm cần cải thiện Phản hồi tích cực được biểu hiện qua việc lắng nghe tíchcực, tóm tắt được những điểm chính trong giờ học, kết hợp hoàn hảo giữa phản hồibằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
Các loại phản hồi tích cực
- Khuyến khích là sự tác động đến tinh thần để gây phấn khởi, tin tưởng mà
cố gắng hơn
- Trấn an là làm cho yên lòng, hết hoang mang lo sợ
- Động viên là tác động đến tinh thần làm cho phấn khởi vươn lên
- Ca ngợi là nêu lên để khen, để tỏ lòng yêu quý, khâm phục
Kỹ năng phản hồi là một phần rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày nóichung và trong môi trường học tập nói riêng Khi một người nhận được những phảnhồi mang tính xây dựng nó sẽ giúp cho họ sẵn sàng thay đổi để hoàn thiện mìnhhơn và tối đa hóa khả năng của mình
2.1.3 Dạy học phản hồi trong môn Ngữ văn ở trường THPT
Dạy học phản hồi trong môn Ngữ văn ở trường THPT là một chiến lược dạyhọc GV sử dụng phương pháp dạy học phản hồi để điều chỉnh những kinh nghiệm,kiến thức và những cách thức dạy học, trợ giúp sự phát triển tư duy cho HS Môhình dạy học này được hình thành từ lý thuyết dạy học văn dựa trên quan điểm củangười học Mô hình này cũng được xây dựng dựa trên tiến trình hiểu một tác phẩmvăn chương Ngoài việc người đọc hướng tới việc tạo nghĩa cho văn bản khi họtham gia vào hoạt động đọc họ còn hướng tới những ý tưởng khác do chính họ sángtạo ra Những câu hỏi và sự suy đoán lần lượt xuất hiện và trở thành động cơ “trảinghiệm những kinh nghiệm” Mô hình dạy đọc văn bản văn học trên cơ sở phản hồicủa HS là một mô hình dạy học mở, đặt trọng tâm vào đối tượng người học, giảiphóng tối đa năng lực tư duy sáng tạo của HS Trước mắt người học không phải lànhững bài giảng, những kiến thức có sẵn, mà là những vấn đề, những tình huống,những mâu thuẫn được gợi ra từ văn bản mà người học cần vượt qua Bản chất của
mô hình dạy đọc văn bản văn học trên cơ sở phản hồi của HS là GV sử dụng nhữngchiến lược dạy học để khơi gợi, khuyến khích HS suy ngẫm và khám phá nhữngcách hiểu văn bản, từ đó giúp HS tham gia vào quá trình giải mã và tạo nghĩa chovăn bản
Mô hình dạy đọc văn bản trên cơ sở phản hồi của người đọc – HS khác với
mô hình dạy đọc văn bản truyền thống Đặc điểm mô hình dạy học văn truyềnthống là GV tìm hiểu văn bản, xác định mục tiêu bài học, định trước những hoạtđộng, lựa chọn những đơn vị kiến thức, soạn giáo án và lên lớp truyền thụ nhữngkiến thức ấy cho HS Giờ học lặp đi, lặp lại theo một quy trình định sẵn áp dụngvới mọi giờ học GV khi lên lớp phải thực hiện đầy đủ các bước từ ổn định lớp,kiểm tra sĩ số, kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, giảng bài, củng cố và hướng dẫn
Trang 10chuẩn bị bài mới Thiếu một bước coi như tiết học chưa hoàn thành Mọi giờ họcđều giống nhau, các bước lên lớp cứ lặp đi lặp lại nhàm chán, tẻ nhạt, không gâyhứng thú đối với HS SGK và SGV được xem là pháp lệnh Đặc biệt khi kiểm trađánh giá giờ dạy, GV thường bị đánh giá vào các tiêu chí là có thực hiện đầy đủ cácbước lên lớp hay không, có bị “cháy” giáo án không, GV có truyền đạt đầy đủ kiếnthức của bài học hay không Vì thế, để thực hiện tốt điều này, GV thường chạy đuavới thời gian, không tổ chức được những hoạt động để các em được trải nghiệm,được bày tỏ những ý kiến cá nhân về văn bản GV là người nắm giữ kiến thức nên
HS chỉ thụ động tiếp nhận từ GV và tái hiện những kiến thức ấy trong những đợtkiểm tra, thi cử Đôi lúc HS cũng có những cảm nhận riêng, những ý kiến sáng tạonhưng chỉ dừng lại ở sự ghi nhận, tham khảo Trong giờ học ít có sự tương tác, đốithoại giữa GV – HS, giữa HS – HS HS ít đặt câu hỏi, thậm chí không biết đặt câuhỏi về bài học với GV và các bạn cùng lớp Mối quan hệ giữa GV và HS xoayquanh trục: Thầy truyền đạt - trò tiếp nhận Có thể so sánh một cách khái quát môhình dạy đọc văn bản truyền thống và mô hình dạy đọc văn bản dựa trên sự phảnhồi của người đọc – HS như sau:
Mô hình dạy đọc văn bản truyền
- HS thụ động tiếp nhận kiến thức - HS chủ động tìm kiếm kiến thức, ý kiếncủa HS được khuyến khích và tôn trọng
- GV quyết định quy trình dạy học,
Bảng 1: Sự khác nhau giữa mô hình dạy học truyền thống và mô hình dạy
học trên cơ sở phản hồi của học sinh
Mô hình dạy học dựa trên phản hồi của người học là một mô hình mở, đặttrọng tâm vào đối tượng người học, cho phép giải phóng tối đa năng lực tư duysáng tạo của HS
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
2.2.1 Thực trạng về kỹ năng viết văn nghị luận của HSG tại các nhà trường hiện nay
Thực trạng học và làm bài văn nghị luận xã hội đang là một vấn đề đượcquan tâm trong các nhà trường Theo thống kê và theo dõi kết quả trong quá trình
ôn thi và thi khảo sát đội tuyển học sinh giỏi của mấy năm gần đây thì chất lượnglàm bài môn Ngữ văn của học sinh trường THP Thiệu Hóa đã có sự tiến bộ rõ rệt
Trang 11Tuy nhiên phần điểm bị trừ, điểm thấp trong bài lại rơi vào phần văn nghị luận xãhội Khi viết bài văn Nghị luận xã hội học sinh thường mắc một số lỗi sau:
- Viết không đúng trọng tâm Chưa xác định đây là dạng nghị luận gì (tưtưởng về đạo lí hay hiện tượng xã hội) để có cách triển khai phù hợp
- Viết câu rườm rà, kiểu như nghĩ gì viết nấy, quá nhiều yếu tố biểu cảm làmmất đi tính lí lẽ, rõ ràng, xác thực mà một bài văn, đoạn văn nghị luận xã hội cần
có
- Chưa có đủ 3 phần: Tuy đề yêu câu viết đoạn văn những vẫn phải đảm bảo:Giới thiệu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề
Lỗi về nội dung
- Giới thiệu vấn đề không đúng vấn đề trọng tâm
- Không xác lập được luận điểm, nói chung chung
- Dẫn chứng đưa ra không hợp lí, quá ít hoặc quá nhiều, lan man; dẫn chứngmang tính chủ quan; thiếu dẫn chứng thực tế
- Liên hệ quá máy móc, khuôn mẫu, chưa định hướng được hành động cụ thểcủa bản thân
- Chưa xác định trọng tâm của bài viết là vấn đề gì để tập trung vào đó
-Chưa biết vận dụng đa dạng kết hợp với các thao tác lập luận trong văn bản(giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh…) để bài viết có sức thuyết phục vàsống động hơn
- Chưa biết sử dụng các yếu tố biểu cảm một cách hợp lí và nêu cảm nghĩriêng
- Không dám mạnh dạn lật ngược lại vấn đề
Từ thực trạng trên đây cho thấy phần nhiều chưa có kỹ năng tốt trong làm bàivăn nghị luận xã hội Vì vậy, việc nâng cao, mở rộng, rèn thêm cho học sinh kĩnăng làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh giỏi là vô cùng cần thiết
2.2.2 Thực trạng về việc sử dụng phương pháp phản hồi khi dạy học phần Nghị luận xã hội cho HSG.
Phản hồi là một trong những yếu tố trung tâm của đánh giá, phát triển Giátrị của phản hồi đã được khẳng định trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT, giúp
HS hình thành và phát triển các năng lực trong học tập Khơi gợi được sự phản hồi
và HS biết phản hồi trong quá trình đọc văn bản là một tín hiệu tốt để GV có thểphát huy hết vốn kiến thức, kinh nghiệm sống và tính chủ động, sáng tạo của HS
Phản hồi trong dạy học Ngữ văn thể hiện sự thông báo qua lại giữa học sinh
và giáo viên Thông qua sự phản hồi từ HS đến GV, người GV có thể biết mức độ
Trang 12nắm vững kiến thức và kỹ năng của HS Bên cạnh đó, GV cũng kiểm nghiệm lạiPPDH và hiệu quả dạy học của mình, từ đó kịp thời điều chỉnh PPDH, kế hoạchdạy học cho phù hợp Muốn kích thích sự phản hồi của HS thì GV phải phải liêntục phản hồi, kịp thời đánh giá Phản hồi trong dạy học là biện pháp quan trọngtrong đổi mới phương pháp giảng dạy
Qua tìm hiểu tại tổ chuyên môn của trường THPT Thiệu Hóa và một sốtrường học trên địa bàn huyện nhà, tôi nhận thấy việc thực hiện dạy học phản hồi
đã được đề cập tới trong đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học ở một số trườngTHPT Khi giảng dạy bồi dưỡng HSG ở trường THPT Thiệu Hóa tôi và các giáoviên dạy văn đã áp dụng giải pháp: sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực: khăn phủ bàn, thảo luận nhóm, dự án đặc biệt đã sử dụng dạy học phản hồi
để tăng tính tích cực của học sinh Tuy nhiên vẫn nhận thấy:
- Học sinh vẫn chưa thực sự hứng thú với các vấn đề nghị luận xã hội, chưachủ động với việc chiếm lĩnh kiến thức Việc xác định các vấn đề nghị luận xã hộitrong đề thi của học sinh vẫn theo định hướng của giáo viên, học sinh ít sáng tạo,chất lượng thi HSG chưa cao
- Học sinh thiếu kỹ năng để tìm hiểu các vấn đề xã hội, thờ ơ và thấy rằngphần nghị luận xã hội là phần chứa dung lượng ít trong đề thi HSG vì thế chưa cónhững tình huống phản hồi hiệu quả khi tìm hiểu vấn đề
- Giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh các kĩ năng làm bàinghị luận xã hội khi áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong tiếthọc và trong luyện đề Vì thế học sinh chưa thật hứng thú và rút ra được những bàihọc cho riêng mình
2.3 Các giải pháp đã được sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giải pháp 1: Sử dụng câu hỏi để khơi gợi sự phản hồi của học sinh trong tiến trình tìm hiểu vấn đề.
Đề nghị luận xã hội thường có hai dạng phổ biến là đề nổi và đề chìm Ởdạng đề nổi các em dễ xác định yêu cầu của đề hơn, đề chìm khiến các em lúngtúng đôi khi chệch hướng Vì vậy, yêu cầu cơ bản đầu tiên nhất là phải xác địnhđúng vấn đề Để khơi gơi sự phản hồi học sinh trong tiến trình tìm hiểu vấn đề GVcần làm tốt phần khơi gợi thông qua đặt câu hỏi Ivan Hannel từng nói “Đặt câu hỏi hiệu quả cao là cách thức giúp HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập”.
Bản chất của mô hình dạy học dựa trên sự phản hồi của HS là dựa trên câutrả lời của HS, GV nêu câu hỏi tiếp theo để khơi gợi, phát triển sự hiểu biết của HS
về vấn đề Việc sử dụng một hệ thống câu hỏi có chức năng kích hoạt kiến thức nềncủa HS, khơi gợi HS chia sẻ cách hiểu của mình về vấn đề nghị luận, giúp HS pháttriển ý tưởng và cách lý giải về vấn đề xã hội được đặt ra ở phần đề bài Từ thực tếgiảng dạy của bản thân tôi xin đề xuất một số loại câu hỏi sau: