Lý luận phê bình văn học về tác phẩm trữ tình đã có rất nhiều thành tựu, nhưng làm thế nào để phát triển các kĩ năng sống, khơi dậy được tối đa tiềm năng riêng của mỗi bạn đọc học sinh t
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong hai thập niên gần đây, cuộc cách mạng về phương pháp dạy học đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở nhà trường phổ thông Đặc biệt, vấn đề chủ thể người học, vấn đề rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc theo nhóm đã được thể chế
hóa trong Luật giáo dục (2005) : Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Văn bản thơ hiện đại (VBTHĐ), phần đọc - hiểu, chiếm một tỉ lệ lớn trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THPT VBTHĐ vừa thể hiện những đặc điểm chung của thể loại trữ tình vừa đi sâu thể hiện thế giới tâm hồn tình cảm tác giả vừa bao quát một phạm vi rộng lớn những vấn đề của đời sống, từ những vấn đề về dân tộc, lịch sử cho đến những vấn đề về gia đình, về lẽ ứng xử hàng ngày hay những triết lí nhân sinh về cuộc đời, con người…Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm trữ tình, đặc trưng thi pháp của tác phẩm trữ tình quy định một kênh giao tiếp riêng đối với bạn đọc Bên cạnh đó việc chiếm lĩnh tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi ở mỗi người đọc phải có năng lực, vốn sống và kĩ năng riêng Văn chương là để suy ngẫm, nhưng để suy ngẫm sâu rất cần phải đối thoại, tranh luận Lý luận phê bình văn học về tác phẩm trữ tình đã có rất nhiều thành tựu, nhưng làm thế nào để phát triển các kĩ năng sống, khơi dậy được tối đa tiềm năng riêng của mỗi bạn đọc học sinh trong mỗi giờ đọc hiểu văn bản trữ tình -câu hỏi đó là một nhiệm vụ đòi hỏi ở người giáo viên sự đầu tư công phu trong mỗi giờ lên lớp VBTHĐ ngoài những đặc điểm chung của thể loại còn có những đặc điểm riêng đòi hỏi người dạy phải vận dụng để có những thiết kế phù hợp
Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm (HĐN) là một trong những hình thức, biện pháp dạy học phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong chiếm lĩnh tác phẩm văn chương Từ khi thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới hình thức dạy học này đã được một bộ phận giáo viên áp dụng Tuy nhiên,
do thiếu những chỉ dẫn cụ thể về mặt lý thuyết, do đặc thù của tiếp nhận văn chương và những hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học mà việc tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc là chưa thường xuyên, hoặc rơi vào máy móc, hiệu quả chưa cao
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu
Chọn đề tài này, chúng tôi muốn cụ thể hơn về một số vấn đề lý thuyết về hoạt động nhóm, đặc biệt về các biện pháp, cách thức, hình thức tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm trong giờ dạy học loại hình văn bản thơ hiện đại nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của giờ dạy học thể loại nói riêng và việc học tập bộ môn nói chung
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết tổ chức hoạt động nhóm, từ đó vận dụng vào đọc hiểu văn bản thơ hiện đại trong chương trình Ngữ văn 11, 12 phù hợp với đặc trưng thể loại
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lí thuyết: Tìm đọc, khái quát các tài liệu về hình thức tổ chức hoạt động nhóm; về đặc điểm lứa tuổi HS THPT; về đặc trưng của thể loại trữ tình và loại hình thơ ca hiện đại giai đoạn từ sau 1930
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Tìm hiểu thực trạng của việc vận dụng hình thức HĐN trong dạy học môn Ngữ văn và văn bản thơ hiện đại ở một
số trường THPT trên địa bàn huyện Nông Cống, Quảng Xương
- Phương pháp thống kê: Thống kê kết quả thu được từ các bài kiểm tra thực nghiệm và đối chứng giờ đọc hiểu có vận dụng hình thức HĐN và không vận dụng hình thức HĐN
- Phương pháp khái quát, tổng hợp: Làm rõ các biện pháp cụ thể trong việc xây dựng câu hỏi cho HS HĐN trong giờ đọc hiểu VBTHĐ
1.5 Những điểm mới của SKKN
Tiếp tục vận dụng lý thuyết hoạt động nhóm trong dạy đọc hiểu văn bản thơ hiện đại, đưa ra các biện pháp cụ thể khi xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh thảo luận nhóm trong đọc hiểu, cảm thụ văn bản
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 32.1 Cơ sở lý luận.
2.1 1 Tổ chức hoạt động nhóm là hình thức dạy học có nhiều ưu điểm nổi bật.
Tổ chức dạy học theo nhóm là hình thức dạy học được nhiều giáo viên (GV) chú ý trong những năm vừa qua, đây là hình thức dạy học phát huy tối đa tinh thần chủ động tích cực của học sinh (HS) Hoạt động nhóm (HĐN) “là phương pháp tổ chức cho học sinh học tập, thảo luận theo từng nhóm, cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ học tập cụ thể nào đó giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, hiểu thấu đáo vấn đề và phát triển những kỹ năng trí tuệ cần thiết dưới sự
tổ chức, hướng dẫn của giáo viên” [6, 20]
Thảo luận nhóm là khâu cơ bản, then chốt trong quá trình hoạt động nhóm, học sinh trong nhóm tự giác, tích cực, chủ động nghiên cứu trao đổi và bàn bạc thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên
Hình thức dạy học theo nhóm phân biệt với các hình thức dạy học khác ở
chỗ các hoạt động riêng của từng cá nhân được tổ chức lại và liên kết hữu cơ với nhau trong một hoạt động chung của tập thể nhỏ Trong đó các nhân tố của quá trình dạy học được thể hiện như sau:
- Trò là chủ thể tích cực, sáng tạo của hoạt động học tập.
- Nhóm học tập là môi trường để học sinh lĩnh hội tri thức, phát triển trí tuệ và nhân cách.
- Giáo viên là người tổ chức các hoạt động học tập chứ không phải là người truyền đạt kiến thức có sẵn cho HS
HĐN là hình thức dạy học phổ biến ở các nước phát triển Qua tổ chức
HĐN sẽ giúp người học:
Về mặt xã hội: Phát triển kỹ năng giao tiếp cá nhân như nghe, nói, tranh
luận và lãnh đạo; rèn luyện khả năng hợp tác, tương hỗ; giúp người học bày tỏ ý kiến riêng một cách tự tin hơn Qua HĐN người học được rèn luyện tinh thần tự giác, ý thức phấn đấu, tăng cường trách nhiệm cá nhân trong tập thể, thói quen biết lắng nghe ý kiến người khác
Về mặt giáo dục: HĐN rất có ích trong việc phát triển những kỹ năng trí
tuệ bậc cao như suy luận và giải quyết vấn đề; được cọ sát với nhiều câu trả lời, nhiều giải pháp quan điểm khác nhau cho cùng một vấn đề, từ đó góp phần phát triển tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của HS Qua tổ chức HĐN sẽ “phát triển
Trang 4mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò, nhất là trò với trò, trò với tri thức; thầy
có điều kiện gần gũi với học sinh, hiểu rõ hơn về đối tuợng của mình” [8,15]
Những đặc điểm, ưu điểm trên của hình thức tổ chức HĐN rất phù hợp trong việc vận dụng vào thiết kế bài dạy học trong giờ đọc hiểu văn bản văn chương nói chung và văn bản thơ hiện đại nói riêng
2.1.2 Tổ chức HĐN là hình thức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh THPT và dạy đọc - hiểu văn bản thơ hiện đại.
2.1.2.1 Hoạt động nhóm với đối tượng học sinh THPT.
Với đối tượng HS việc rèn luyện cho các em kỹ năng hoạt động nhóm với các mức độ phù hợp qua các môn học cụ thể là định hướng đúng đắn Lý luận
dạy học hiện đại khẳng định: Càng có những yêu cầu cao ở người học bao nhiêu sẽ có những nội dung và phương pháp dạy học thích hợp; đồng thời thể hiện niềm tin, kích thích sự sáng tạo tích cực ở người học Lứa tuổi HS THPT
(16 - 18 tuổi) là tuổi bắt đầu trưởng thành, các em dần có ý thức về cá nhân, nhận thức cảm tính dần chuyển sang nhận thức lý tính với những đánh giá con người, sự việc có chủ kiến Đây là cơ sở cho việc xây dựng nội dung, yêu cầu HĐN phù hợp cho lứa tuổi các em Tuy nhiên điểm yếu của lứa tuổi này là vốn sống chưa nhiều, còn thiếu tập trung, dễ thay đổi quan điểm Qua tổ chức học tập theo nhóm sẽ rèn luyện thêm cho các em sự chú ý bền vững; ý thức làm việc độc lập kết hợp với nhóm với tập thể; phát triển tư duy suy luận và đánh giá các vấn đề của bài học, từ đó liên hệ ra cuộc sống
Trong nhận thức, cảm nhận văn học lứa tuổi này có sự hứng thú với những vấn đề gần với tâm lý lứa tuổi và hiện thực cuộc sống Các em có thể hợp tác, trao đổi để cùng khám phá, tiếp nhận các giá trị văn học
2.1.2.2 Hoạt động nhóm với dạy đọc - hiểu văn bản thơ hiện đại.
VBTHĐ cũng như văn bản văn chương nói chung bao giờ cũng là những bức thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi tới bạn đọc nhiều thế hệ Mỗi văn bản
ra đời là sự hội tụ của vốn sống, vốn văn hoá, thế giới nội tâm phong phú có khi nhiều uẩn khúc và tài năng nghệ thuật của nhà thơ Từ sự "thai nghén" để ra đời
"đứa con tinh thần" bao giờ cũng trải qua một hành trình lao tâm khổ tứ đầy tâm huyết Với những tác phẩm lớn và đặc sắc hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng
có sức chứa vô tận và mời gọi nhiều sự cảm - hiểu khác nhau
Phần VBTHĐ được đưa vào chương trình THPT có số lượng khá lớn,
gồm nhiều giai đoạn Giai đoạn 1930 – 1945 có các văn bản Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Từ ấy (Tố
Trang 5Hữu) ; giai đoạn 1945 – 1975 cú cỏc văn bản Tõy Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nước (trớch Mặt đường khỏt vọng – Nguyễn Khoa Điềm), Súng
(Xuõn Quỳnh) Cỏc VBTHĐ chứa đựng biết bao thế giới tõm hồn, bao vấn đề nhõn sinh, là sự hiện hữu của con người qua nhiều giai đoạn của lịch sử, nhiều vựng miền khỏc nhau VBTHĐ khẳng định cỏi Tụi cỏ nhõn với nhiều cung bậc nội tõm (Thơ mới), hoặc thể hiện những hỡnh tượng nghệ thuật cao đẹp của thời đại (hỡnh tượng người lớnh, hỡnh tượng Đất nước, Nhõn dõn trong thơ ca giai đoạn 1945 – 1975) VBTHĐ sử dụng phần lớn thể thơ tự do, 5 chữ, 7 chữ, thơ lục bỏt với hỡnh ảnh thơ phong phỳ, cỏc biện phỏp nghệ thuật được vận dụng linh hoạt, sỏng tạo Mặt khỏc ở đú cũn chứa đựng quan niệm nghệ thuật, phong cỏch nghệ thuật độc đỏo của mỗi nhà thơ
Những tiền đề trờn là cơ sở cần thiết cho việc tổ chức HĐN trong tiến trỡnh bài học Bởi những vấn đề phong phỳ, phức tạp bao giờ cũng cần sự trao đổi, hợp tỏc của nhiều người Từ đú mỗi cũng người giàu cú thờm hơn về nhận thức về kỹ năng và kinh nghiệm
2.2 Thực trạng của việc tổ chức HĐN trong dạy học VBTHĐ.
Qua dự giờ nhiều tiết dạy của GV cùng đơn vị công tác và tham khảo ý kiến của đồng nghiệp một số đơn vị khác về việc dạy học Ngữ văn và VBTHĐ cú sử dụng hỡnh thức HĐN, chỳng tụi thấy cú một số thực trạng như sau:
* Sử dụng hỡnh thức hoạt động nhúm cũn chưa thường xuyờn hoặc chưa hiệu quả với khụng ớt giỏo viờn.
Do thúi quen sử dụng phương phỏp thuyết trỡnh nờn đa số GV khi được hỏi về việc sử dụng hỡnh thức HĐN đều cho rằng để cú một tiết dạy theo hỡnh thức này phải chuẩn bị rất cụng phu và ớt thành cụng Mặt khỏc do lớp đụng, phương tiện dạy học hạn chế nờn việc tổ chức cho nhúm hoạt động rất khú khăn
GV cũn lỳng tỳng trong khõu chuẩn bị và thực hiện, đặc biệt là việc tổ chức cho cỏc nhúm hoạt động Nhiều khi GV chỉ nờu cõu hỏi hoặc phỏt phiếu cho HS mà chưa cú sự gợi dẫn, đặt HS vào tỡnh huống học tập; GV cũn chưa bao quỏt, chưa theo dừi được hoạt động của cỏc nhúm để điều chỉnh, gợi ý kịp thời nờn quỏ trỡnh hoạt động nhúm của HS khi thỡ diễn ra qỳa nhanh, khi thỡ diễn
ra quỏ chậm khụng đảm bảo yếu tố thời gian Mặt khỏc cỏch GV chia nhúm cũn mỏy múc hỡnh thức, chưa cú sự chuẩn bị tương ứng với dung lượng cõu hỏi Vớ
dụ cú GV chia mỗi bàn một nhúm, mỗi lớp cú mười bàn thỡ sẽ thành mười nhúm…
Trang 6* Học sinh chưa có kỹ năng làm việc hợp tác và chưa tham gia nhiệt tình vào giờ học có sử dụng hình thức hoạt động nhóm.
Quan sát, dự giờ các tiết học có sử dụng hình thức HĐN nhóm chúng tôi nhận thấy phần lớn HS chưa có kỹ năng làm việc theo nhóm, các em chưa tích cực đóng góp ý kiến, chỉ phát biểu khi được yêu cầu hoặc ngồi nghe người khác nói Có khi trách nhiệm trả lời giao cả cho nhóm trưởng, các HS khác chỉ ngồi chờ nhóm trưởng trả lời hoặc chờ GV hỏi sang nhóm khác Có khi các em chú ý vào tranh luận mà không ghi bài hoặc không biết cách ghi chép như thế nào Có trường hợp HS làm việc riêng hoặc không tham gia hoạt động gì Hiện tượng trên xuất phát từ sự không tự tin của HS và sự thụ động do thói quen phụ thuộc vào bài giảng của thầy
* Những giờ học có sử dụng hình thức hoạt động nhóm thường lộn xộn,
ồn ào, mất trật tự; mất cảm xúc.
Qua dự nhiều tiết dạy chúng tôi thấy những giờ học có sử dụng HĐN thường hết sức ồn ào HĐN là thời điểm HS không còn tập trung vào bài giảng, nhiều em ỷ lại công việc cho người khác trong nhóm, tranh thủ nói chuyện riêng, cười đùa hoặc đi lại lộn xộn trong giờ học Những giờ học văn vì vậy tan loãng hết cảm xúc, lãng phí thời gian Nguyên nhân của thực trạng này là do sự
tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HĐN của GV chưa hiệu quả; HS chưa được rèn luyện nhiều về kỹ năng, thói quen hợp tác, giao tiếp theo nhóm
* Nội dung, yêu cầu của câu hỏi cho học sinh hoạt động nhóm không phù hợp với khả năng học sinh.
Sự lộn xộn, ồn ào của HS trong giờ học có HĐN một phần có nguyên nhân do nội dung, yêu cầu của GV cho các nhóm hoạt động thường quá dễ hoặc quá khó Câu hỏi quá đơn giản nên không phù hợp sự làm việc của nhóm, các
em quay sang nói chuyện riêng Có khi câu hỏi quá khó nên HS trong nhóm không thảo luận được mà lại quay sang hỏi HS nhóm khác Mặt khác khi GV giao nhiệm vụ cho các nhóm thường ít có những hướng dẫn, gợi ý thêm nên HĐN chỉ là cái cớ để các em làm việc riêng
Trên đây là một vài đặc điểm của thực trạng tổ chức HĐN trong giờ dạy học văn nói chung và giờ dạy đọc hiểu VBTHĐ nói riêng Đặc biệt trong giờ đọc hiểu VBTHĐ nhiều GV còn lúng túng trong việc xác định vấn đề gì của văn bản cho HS thảo luận nhóm, chưa xuất phát từ đặc trưng thể loại, loại hình thơ
để xây dựng câu hỏi Thực trạng đó cho thấy sự cần thiết phải xây dựng những căn cứ, biện pháp, cách thức cụ thể cho một giờ đọc hiểu VBTHĐ có tổ chức
Trang 7HĐN giúp người dạy thấy được những yêu cầu cụ thể để tiến hành tiết học có hiệu quả hơn
2.3 Một số biện pháp, cách thức và quy trình tổ chức cho HS HĐN trong giờ đọc – hiểu VBTHĐ.
Từ việc nghiên cứu những đặc điểm của lý luận HĐN, đặc điểm của VBTHĐ và thực trạng của việc tổ chức cho HS HĐN trong dạy học văn hiện nay chúng tôi đề xuất một số biện pháp, cách thức và quy trình tiến hành một giờ học có tổ chức HĐN như sau
2.3.1 Một số biện pháp, cách thức.
2.3.1.1 Xây dựng câu hỏi cho HS HĐN tìm hiểu bố cục, diễn biến mạch cảm xúc văn bản(nhóm đôi).
So với văn bản tự sự dung lượng của các VBTHĐ thường ngắn hơn hơn rất nhiều, nhưng so với văn bản thơ Trung đại thì VBTHĐ có dung lượng dài hơn vì phần lớn được viết theo thể thơ tự do hoặc thơ 5 chữ, 8 chữ, thơ lục bát Đọc kĩ văn bản và xác định bố cục, mạch cảm xúc có thể xem là hoạt động mở đầu định hướng cho quá trình phân tích Trong thực tế, vì khó nên nhiều GV đã làm thay HS Kỹ năng xác định bố cục tác phẩm là một kỹ năng quan trọng thể hiện năng lực cảm thụ văn học của HS, vì vậy rất cần rèn luyện cho HS kỹ năng này Với những văn bản dài (3, 4 khổ hoặc nhiều đoạn), rất cần thiết tổ chức cho
HS xác định theo cặp hoặc theo nhóm, GV không làm thay HS Hoạt động này
có thể được tiến hành theo các cách sau:
- Mỗi HS tự xác định bố cục văn bản, sau đó chuyển đổi để đọc kiểm tra, bổ sung cho nhau
- Hai HS cùng thảo luận lựa chọn những ý chính
- Mỗi HS xác định một phần bố cục văn bản, sau đó liên kết lại, trao đổi thống nhất
Dạy các VBTHĐ có dung lượng dài như Vội vàng, Tây Tiến, Việt Bắc, Đất nước, Sóng chúng tôi yêu cầu học sinh đọc kĩ văn bản, thảo luân then nhóm
đôi để xác định bố cục Khi hợp tác với bạn, các em thực sự đã có ý thức cao hơn trong việc đọc kĩ, đọc sâu văn bản Một số em trong hoạt động này thường đọc rất qua loa, phụ thuộc vào các sách hướng dẫn để nêu bố cục một cách đối phó mà chưa hiểu rõ và có cái nhìn tổng thể về văn bản Vì vậy khi GV yêu cầu tái hiện lại các em không thể trả lời nếu không dựa vào sách hướng dẫn
Dạy bài Việt Bắc, chúng tôi yêu cầu HS xác định bố cục, nhiều em đã rất
lúng túng vì đoạn trích văn bản khá dài (5 trang), sách hướng dẫn không nêu rõ
Trang 8bố cục Chúng tôi yêu cầu nhóm đôi đọc kĩ văn bản, yêu cầu thảo luận nghiêm túc, một số nhóm dưới sự hướng dẫn của GV đã dần định hình được bố cục: Dựa theo kết cấu đối đáp của người đi – người ở lại để chia văn bản thành các phần:
- Phần 1: Đoạn 1,2,3,4 – Tái hiện khung cảnh chia tay và tâm trạng của người
đi, kẻ ở.
+ Đoạn 1,3: Lời của người ở lại (nỗi băn khoăn, mong nhớ da diết)
+ Đoạn 2,4: Lời đáp của người đi (khẳng định tình cảm son sắt, thủy chung)
- Phần 2: Các đoạn còn lại – Việt Bắc qua nỗi nhớ của người đi.
+ Đoạn 5,6: Nhớ về cảnh và người Việt Bắc trong kháng chiến
+ Đoạn 7,8: Nhớ về khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến + Đoạn 9,10: Khẳng định vai trò quan trọng của Việt Bắc đối với cuộc kháng chiến của toàn dân tộc
Nhờ có sự thảo luận kĩ trong nhóm mà khi GV hướng dẫn thêm các em dễ dàng hơn khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các em chú ý đọc kĩ văn bản, kết hợp với các câu hỏi phần Hướng dẫn học bài để xác định bố cục Hoạt động này nếu chỉ riêng cá nhân, các em thường đọc cho xong, sau đó phụ thuộc vào sự cảm thụ hộ của GV coi như đó là việc tất nhiên
2.3.1.2 Xây dựng câu hỏi cho HS HĐN dựa trên độ khó, trọng tâm của bố cục văn bản.
Dung lượng các VBTHĐ thường tương đối dài (có văn bản là một đoạn trích của một bản trường ca), vì vậy khi xây dựng câu hỏi cho HS HĐN, GV cần phải xác định phần nào của văn bản chứa đựng những vấn đề khó, phức tạp, trọng tâm để tổ chức cho các nhóm thảo luận Những phần khác sẽ tổ chức cho
HS phát biểu cá nhân Đây là yêu cầu đòi hỏi sự chuyên tâm trong chuyên môn thực sự của GV khi vận dụng hình thức tổ chức HĐN vào trong bài dạy Không thể dựa vào những giáo án có sẵn mà phải đầu tư suy nghĩ để thiết kế hệ thống câu hỏi thảo luận, lựa chọn đúng vấn đề cho HS thảo luận nhóm
Khi dạy những văn bản có dung lượng dài, GV phải lựa chọn phần nào của văn bản nên cho HS thảo luận nhóm, phần nào chỉ cần hoạt động cá nhân
Dạy bài Đất nước (trích Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm), chúng tôi
cho HS thảo luận nhóm các phần sau, còn các phần khác của đoạn trích chúng tôi yêu cầu HS phát biểu cá nhân:
- Phần 1: Những khám phá, phát hiện của tác giả về Đất nước
* Sự cảm nhận đất nước ở phương diện lịch sử - văn hoá (9 câu đầu):
+ Nhóm 1 : Đất nước gắn liền với những vẻ đẹp văn hoá gì của dân tộc?
Trang 9+ Nhóm 2 - 3 : Đất nước trưởng thành như thế nào trong quá trình lich sử? Chỉ
ra những đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng?
+ Nhóm 4 - 5: Nhận xét về cách sử dụng những chất liệu văn hóa, văn học dân
gian của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn thơ?
* Sự cảm nhận đất nước ở phương diện chiều sâu của không gian, chiều dài thời gian và suy ngẫm về thế hệ hiện tại với đất nước (33 câu tiếp):
Nhóm 1: Xác định không gian nghệ thuật để cảm nhận về Đất nước thể hiện
trong đoạn thơ: “Đất là nơi anh…nỗi nhớ thầm”.Tác giả sử dụng nghệ thuật
như thế nào trong 4 câu thơ?
Nhóm 2: Xác định không gian nghệ thuật để cảm nhận về Đất nước thể hiện
trong đoạn thơ: “Đất là nơi con chim…dân mình đoàn tụ”.Tác giả sử dụng nghệ
thuật như thế nào trong đoạn thơ?
Nhóm 3: Xác định thời gian nghệ thuật để cảm nhận về Đất nước thể hiện trong
đoạn thơ: “Lạc Long Quân và Âu Cơ nhớ ngày giỗ Tổ” Tác giả sử dụng nghệ
thuật như thế nào trong đoạn thơ?
Nhóm 4: Trong đoạn thơ sau: “Em ơi em muôn đời” Đất nước hiện hữu như
thế nào trong mỗi cá nhân? Tác giả suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm của thế
hệ mình đối với Đất nước? Chỉ ra một số khía cạnh nghệ thuật nổi bật?
Phần 2: Đất nước của Nhân dân
* Đất nước do nhân dân sáng tạo ra :
- Nhóm 1 – 2: Tác giả đã cảm nhận Đất nước qua những địa danh, thắng cảnh
nào?
+ Nhóm 3 – 4: Những địa danh gắn với điều gì, của ai?
- Nhóm 5 - 6: Vì sao có thể nói qua cách cảm nhận riêng của Nguyễn Khoa
Điềm, Đất nước vừa thiêng liêng vừa gần gũi? Chỉ ra những biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong đoạn thơ?
Việc các định rõ độ khó từng phần của văn bản sẽ giúp GV xây dựng hệ thống câu hỏi thảo luận phù hợp với HĐN, HS gặp được đúng vấn đề cần phải hợp tác với nhau để cùng đưa ra đáp án
2.3.1.3 Xây dựng câu hỏi cho HS HĐN hướng vào những vấn đề trọng tâm của VBTHĐ.
Thơ hiện đại hướng vào thể hiện những vấn đề khác với thơ trung đại, đó
là việc thể hiện cái Tôi cá nhân, vấn đề Đất nước, Nhân dân Xây dựng câu hỏi cho HS HĐN cần hướng vào làm rõ những vấn đề “hiện đại” đó Mỗi văn bản sẽ
có những đặc sắc riêng theo cá tính sáng tạo của nhà thơ, khi cho HS thảo luận
Trang 10nhóm cần xây dựng câu hỏi làm rõ được nét riêng đồng thời làm rõ được nét mới của thời đại Đây là yêu cầu giúp HS thảo luận nhóm đúng với yêu cầu của loại hình thơ, không lan man vào những vấn đề không trọng tâm
Dạy phần Thơ mới bài Tràng giang (Huy Cận), chúng tôi xây dựng hệ
thống câu hỏi thảo luận làm nổi bật cái Tôi cô đơn của nhà thơ trước vũ trụ rộng lớn, niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời Tâm trạng đó của thi nhân được ẩn
sau bức tranh thiên nhiên vừa gần gũi, vừa rộng lớn vô cùng Dạy bài Tây Tiến
(Quang Dũng) câu hỏi thảo luận phải hướng vào làm rõ hình tượng người lính Tây Tiến với vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng, tâm hồn mộng mơ và lí tưởng cao đẹp vì đất nước trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây hùng vĩ mà
mĩ lệ
Yêu cầu này đòi hỏi GV vừa phải tìm hiểu kĩ loại hình thơ vừa phải cảm thụ sâu sắc văn bản, nắm vững chủ đề từng bài thơ Thực ra đây là vấn đề không khó với những GV lâu năm, nhưng với những GV mới vào nghề hoặc những GV
ít vận dụng hình thức HĐN vào bài dạy thì vẫn còn lúng túng
2.3.1.4 Xây dựng câu hỏi cho HS HĐN phát hiện và phân tích từ ngữ, hình ảnh đặc sắc.
So với văn bản tự sự và các dạng văn bản khác, VBTHĐ cũng như các văn bản thơ nói chung thường cô đọng, hàm súc Tuy nhiên trong quá trình phân tích, cảm nhận cần phát hiện những từ ngữ, hình ảnh đặc sắc, từ đó làm nổi bật ý nghĩa văn bản GV cần xây dựng các câu hỏi cho HS thảo luận nhóm để phát hiện những từ ngữ, hình ảnh này, qua đó làm nổi bật thông điệp nghệ thuật của nhà thơ Từ ngữ, hình ảnh trong các VBTHĐ thường hết sức phong phú, sinh
động, dồi dào theo mạch cảm xúc của nhà thơ Đọc hiểu các văn bản như Vội vàng, Đây thôn Vĩ Dạ, Tràng giang, Tây Tiến, Việt Bắc, Đất nước nhiều HS khó
chiếm lĩnh văn bản vì sự phong phú của từ ngữ, hình ảnh Việc hợp tác với nhóm là rất cần thiết để hỗ trợ cá nhân trong quá trình đọc, cảm thụ văn bản
Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) là bài thơ có nhiều hình ảnh biểu hiện nội
tâm, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng có thể gợi lên nhiều cách hiểu khác nhau Dạy bài thơ này, chúng tôi xây dựng nhiều câu hỏi về từ ngữ, hình ảnh yêu cầu
HS cảm nhận lí giải:
- Từ ngữ: mướt quá ở khổ 1; hoa bắp lay, chữ “kịp” ở khổ 2; từ “ai” trong cả
ba khổ thơ
- Hình ảnh: mặt chữ điền ở khổ 1; gió, mây, thuyền, sông, trăng ở khổ 2; sương khói mờ nhân ảnh ở khổ 3.