1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) xây dựng một số bài toán thực tế phương trình mũ và lôgarít theo hướng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 12

22 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toán học là một môn học công cụ cho các môn khoa học khác, nó xuấtphát từ nhu cầu về cuộc sống của con người, có liên hệ thực tế với đời sống xãhội hàng ngày, trong khi đó tình trạng ô n

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội là tìnhtrạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu như: thiên tai, lũ lụt, cháy rừng,động đất, rác thải sinh hoạt, ô nhiễm nguồn nước có ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe, cuộc sống, tương lai của con người Vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường

đã trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi người, mọi nhà, mọi dân tộc trên thếgiới Để giải quyết vấn đề này thì công việc giáo dục bảo vệ môi trường là biệnpháp hữu hiệu, có tính chất bền vững và sâu rộng nhất trong số các biện pháp đểthực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước

Toán học là một môn học công cụ cho các môn khoa học khác, nó xuấtphát từ nhu cầu về cuộc sống của con người, có liên hệ thực tế với đời sống xãhội hàng ngày, trong khi đó tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay đang là nỗi

lo của nhân loại, việc tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường trong giảng dạy mônToán là một việc làm thiết thực nhằm giúp học sinh và xã hội nâng cao nhậnthức về bảo vệ môi trường đem lại một môi trường sống trong lành

Bản thân là một người giáo viên dạy Toán cấp THPT tôi luôn trăn trở làmthế nào để học sinh ngoài việc nắm vững kiến thức của môn học còn có ý thứcvận dụng những kiến thức đó vào việc bảo vệ môi trường, hiểu được ý nghĩa củaviệc bảo vệ môi trường từ đó các em tuyên truyền cho gia đình, xã hội chung taygóp sức bảo vệ môi trường

Những ứng dụng của toán học vào thực tiễn, giáo dục bảo vệ môi trườngtrong chương trình và sách giáo khoa, cũng như trong thực tế dạy học toán chưađược quan tâm một cách đúng mức và thường xuyên

Vấn đề lồng ghép dạy học toán với giáo dục bảo vệ môi trường cho họcsinh còn khá mới mẻ đối với giáo viên nên chưa được quan tâm, khai thác

Vì những lí do trên đây tôi chọn đề tài nghiên cứu: ''Xây dựng một số bài toán thực tế phương trình mũ và lôgarít theo hướng lồng ghép giáo dục bảo

vệ môi trường cho học sinh lớp 12".

- Học sinh nắm vững kiến thức Toán học, biết vận dụng vào thực tế, hiểu

rõ tầm quan trọng của môi trường, thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay từ đó

Trang 2

có ý thức trong việc bảo vệ môi trường.

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Tài liệu: Sách giáo khoa, sách bài tập, sách luật bảo vệ môi trường 2005,

sách phương pháp dạy học môn Toán, các tài liệu tham khảo môn Toán

- Hệ thống bài tập Toán trong chương trình giáo dục THPT

- Học sinh các lớp 12B6, 12B8 của trường , THPT Nông Cống 3 năm học

2021-2022 (lớp thực nghiệm) và lớp 12A3 năm học 2020-2021 (lớp đối chứng)

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm

1.5 Những điểm mới của SKKN

Nghiên cứu, tìm hiểu một số vấn đề về môi trường có liên hệ với kiến thứcToán học Đề xuất được một số nội dung kiến thức toán có tiềm năng tích hợp,lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường

Xây dựng được hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn, lồng ghép giáo dụcbảo vệ môi trường trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môntoán, phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn cho học sinh

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận.

2.1.1.Cơ sở lý luận về dạy học tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường

2.1.1.1 Khái niệm về tích hợp và dạy học tích hợp

- Khái niệm về tích hợp: Tích hợp là sự hợp nhất, sự hài hòa, sự kết hợp

Đó là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đốitượng mới

- Khái niệm về dạy học tích hợp: Dạy học tích hợp là định hướng dạy họcgiúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng…thuộcnhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập vàtrong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rènluyện kĩ năng; phát triển được năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn

đề Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liênquan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và

thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau

2.1.1.2 Các hình thức và các mức độ tích hợp nội dung môn học

Theo tích hợp môn học có các mức độ từ đơn giản đến phức tạp và theocác hình thức khác nhau Có bốn mức độ và hình thức tích hợp:

+ Tích hợp trong nội bộ môn học: Là tích hợp trong nội dung các phân

Trang 3

môn thuộc môn học Tích hợp trong phạm vi hẹp sẽ xử lí các nội dung có liênquan của các phân môn trong môn học.

+ Tích hợp đa môn: Là tích hợp vào môn học những vấn đề mang tính

toàn cầu theo đặc trưng của mỗi môn học cho phép

+ Tích hợp liên môn: Là tích hợp nội dung, kĩ năng của các môn học, lĩnh

vực học tập khác nhau trong cùng một chủ đề, trong khi các môn học vẫn độclập tương đối nhau

+ Tích hợp xuyên môn: là số môn học, lĩnh vực học tập được kết hợp với

nhau thành những chủ đề trong một môn học mới Như vậy không còn tên cácmôn học truyền thống

Các mức độ và hình thức tích hợp trên thường được sử dụng đan xen vớinhau trong cấu trúc các môn học, hoạt động giáo dục phổ thông

Với các mức độ tích hợp trên, cách tích hợp ở phạm vi hẹp cho phép giữmôn học truyền thống, đồng thời vẫn có thể xây dựng các chủ đề có tích chấtliên môn là phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam, chương trình giáo dụcphổ thông mới sẽ tích hợp theo cách này Có ba mức độ tích hợp trong dạy họccác môn khoa học tự nhiên như sau:

- Lồng ghép: Đó là đưa ra các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với

xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài họccủa một môn học Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuynhiên, giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mìnhđảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép cáckiến thức đó ở những thời điểm thích hợp

- Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động hoạt diễn ra

xung quanh các chủ đề, người học cần đến các kiến thức của nhiều môn học đểgiải quyết vấn đề đặt ra Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ

- Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp ở mức độ này,

tiến trình dạy học là tiến trình “Không môn học”, có nghĩa là nội dung kiến thức

trong bài học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn họckhác nhau, do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở cácmôn học riêng rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của haihay nhiều môn học

2.1.1.3 Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường.

Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình thông qua hoạt động giáodục nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, các kĩ năng và giá trị tạo điềukiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái

Như vậy, dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường là sự kết hợp chặt

Trang 4

chẽ có hệ thống kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức các môn học thànhmột nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ.

Hình thức và mức độ tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua bộmôn Toán phù hợp và thuận lợi nhất đó là tích hợp ở mức độ lồng ghép, liên hệ

Mức độ liên hệ được thể hiện ở một số phần của bài học có mục tiêu nộidung phù hợp với nội dung giáo dục bảo vệ môi trường

2.1.2 Cơ sở lý thuyết toán học

2.1.2.1 Phương trình mũ

Khái niệm: Phương trình mũ cơ bản là phương trình có dạng

x

aba0,a1,b0

+ Nếu b 0 thì phương trình có nghiệm duy nhất xloga b

+ Nếu b 0 thì phương trình vô nghiệm

Đặc biệt: Phương trình a xa yx y (biến đổi về cùng cơ số)

- Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn

là phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và thực tiễn Việt Nam

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, người lao động buộcphải chủ động dám nghĩ, dám làm, linh hoạt trong lao động, hòa nhập với cộng

Trang 5

phát hiện những điều cần phải học tập tiếp Chính vì thế, trong giáo dục cần hìnhthành và phát triển cho học sinh năng lực thích ứng, năng lực hành động, nănglực cùng sống và làm việc với tập thể, cộng đồng cũng như năng lực tự học.

Trong những quan điểm được đưa ra làm căn cứ xác định mục tiêu môntoán, có nêu: "Phải lựa chọn những nội dung kiến thức toán học cốt lõi, giàu tínhứng dụng, đặc biệt là ứng dụng vào thực tiễn "

Rõ ràng rằng, việc rèn luyện kỹ năng vận dụng toán học vào thực tiễn hoàntoàn phù hợp và có tác dụng tích cực trong hoàn cảnh giáo dục của nước ta

- Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn là một yêu cầu có tính nguyên tắc góp phần phản ánh được tinh thần và sự phát triển theo hướng ứng dụng của toán học hiện đại

Môn Toán trong nhà trường phổ thông bao gồm những nội dung quantrọng, cơ bản, cần thiết nhất được lựa chọn trong khoa học toán học xuất phát từmục tiêu đào tạo của nhà trường và phải phù hợp với trình độ nhận thức của họcsinh; đồng thời phù hợp với thực tiễn giáo dục - xã hội của đất nước Những nộidung đó không những phải phản ánh được tinh thần, quan điểm, phương pháp

mà còn phải phản ánh được xu thế phát triển của khoa học toán học hiện nay,

mà một trong những hướng chủ yếu của nó là ứng dụng

Một trong những nguyên tắc quan trọng trong giáo dục học môn Toán lànguyên tắc "kết hợp lí luận với thực tiễn"

+ Đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức Toán học để có thể vận dụngchúng vào thực tiễn;

+ Chú trọng nêu các ứng dụng của Toán học vào thực tiễn;

+ Chú trọng đến các kiến thức Toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn;+ Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những kỹ năng toán học vững chắc;+ Chú trọng công tác thực hành toán học trong nội khóa cũng như ngoại khóa

- Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn đáp ứng yêu cầu mục tiêu bộ môn toán và có tác dụng tích cực trong việc dạy học toán

Vấn đề rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn

có vai trò quan trọng và góp phần phát triển cho học sinh những năng lực trí tuệ,những phẩm chất tính cách, thái độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàndiện giái dục và đào tạo theo Nghị quyết TW 8 (khoá XI) Điều đó cần phảiđược nhấn mạnh với yêu cầu cao hơn đối với học sinh THPT, bởi vì họ đang ởgiai đoạn sắp sửa tham gia trực tiếp vào guồng máy sản xuất của xã hội, hoặctham gia vào các quá trình đào tạo có tính chuyên môn hóa cao hơn

Tăng cường rèn luyện năng lực ứng dụng toán học vào thực tiễn là mộtmục tiêu, một nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học Toán ở trường phổ thông

Trang 6

Học sinh phải nắm vững hệ thống kiến thức và phương pháp toán học cơ bản,phổ thông; phải vận dụng được những kiến thức và phương pháp toán học vào

kỹ thuật, lao động, quản lí kinh tế, vào việc học các môn học khác, vào việc tựhọc sau khi ra trường và có tiềm lực nghiên cứu khoa học ở mức độ phổ thông

Rèn luyện năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn góp phần tích cựchóa trong việc lĩnh hội kiến thức Trong dạy học toán, để học sinh tiếp thu tốt, rấtcần đến sự liên hệ gần gũi bằng những tình huống, những vấn đề thực tế Nhữnghoạt động thực tiễn đó vừa có tác dụng rèn luyện năng lực vận dụng toán học vàothực tiễn vừa giúp học sinh tích cực hóa trong học tập để lĩnh hội kiến thức Kỹnăng toán học hóa các tình huống thực tiễn được cho trong bài toán hoặc nảysinh từ đời sống thực tế nhằm tạo điều kiện cho học sinh biết vận dụng nhữngkiến thức toán học trong nhà trường vào cuộc sống, góp phần gây hứng thúhọc tập, giúp học sinh nắm được thực chất vấn đề và tránh hiểu các sự kiệntoán học một cách hình thức Để rèn cho học sinh kỹ năng toán học hóa cáctình huống thực tiễn, cần chú ý lựa chọn các bài toán có nội dung thực tế củakhoa học, kỹ thuật, của các môn học khác và nhất là thực tế đời sống hàngngày quen thuộc với học sinh Đồng thời, nên phát biểu một số bài toánkhông phải thuần túy dưới dạng toán học mà dưới dạng một vấn đề thực tếcần phải giải quyết Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thựctiễn, giúp học sinh có kỹ năng thực hành các kỹ năng toán học và làm quen dầncác tình huống thực tiễn

Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông, một vấn đề nổi lên là giáo viênchỉ quan tâm, chú trọng việc hoàn thành những kiến thức lí thuyết quy địnhtrong chương trình và sách giáo khoa; mà quên, sao nhãng việc thực hành,không chú tâm dạy bài tập toán cho các em, đặc biệt những bài toán có nội dungthực tiễn, dẫn đến tình trạng học sinh thường lúng túng, thậm chí không làmhoàn chỉnh được những bài toán thực ra rất cơ bản và ở mức độ trung bình Đểtạo điều kiện vận dụng tri thức vào thực tế, còn phải có những kỹ năng thựchành cần thiết cho đời sống, đó là các kỹ năng tính toán, vẽ hình, đo đạc, Trong hoạt động thực tế ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng đòi hỏi kỹ năng tính toán:Tính đúng, tính nhanh, tính hợp lí, cùng với các đức tính cẩn thận, chu đáo kiênnhẫn

2.1.4 Nguyên tắc và quy trình xây dựng các bài toán liên hệ thực tiễn 2.1.4.1 Nguyên tắc xây dựng

Nguyên tắc 1: Bài toán thực tiễn phải đảm bảo tính mục tiêu của chương

trình, chuẩn kiến thức, kỹ năng và định hướng phát triển năng lực vận dụng kiếnthức toán học vào thực tiễn cho học sinh

Trang 7

Nguyên tắc 2: Bài toán thực tiễn phải đảm bảo nội dung dạy học, đồng

thời phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại

Nguyên tắc 3: Bài toán thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của học sinh Nguyên tắc 4: Bài toán thực tiễn phải đảm bảo tính sư phạm

Nguyên tắc 5: Bài toán thực tiễn phải có tính hệ thống, lôgíc

2.1.4.2 Phương pháp xây dựng bài toán thực tiễn

- Thêm các yếu tố thực tiễn vào bài toán đơn thuần có sẵn

- Thay đổi một số dữ liệu của một bài toán thực tiễn có sẵn để tạo thànhmột bài toán thực tiễn khác

- Xuất phát từ nhu cầu giải quyết vấn đề trong cuộc sống

2.1.5 Một số khái niệm liên quan đến môi trường

2.1.5.1 Môi trường là gì?

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản

xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật

Bảo vệ Môi trường của Việt Nam)

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:

- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá

học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tácđộng của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động,thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xâydựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyênkhoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chấtthải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêmphong phú

- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là

những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như:Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họtộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,…Môi trường xãhội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nênsức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con ngườikhác với các sinh vật khác

Như vậy, môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xãhội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiênnhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

2.1.5.2 Môi trường có những chức năng cơ bản nào?

- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.

Trang 8

- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt

động sản xuất của con người

- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong

cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người (Cung cấp

và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuấthiện và phát triển văn hoá của loài người)

Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuấtlương thực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cầnthiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của cácloại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nướcmới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên cóthể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi

2.1.5.3 Bảo vệ môi trường là việc của ai?

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắcphục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khaithác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhấtquản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môitrường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứukhoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi

trường Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ

môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách

nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường".

2.1.5.4 Phải làm gì để bảo vệ môi trường?

Để bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam nghiêmcấm các hành vi sau đây:

- Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại môitrường, làm mất cân bằng sinh thái;

- Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát phóng

xạ, bức xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh;

- Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép,các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịchbệnh vào nguồn nước;

- Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép;

Trang 9

- Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý hiếm trong danhmục quy định của Chính phủ;

- Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường,nhập khẩu, xuất khẩu chất thải;

- Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trongkhai thác, đánh bắt các nguồn động vật, thực vật

2.1.5.5 Sự cố thảm họa môi trường là gì?

Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt

động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi

trường nghiêm trọng".

Sự cố môi trường có thể xảy ra do:

- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun,mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;

- Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ

sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội,

an ninh, quốc phòng;

- Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầukhí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự

cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;

- Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sảnxuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ

2.1.5.6 Ô nhiễm môi trường là gì?

Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạmTiêu chuẩn môi trường"

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thảihoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ conngười, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Cáctác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải),rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng nănglượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễmnếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức

có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu

2.2 Thực trạng của vấn đề

2.2.1 Thực trạng của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường trong các nhà trường

Trang 10

Thực hiện nghị quyết của Chính phủ giáo dục môi trường được các nhàtrường đưa vào chương trình học theo kiểu lồng ghép vào các môn học Nhiềuchủ đề môi trường đã được triển khai thực hiện theo các hoạt động ngoại khoánhư: sinh hoạt câu lạc bộ, thi vẽ tranh, các cuộc thi tìm hiểu về môitrường, Tuy nhiên, trong các nhà trường vẫn chưa coi trọng vấn đề giáo dụcmôi trường cho học sinh Học sinh và giáo viên tham gia thực hiện qua loa, đạikhái Một số giáo viên chưa có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về giáo dục môitrường, giảng dạy theo kinh nghiệm, không chủ động nghiên cứu, tìm hiểu nộidung và phương pháp Các hoạt động chủ yếu mang tính bề nổi, chưa đảm bảochiều sâu và hiệu quả giáo dục Việc thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục bảo

vệ môi trường còn rất ít, thiếu sáng tạo Trên thực tế, hoạt động liên hệ thực tiễntrong bài giảng của giáo viên về giáo dục môi trường còn quá chung chung,không có mục tiêu cụ thể, đề cập đến vấn đề môi trường rộng lớn, không phùhợp với thực tế, do đó hiệu quả thường không cao Mặc dù, kế hoạch hành độngquốc gia về giáo dục môi trường đã nhấn mạnh đến việc đưa nội dung này hệthống giáo dục quốc dân, song việc triển khai trong thực tế còn gặp nhiều ràocản, trong đó khó khăn lớn nhất chính là năng lực và trình độ của đội ngũ giáoviên Điều này đòi hỏi phải có những biện pháp và sáng kiến để tháo gỡ

2.2.2 Thực trạng của vấn đề giáo dục cho học sinh khả năng vận dụng toán học vào thực tiễn.

Chúng ta biết rằng ứng dụng toán học vào thực tiễn được coi là một vấn

đề quan trọng, cần thiết trong dạy học ở trường phổ thông Tuy nhiên, do nhiều

lí do khác nhau, vấn đề rèn luyện vận dụng toán học vào thực tiễn cho học sinhchưa được đặt ra đúng mức, chưa đáp ứng được những yêu cầu cần thiết Nhậnđịnh này đã được nêu lên trong một số tài liệu lí luận cũng như đã được thể hiệnvới những mức độ khác nhau trong thực tiễn dạy học toán

Sách giáo khoa là nguồn tri thức quan trọng nhất đối với học sinh, là loạisách học tập phổ biến, là phương tiện mang nội dung học vấn và cũng là phươngtiện dạy học Tuy nhiên, trong sách giáo khoa môn toán đang hiện hành các ứngdụng của toán học vào thực tiễn được đề cập còn ít Giảng dạy toán còn thiên vềsách vở, hướng việc dạy toán về việc giải nhiều loại bài tập mà hầu hết không cónội dung thực tiễn, lại càng ít nội dung tích hợp lồng ghép giáo dục bảo vệ môitrường Điều rõ rệt nhất là, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc lồng ghépkiến thức bài học với liên hệ thực tiễn Giáo viên gặp khó khăn trong việc thiết

kế các tình huống thực tiễn phù hợp nội dung kiến thức và đối tượng học sinh

Vì vậy họ tỏ ra lúng túng khi thiết kế chương trình, thiết kế bài giảng và kếhoạch hoạt động cũng như thực hiện các hoạt động đó, thiếu kết hợp giữa lý

Trang 11

thuyết và thực hành

Việc tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn học nóichung còn khó đối với giáo viên Đặc biệt khó khăn hơn đối với bộ môn Toánkhi mà việc đưa các nội dung liên hệ thực tiễn đời sống còn rất ít trong chươngtrình sách giáo khoa Giáo viên chưa có cơ hội để tiếp cận các tài liệu tham khảohay đề tài nghiên cứu đề cập, hướng dẫn thực hiện lồng ghép giáo dục bảo vệmôi trường vào dạy học bộ môn Toán

2.3 Xây dựng một số bài toán phương trình mũ, lôgarít gắn với thực tiễn lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường.

2.3.1 Xây dựng một số bài toán giáo dục tuyên truyền về thảm hoạ thiên tai.

Hơn 30 năm qua, nhất là trong hơn 10 năm gần đây, nước ta liên tiếp xảy

ra những đợt bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, ngập úng, lũ quét, rét đậm, rét hại, nắngnóng, hạn hán, động đất… gây thiệt hại nặng nề đến con người, tài sản, môitrường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế, xã hội của cả nước

Xuất phát từ bài toán giải phương trình logarit cơ bản: logax = b, (0 < a  1)

ta thiết kế các bài toán sau:

Bài toán 1 Cường độ một trận động đất được tính theo công thức M = log

0

I

I (đơn vị độ Richter), trong đó I0 là biên độ dao động chuẩn, I là biên độ dao

động Đầu thế kỷ 20, một trận động đất ở Tokyo có cường độ 8,3 độ Richter làm142.800 người chết Trong cùng năm đó, trận động đất khác ở Nam Mỹ cócường độ 8,9 độ Richter Hỏi biên độ của trận động đất ở Nam Mỹ mạnh hơngấp mấy lần biên độ trận động đất ở Tokyo?

2 1

2 0

1 0

I

I I

I I

I I

thiệt mạng, 2.572 người mất tích, tổn thất do động đất và sóng thần tàn phá hơn

309 tỉ USD Cường độ động đất lên đến 9,1 độ Richter là một trong năm trậnđộng đất mạnh nhất thế giới Đầu thế kỷ 20, một trận động đất ở San Prancisco

Ngày đăng: 06/06/2022, 10:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh bèo hoa dâu thả nuôi trên mặt hồ - (SKKN 2022) xây dựng một số bài toán thực tế phương trình mũ và lôgarít theo hướng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 12
nh ảnh bèo hoa dâu thả nuôi trên mặt hồ (Trang 13)
Bảng 2. Kết quả khảo sát sau khi thực hiện đề tài - (SKKN 2022) xây dựng một số bài toán thực tế phương trình mũ và lôgarít theo hướng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 12
Bảng 2. Kết quả khảo sát sau khi thực hiện đề tài (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w