SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT THIỆU HOÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ KHÁI NIỆM THUỘC CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH 11 Người
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THIỆU HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ KHÁI NIỆM THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH 11
Người thực hiện: Tống Văn Anh
Chức vụ: Giáo viên
SKKK thuộc lĩnh vực (môn): Toán
THANH HOÁ NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ……… ……… 1
Mục lục ……… ……… ………2
Danh mục các chữ viết tắt ……… …… ……… 2
1 Mở đầu… … ……… ……… ……… … 3
1.1 Lí do chọn đề tài …… …… ……… ……… … 3
1.2 Mục đích nghiên cứu … …… ……….… ……… … 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu … …… ……….… ……… … 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu ….… ……….… ……… … 4
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm…….……….……… 5
2.1 Cơ sở lí luận……… … … ……… ……… 5
2.2 Thực trạng của vấn đề … … ……… ……… … 7
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề ……… 8
2.4 Kết quả thực hiện ….… ………… …… 17
3 Kết luận …… ……… ……….……… … ….…… 21
Tài liệu tham khảo …… ….……… ………….…….……… 22
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông
HĐ : Hoạt động
N : Mặt ngửa
Trang 3“Con người học như thế nào?” là một câu hỏi cốt yếu mà lý thuyết kiến tạotrong giáo dục muốn trả lời Thực tiễn cho thấy rằng, giáo viên không thể dạyhọc bằng cách làm đầy kiến thức cho học sinh như kiểu đổ đầy một chai nước
mà chính mỗi học sinh phải tự kiến tạo tri thức theo cách của riêng mình với sự
hỗ trợ của giáo viên Việc dạy và học toán ở nước ta hiện nay không phải lúcnào cũng phát huy hết năng lực tự học và tính chủ động trong học tập của họcsinh
Lớp học kiến tạo dựa chủ yếu vào sự hợp tác giữa
các học sinh Có nhiều lý do tại sao hợp tác lại chi phối
việc học Lý do chính là học sinh không chỉ tự học mà
còn học từ bạn của mình Khi học sinh xem lại và phản
ánh những tiến trình học tập của các em với nhau, các
em có thể tìm ra chiến lược và phương pháp từ bạn của
mình
Môi trường kiến tạo sẽ thúc đẩy những kỹ năng thông tin và xã hội bằngcách tạo ta một môi trường học tập đề cao tính hợp tác và trao đổi ý tưởng Họcsinh phải học cách làm thế nào để liên kết những ý tưởng của mình một cách rõràng giống như hợp tác ở các nhiệm vụ một cách hiệu quả bởi việc chia sẻ trongcác thành viên của nhóm Từ đó học sinh phải trao đổi và vì vậy, phải học cách
“đàm phán” với học sinh khác, đồng thời để ước lượng những đóng góp của các
em cho nhóm Đây là một điểm cốt yếu cho thành công trong cuộc sống thựctiễn
Sáng kiến kinh nghiệm đã giải quyết khó khăn trong công tác như giúp họcsinh từ thụ động chuyển sang chủ động, tích cực phát biểu, giúp học sinh yếukém học tập năng động hơn, mạnh dạn phát biểu hơn (dù là phát biểu sai), tíchcực làm việc nhóm hơn… đã tạo được bầu không khí học tập vui tươi, sinhđộng, làm cho tiết học mang lại hiệu quả cao
Toán học là một môn khoa học có tính trừu tượng cao Vì vậy, các kháiniệm là nguồn gốc của những khó khăn, trở ngại đối với những học sinh yếu về
Trang 4Toán, đa số những học sinh này thậm chí không hiểu các khái niệm cơ bản vềToán học.
Việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác không đơn giản là chỉ ápdụng một cách máy móc việc ghép học sinh vào các nhóm nhỏ để tiến hành quátrình dạy học mà nó còn tuỳ thuộc vào môn học, điều kiện học tập, đối tượnghọc sinh, tính chất của bài học và năng lực sư phạm của người thầy Những điều
đó khẳng định việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác trong quá trình dạyhọc môn toán nói chung và dạy học khái niệm toán học nói riêng ở trường trunghọc phổ thông là cần thiết Việc vận dụng phương pháp này vào dạy học kháiniệm toán học như thế nào cho có hiệu quả là vấn đề đang được quan tâm hiện
nay Vì vậy “Vận dụng phương pháp hợp tác trong dạy học một số khái niệm thuộc chương trình Đại số và Giải tích 11” được chọn làm đề tài sáng kiến
kinh nghiệm của tôi
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu tính hiệu quả và sự khả thi của việc vận dụng phương phápdạy học hợp tác trong dạy học một số khái niệm toán ở trường phổ thông hiệnnay
Khẳng định tính hiệu quả và sự khả thi của việc vận dụng phương pháthợp tác trong dạy học một số khái niệm toán ở trường phổ thông hiện nay
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Cơ sở lí luận của PPDH hợp tác; khái niện toán học; quá trình dạy họccác khái niệm toán học; giáo viên và học sinh
Dạy học một số khái niệm toán học ở trường THPT Thiệu Hoá; Họcsinh các lớp 11B6 và 11B11 trường THPT Thiệu Hoá
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu về phương pháp dạy họchợp tác trong dạy học một số khái niệm toán
Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát, lấy ý kiến của giáo viên vàhọc sinh
Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm một số tiết dạydựa trên kết quả nghiên cứu đề tài tại trường THPT Thiệu Hoá nhằm đánh giátính khả thi và hiệu quả của đề tài
Trang 52 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận.
2.1.1 Định nghĩa các thuật ngữ
Kiến tạo: là xây dựng một cách tích cực và chủ động Kiến tạo cũng là một động
từ dùng chỉ hoạt động của chủ thể tác động lên đối tượng nhằm thực hiện mụcđích đề ra
Dạy học hợp tác: là một phương pháp dạy học, trong đó mỗi học sinh được học
tập trong một nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa cácnhóm để đạt mục đích chung Trong phương pháp dạy học hợp tác, vai trò của
GV là người tổ chức, điều khiển việc học của học sinh thông qua học tập hợptác, bằng việc thiết kế các giờ học hợp tác, vai trò của người học sinh là ngườihọc tập trong sự hợp tác Hợp tác vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của dạyhọc Hoạt động trong giờ dạy học hợp tác bao gồm: hợp tác giữa các học sinhtrong một nhóm, hợp tác giữa các nhóm và hợp tác giữa học sinh và GV
- Hợp tác trong nhóm học sinh bao gồm:
1 Cá nhân tự nghiên cứu (HĐ tư duy độc lập)
2 Thảo luận nhóm (HĐ tư duy hội thoại có phê phán)
3 Trình bày kết quả của nhóm (HĐ tư duy tổng hợp)
- Hợp tác giữa các nhóm gồm: HĐ ghép (và/hoặc) đồng nhất hoá các kếtquả học tập Học tập lẫn nhau giữa các nhóm, tư duy tổng hợp, phê phán
- Hợp tác giữa học sinh và GV bao gồm hoạt động phân tích, tổng hợp, hợpthức hoá kiến thức, đánh giá và tự đánh giá
2.1.2 Các thành tố cơ bản của phương pháp dạy học hợp tác
Thành tố 1: Sự phụ thuộc tích cực bên trong
Thành tố 2: Trách nhiệm của mỗi cá nhân
Đặc điểm khác biệt nhất của tình huống dạy học hợp tác so với các tìnhhuống dạy học khác là: Phải tạo được cơ hội cho học sinh thảo luận và từngbước đạt kết quả học tập
Một tình huống dạy học hợp tác phải đồng thời thoả mãn ba điều kiện sau:
Trang 61 Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề.
2 Học sinh thấy có nhu cầu hợp tác, trao đổi với nhau và hy vọng sự hợp tác
đó sẽ có tác dụng tốt
3 Tạo ra môi trường hợp tác để thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa vai trò
cá nhân với vai trò tập thể
2.1.3 Quy trình thiết kế tình huống dạy học hợp tác trong dạy học khái niệm toán học
Bước 1: Xác định mục tiêu, ngoài mục tiêu về chiếm lĩnh kiến thức cụ thểtrong hoạt động học tập, cần chú trọng hơn đến mục tiêu rèn luyện cách học vàcách giao tiếp cho học sinh
Bước 2: Chọn nội dung, không phải giờ học nào cũng có thể đưa ra để dạyhọc hợp tác được, vì vậy phải chọn nội dung thích hợp
Bước 3: Thiết kế tình huống cụ thể, bao gồm các nhiệm vụ
- Đề ra nhiệm vụ cho học sinh: có thể thông qua phiếu học tập, sử dụng máychiếu để thiết kế tình huống như một đoạn phim, những câu chuyện dẫn đếnnghịch lý,
Bước 4: Tổ chức học tập hợp tác
2.1.4 Các bước tiến hành dạy học hợp tác trong một tiết học
a Các bước tiến hành dạy học hợp tác:
Dạy học hợp tác dựa trên hoạt động của các nhóm được tiến hành theo các bướcsau:
Bước 1: Tổ chức lớp học
Bước 2: Làm việc theo nhóm
Bước 3: Thảo luận, tổng kết kiến thức
b Rèn luyện kĩ năng hợp tác:
Hợp tác là bản năng của con người, nhưng để hợp tác có hiệu quả thì con ngườicần phải được rèn luyện kĩ năng hợp tác để thích ứng với từng hoàn cảnh vàtrong từng mối quan hệ cụ thể
Có 5 loại kĩ năng cơ bản là kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xây dựng và duy trìbầu không khí tin tưởng lẫn nhau, kĩ năng kèm cặp nhau, kĩ năng lãnh đạo và kĩnăng tư duy phê phán
2.1.5 Dạy học khái niệm toán học
Trong dạy học môn Toán, việc hình thành khái niệm cho học sinh là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nhiệm vụ của dạy học khái niệm bao gồm: Dạy học tiếp cận khái niệm, củng cố khái niệm và phân chia khái niệm
“Trong việc dạy học toán, cũng như ở việc dạy học bất kỳ các môn khoahọc nào ở trường phổ thông, điều quan trọng nhất là hình thành một cách vữngchắc cho học sinh một hệ thống các khái niệm Quá trình hình thành các khái
Trang 7niệm có tác dụng lớn đến việc phát triển trí tuệ, đồng thời cũng góp phần giáodục thế giới quan cho học sinh”.
Việc dạy học khái niệm Toán học ở trường trung học phổ thông phải làmcho học sinh dần dần đạt được các yêu cầu sau:
a Nắm vững các đặc điểm đặc trưng cho một khái niệm
b Biết nhận dạng khái niệm, tức là biết phát hiện xem đối tượng cho trước
có thuộc phạm vi một khái niệm nào đó hay không, đồng thời biết thể hiện kháiniệm, nghĩa là biết tạo ra một đối tượng thuộc phạm vi một khái niệm cho trước
c Biết phát biểu rõ ràng, chính xác định nghĩa của một khái niệm
d Biết vận dụng khái niệm trong những tình huống cụ thể trong hoạt độnggiải toán và ứng dụng vào thực tiễn
e Biết phân loại khái niệm và nắm được mối quan hệ của một khái niệmvới những khái niệm khác trong một hệ thống khái niệm
2.1.6 Các bước dạy học khái niệm Toán học
Dạy học tiếp cận khái niệm Toán học
Trong dạy học, người ta thường phân biệt ba con đường tiếp cận khái niệm:
- Con đường suy diễn
- Con đường quy nạp
- Con đường kiến thiết
Những hoạt động củng cố khái niệm.
Quá trình tiếp cận khái niệm chưa kết thúc khi phát biểu được định nghĩakhái niệm đó Một khâu rất quan trọng là củng cố khái niệm; khâu này thườngđược thực hiện bằng các hoạt động sau đây:
- Nhận dạng và thể hiện khái niệm;
Bên cạnh đó, về mặt tâm lí nhiều học sinh thiếu tự tin trong khi học cáckhái niệm toán học, và ngay cả một số giáo viên cũng thiếu niềm tin ở khả năngnắm vững bản chất của khái niệm toán học của học sinh Do đó giáo viên phổthông ít khi tạo tình huống và cơ hội để các học sinh cùng hợp tác phát hiện vàgiải quyết vấn đề Vì thế ít, nhiều cũng làm hạn chế đến tính tích cực và khả
Trang 8năng hợp tác của học sinh Ngoài ra với số lượng học sinh trong lớp ở một sốnơi còn đông, thời gian và phương tiện học tập còn thiếu vì vậy việc áp dụngphương pháp mới như phương pháp dạy học hợp tác vào giảng dạy cũng gặpnhiều khó khăn.
Tuy nhiên bên cạnh những khó khăn trên cũng có nhiều yếu tố thuận lợicho việc áp dụng những phương pháp dạy học mới
Hiện nay giáo viên phổ thông được trao quyền nhiều hơn trong việc phân
bố chương trình dạy học, do đó sự phân bố thời gian cũng được chủ động hơn vàphù hợp hơn với thực tiễn dạy học
Với căn cứ là sự phân hoá về trình độ và tính tập thể trong tâm lí học củahọc sinh trung học phổ thông, hợp tác trong dạy học sẽ giúp học sinh cùng họchỏi, giảng giải cho nhau bằng các hình thức tổ chức hợp tác nhằm tạo các mốiliên hệ ràng buộc giữa các cá thể trong học tập
2.3 Biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chú trọng đến việc thiết kế tình huống dạy học hợp tác trong dạy học một số khái niệm thuộc chương trình Đại số
và Giải tích 11.
Dựa vào các điều kiện để thiết kế tình huống dạy học hợp tác có hiệu quả,tôi nhận thấy, những khái niệm có nội dung có thể tiếp cận theo con đường quynạp hoặc suy diễn, các hoạt động củng cố khái niệm, phân chia khái niệm thì có
thể thiết kế được tình huống dạy học hợp tác Sau đây là một số tình huống:
Tình huống 1: Tiếp cận khái niệm phép thử ngẫu nhiên và không gian mẫu
Hoạt động 1: Khởi động
1 Mục tiêu: Làm cho HS thấy vấn đề cần thiết phải nghiên cứu khái niệm phép thử và việc nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn
2 Tổ chức hoạt động:
GV cho HS quan sát các hình ảnh sau:
GV giới thiệu về xác suất:
Trang 9Lí thuyết xác suất là bộ môn khoa học nghiên cứu các hiện tượng ngẫu nhiên Xác suất được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, công nghệ, kinh tế, y học, sinh học
Hoạt động 2: Khởi động
1 Mục tiêu: Hiểu được khái niệm phép thử và không gian mẫu Biết cách xác định không gian mẫu
2 Tổ chức hoạt động:
GV chia lớp thành các nhóm hợp lý tuỳ theo số lượng HS
GV yêu cầu học sinh thực hiện phiếu học tập (trình chiếu phiếu học tập lên slide)
Phiếu học tập:
Nhóm 1: Gieo một đồng xu cân đối, đồng chất
Nhóm 2: Gieo một con súc sắc cân đối, đồng chất
Nhóm 3: Lắc bầu cua tôm cá
Nhóm 4: Rút ngẫu nhiên một lá bài từ cỗ bài tú lơ khơ
Câu 1: Ta có dự đoán được kết quả xảy ra không?
Câu 2: Ta có thể xác định tất cả các kết quả có thể xảy ra không?
- Các nhóm thực hiện yêu cầu của phiếu học tâp, thao tác gieo một đồng xu, súc sắc, lắc bầu cua tôm cá và rút một lá bài từ cỗ bài tú lơ khơ (5 phút), điền kết quả trong phiếu học tập
- GV mời đại diện các nhóm trình bày và các nhóm khác nhận xét
- Nhóm nào đúng và nhanh nhất sẽ được cộng điểm
3 Sản phẩm học tập:
- Phiếu học tập đã hoàn thành của các nhóm
- Phần thuyết trình, báo cáo kết quả làm việc của đại diện nhóm
- Các phản biện của HS trong bài trình bày nhóm
4 Phương án đánh giá:
Trang 10- GV đánh giá kết quả làm việc của nhóm thông qua câu trả lời trên phiếu học tập kết hợp với quan sát và vấn đáp thông qua phần trình bày kết quả của đại diện nhóm.
- Các nhóm HS đánh giá chéo lẫn nhau vào phiếu đánh giá
- GV yêu cầu các em thảo luận theo nhóm để hoàn thành câu hỏi 1 và câu hỏi 2.Câu trả lời mong đợi:
Nhóm 1: Khi gieo một đồng xu một lần ta không dự đoán trước được mặt sấp (S) hay mặt ngửa (N) xuất hiện, nhưng ta biết được có hai khả năng xuất hiện
Đó là phép thử ngẫu nhiên
Nhóm 2: Khi gieo một con súc sắc cân đối, đồng chất một lần ta không dự đoán trước được mặt một chấm, hai chấm, ba chấm, bốn chấm, năm chấm hay sáu chấm nhưng ta biết được có sáu khả năng xuất hiện Đó là phép thử ngẫu nhiên Nhóm 3: Khi lắc bầu cua tôm cá ta không dự đoán trước được sẽ xuất hiện bầu, cua, tôm, cá, gà, nai nhưng ta biết được tất cả các khả năng xuất hiện Đó là phép thử ngẫu nhiên
Nhóm 4: Khi rút ngẫu nhiên một lá bài từ cỗ bài tú lơ khơ ta không dự đoán trước được sẽ xuất hiện lá bài nào nhưng ta biết được có 52 khả năng xuất hiện
Đó là phép thử ngẫu nhiên
HS tư duy và tham gia tình huống với tinh thần thú vị
Hình thành khái niệm phép thử, không gian mẫu thông qua phương pháp dạy học hợp tác
1 Phép thử
GV yêu cầu HS nêu khái niệm phép thử ngẫu nhiên
Câu trả lời mong đợi: Phép thử ngẫu nhiên là phép thử mà ta không đoán trước được kết quả của nó, mặc dù đã biết tập hợp tất cả các kết quả có thể có của phép thử đó
Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm tìm ví dụ về phép thử ngẫu nhiên trong thực tế
Dự kiến: HS lấy ví dụ về phép thử ngẫu nhiên
2 Không gian mẫu
GV: Gieo một đồng xu cân đối, đồng chất 1 lần Hãy mô tả tất cả các kết quả xảy ra của phép thử?
Sản phẩm của nhóm 1:
Tập hợp tất cả các kết quả xảy ra của phép thử là {S,N}
Trang 11GV: Gieo một con súc sắc một lần.Hãy liệt kê tất cả các kết quả xảy ra của phép thử?
Sản phẩm của nhóm 2:
Tập hợp tất cả các kết quả xảy ra của phép thử là {1,2,3,4,5,6}
Hoạt động: (Hình thành kiến thức)
GV yêu cầu HS nêu khái niệm không gian mẫu
Câu trả lời mong đợi:
Tập hợp các kết quả có thể xảy ra của một phép thử được gọi là không gian mẫu của phép thử và kí hiệu là
Tình huống 2: Tiếp cận định nghĩa xác suất của biến cố