Xuất phát từ thực tiễn, là giáo viên giảng dạy trực tiếp môn Ngữ văn tạitrường THPT Quan Hóa một trường có nhiều khó khăn so các trường THPTtrong toàn tỉnh Thanh Hóa tôi nhận thấy việc r
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT QUAN HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI PHẦN ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 12 GÓP PHẤN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN NGỮ VĂN TẠI TRƯỜNG THPT QUAN HÓA
Người thực hiện: Phạm Thị Thôn
Chức vụ: Giáo viên
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu ……… Trang 1
1.1 Lý do chọn đề tài ……… Trang 11.2 Mục đích nghiên cứu ……… Trang 11.3 Đối tượng nghiên cứu ……… Trang 11.4 Phương pháp nghiên cứu ……….… Trang 2
2.1 Cơ sở lý luận ……… Trang 22.2 Thực trạng của vấn đề ……… Trang 42.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện……… Trang 62.3.1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh thực hiện các thao
tác đọc hiểu một văn bản ngắn……… Trang 62.3.2 Giải pháp 2: Vận dụng kiến thức về thể loại và việc
đọc hiểu văn bản ngắn ……… Trang 102.3.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn cách trình bày câu trả lời
theo hình thức đoạn văn bản ngắn ……… …… Trang 122.3.4 Giải pháp 4: Tăng cường luyện đề ……… Trang 132.4 Hiệu quả của đề tài ……… Trang 15
3 Kết luận, kiến nghị ……… Trang 16
Trang 41 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong chương trình môn Ngữ văn bậc trung học phổ thông (THPT) hiệnhành, các tiết đọc hiểu văn bản, trong đó bao gồm cả văn bản văn học và vănbản nhật dụng, chiếm một số lượng tương đối lớn Kĩ năng đọc hiểu văn bảncũng là một kĩ năng cơ bản mà giáo viên dạy Ngữ văn cần phải hình thành chohọc sinh trong suốt quá trình học tập Đây cũng là một trong hai kĩ năng quantrọng (cùng với kĩ năng viết – tạo lập văn bản) của học sinh cần thể hiện trongcông tác kiểm tra, đánh giá thông qua các kì thi mà Bộ GD&ĐT yêu cầu Chính
vì vậy, rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh (HS) như thế nào để đạt hiệuquả tối ưu là điều mà bất cứ giáo viên (GV) dạy Văn nào cũng phải quan tâm
Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Quan Hoá nhiều nămnay, tôi nhận thấy lối dạy văn của giáo viên vẫn còn nhiều bất cập Giáo viênvẫn chưa cho thấy được sự khác biệt giữa đọc hiểu văn bản và phân tích, giảngbình truyền thống Học sinh vẫn còn thụ động trong việc tiếp cận tác phẩm vănhọc Học sinh chủ yếu, nghe, ghi chép và tái hiện lại bài giảng Điểm yếu nhấtcủa học sinh là chưa có phương pháp tự học, từ đó dẫn đến khả năng đọc hiểurất yếu
Vài năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cải tiến trong côngtác thi cử, các đề văn “mở” hơn và yêu cầu đối với kĩ năng đọc hiểu đối với họcsinh cũng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, trong năm học 2014 – 2015, với sự
chỉ đạo “đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh”[1] các bài tập đọc hiểu trở thành một phần không
thể thiếu trong các đề thi, đề kiểm tra Và như vậy, việc tìm tòi các biện pháp đểnâng cao năng lực đọc hiểu cho học sinh là nhiệm vụ mà người giáo viên dạyVăn phải quan tâm Công việc này vừa giúp các tiết dạy đọc hiểu văn bản đạthiệu quả cao vừa phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, đồng thời giúpcho học sinh có khả năng làm tốt kiểu bài tập đọc hiểu trong đề thi theo yêu cầuđổi mới
Xuất phát từ thực tiễn, là giáo viên giảng dạy trực tiếp môn Ngữ văn tạitrường THPT Quan Hóa một trường có nhiều khó khăn so các trường THPTtrong toàn tỉnh Thanh Hóa tôi nhận thấy việc rèn kĩ năng cho phần đọc hiểu làđiều rất cần thiết, nhất là với học sinh lớp 12 đang chuẩn bị bước vào kỳ thi tốt
nghiệp THPT năm 2022 Từ những lí do trên tôi lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp rèn kĩ năng làm bài phần đọc hiểu môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Quan Hóa”
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Xây dựng biện pháp phù hợp, giúp học sinh hiểu khái niệm đọc hiểu
- Giúp các em hình dung dạng đề đọc hiểu
- Rèn luyện kỹ năng cho học sinh làm phần đọc hiểu một cách hiệu quả,không mất nhiều thời gian
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, điểm số trong bài thi
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Dạng đề đọc hiểu trong đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn
Trang 5- Học sinh Trường THPT Quan Hoá.
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp lý luận: Các tài liệu tham khảo, giáo trình có nộidung liên quan
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Thống kê, phân tích, tổng hợp
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận
Quan niệm về đọc hiểu: [5]
Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa Kháiniệm đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú cónhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệthuật, lí thuyết giao tiếp thi pháp học
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu vàchữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sửdụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe
Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đốitượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nộidung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cáigì? Như thế nào? Làm thế nào?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích,khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy vàbiểu đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương, đọc hiểu là phải thấy được: Nộidung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xâydựng; ý đồ, mục đích Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm;giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trongcấu trúc văn bản; thể loại của văn bản, hình tượng nghệ thuật…
Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của vănbản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với vănbản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thônghiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hìnhtượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuấtphát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề đọc hiểu vănbản ngày càng được quan tâm
Văn bản đọc hiểu:[5]
Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạyđọc hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng Trong đó các văn bảnđược xếp theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại Các văn bản văn học đa dạnghơn các văn bản nhật dụng Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu đểhọc sinh khai thác Thực tế cho thấy văn bản đọc hiểu nói chung và văn bản đọchiểu trong nhà trường nói riêng rất đa dạng và phong phú Có bao nhiêu loại vănbản trong cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường Điều đócũng có nghĩa là văn bản đọc hiểu trong các đề thi rất rộng Đề thi có thể là vănbản các em đã được tiếp cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàntoàn xa lạ
Trang 6Từ năm 2014 Bộ GD&ĐT đưa phần đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn đãđổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh Việc làm này có tácđộng tích cực đến quá trình rèn khả năng tiếp nhận văn bản đọc hiểu của các em.
Vấn đề đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THPT:[5]
Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, từ đềthi Tốt nghiệp năm 2014 Bộ GD&ĐT chính thức đưa câu hỏi đọc hiểu vào đềthi Khi có quyết định nhiều học sinh, các thầy cô tỏ ra lung túng vì cho rằng đây
là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Nhưng thực chất bản chất của vấn đề không hoàntoàn mới Vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường xuyên trong các bài giảngvăn Các thầy cô vẫn thường cho học sinh tiếp cận văn bản bằng cách đọc ngữliệu, sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời, nghĩa là đang diễn ra hoạt động đọchiểu Tuy nhiên giữa hoạt động đọc hiểu và dạng câu hỏi đọc hiểu có nét tươngđồng và khác biệt Nét tương đồng là phương thức tiếp cận văn bản là giốngnhau: bắt đầu từ đọc rồi đến hiểu Còn nét khác biệt là đọc hiểu trong dạy họcvăn nói chung là hoạt động trên lớp có sự định hướng của người thầy, còn câuhỏi đọc hiểu trong đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh, nhằm đánhgiá năng lực người học Hơn nữa những kiến thức trong dạng câu hỏi đọc hiểurất phong phú, học sinh phải biết huy động những kiến thức đã học ở các lớpdưới để trả lời câu hỏi Như vậy hoạt động đọc hiểu vẫn thường xuyên diễn ratrong môn Ngữ văn ở các nhà trường
Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủđộng Đây là một năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THPTcần quan tâm Nếu chúng ta không có trình độ năng lực đọc thì hiểu đúng, đánhgiá đúng văn bản Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếpthu, bồi đắp được tri thức và cũng không có cơ sở để sáng tạo Vì thế vấn đề đọchiểu môn ngữ văn trong nhà trường là rất cần thiết
Như ta đã biết, một trong những mục tiêu cơ bản của môn Ngữ văn ởtrường phổ thông là hình thành và phát triển ở học sinh năng lực tiếp nhận vănbản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói vàviết) Khái niệm “văn bản” ở đây được hiểu bao gồm cả văn bản văn học và vănbản nhật dụng
Tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh” của Bộ Giáo dục và đào tạo (năm
2014) đã xác định rõ: “Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bảncủa đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Cáchdạy đọc hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những cảm nhậncủa GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc,cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ
đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắcthái cá nhân ” [1]
Tài liệu cũng đã nêu rõ các nhiệm vụ và các nội dung cơ bản mà học sinhcần đạt được trong quá trình dạy học đọc hiểu Theo đó, HS cần thực hiện đượccác nội dung: huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân có liên quanđến chủ đề, thể loại văn bản; thể hiện những hiểu biết về văn bản; vận dụngnhững hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác
Trang 7nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêucầu dùng đến hoạt động đọc hiểu
Tài liệu cũng nhấn mạnh, việc dạy đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho họcsinh năng lực đọc hiểu mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt lànăng lực viết sáng tạo
2.2 Thực trạng của vấn đề
Qua thực tế giảng dạy tại Trường THPT Quan Hóa trong những năm quabản thân tôi nhận thấy nhiều học sinh của nhà trường còn rất yếu về khả nănglàm bài văn đọc hiểu, kể cả làm kiểu bài tập đọc hiểu văn bản ngắn Kết quả thiTHPT những năm gần đây đối với môn Ngữ văn là rất thấp, điểm trung bìnhmôn văn là 5,46 xếp thứ 105/130 đơn vị có học sinh thi tốt nghiệp THPT năm
2021 Năm học 2021 – 2022 nhà trường có 7 lớp 12 với 253 học sinh, bản thântôi được giao giảng dạy 2 lớp 12 là 12A3 – 37 học sinh, 12A7 – 34 học sinh Kếtquả thi khảo sát đầu năm học môn Ngữ văn của nhà trường là rất thấp
Bảng thống kê điểm khảo sát chất lượng môn Ngữ văn khối 12 đầu năm học 2021 – 2022 (Thời gian làm bài khảo sát 120 phút – Phụ lục 1).
Từ 5 đếndưới 7 điểm
Từ 7 đến 10điểm
SL Tỷ lệ
(%)
SL Tỷ lệ(%)
SL Tỷ lệ(%)
SL Tỷ lệ(%)
Từ kết quả thống kê nhận thấy chất lượng môn Ngữ văn của học sinh lớp
12 đầu năm học 2021 – 2022 của nhà trường có 64% học sinh có điểm khảo sátdưới trung bình, đặc biệt có đến 28% các em có điểm kém Trong đó 2 lớp12A3, 12A7 có điểm dưới trung bình tương ứng là 72,9% và 76,5%
Bảng thống kê điểm kiểm tra phần đọc hiểu của học sinh lớp 12A3, 12A7 đầu năm học 2021 – 2022 (Đề kiểm tra 15 phút – Phụ lục 2)
Lớp Tổng
số học
Điểm kiểm tra phần đọc hiểu
Từ 1 đến Từ 3 đến dưới 5 Từ 5 đến dưới Từ 7 đến
Trang 8dưới 3 điểm điểm 7 điểm 10 điểm
TS Tỷ lệ(%) TS Tỷ lệ(%) TS Tỷ lệ(%) TS Tỷ lệ(%)12A3 37 13 35,1% 17 46%% 6 16,2% 1 2,7%12A7 34 14 41,1% 17 50% 2 6% 1 2,9%Tổng 71 27 38% 34 48% 8 11,2% 2 2,8%
Kết quả thống kê đối với 2 lớp 12A3, 12A7 trên đây cho thấy đa số họcsinh không hiểu, không biết cách làm bài phần đọc hiểu, có đến 86% các em cóđiểm dưới trung bình, đặc biệt có tới 38% học sinh có điểm kém khi làm bàikiểm tra phần đọc hiểu
Từ kết quả khảo sát ở trên cho thấy có một thực trạng đáng báo động đốivới tình hình học tập môn Ngữ văn của học sinh lớp 12 trường THPT Quan Hóa,đặc biệt đối với dạng bài khá đơn giản là phần đọc hiểu mà học sinh khối 12 nóichung và 2 lớp 12A3, 12A7 nói riêng cũng làm rất yếu Kết quả này đòi hỏi tậpthể Ban giám hiệu và giáo viên bộ môn Ngữ văn của nhà trường phải họp bàn vàtìm giải pháp thiết thực để cải thiện tình hình học tập của học sinh hướng đến kỳthi tốt nghiệp THPT năm 2022
Nguyên nhân chính của vấn đề trên là:
- Về xã hội: với sự phát triển của khoa học, công nghệ, xã hội, HS ngàycàng có nhiều kênh giải trí nên việc đọc sách báo, tác phẩm văn học không còn
là kênh thông tin, giải trí hấp dẫn nhất với HS Vì vậy đam mê, tình yêu với vănhọc và các trang văn của HS giảm sút
- Về học sinh: hầu hết học sinh học tại trường THPT Quan Hóa đều có lựchọc yếu, kém, số học sinh học lực trung bình và trung bình khá rất ít Hơn nữa,học sinh lười học, ham chơi, đi học xa nhà, phải ở trọ nên dễ bị cám dỗ bởinhững thú vui không bổ ích Các em HS cũng không có phương pháp học tậpđúng đắn, hiệu quả và không có mục đích, động lực trong học tập Mặt khác, đaphần HS là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh sống khó khăn, ít được tiếp xúcvới phương tiện dạy học hiện đại nên ngôn ngữ tiếng Việt còn nghèo, nhiều khitrong lớp các em còn giao tiếp bằng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, kĩ năngđọc, viết, diễn đạt câu, phát âm tiếng phổ thông nhiều khi chưa chính xác Chưahết, các em tư duy khá chậm, khi gặp tình huống phức tạp thường bối rối khôngnhanh chóng tìm ra phương án, khả năng tư duy trừu tượng, tư duy logic biệnchứng chưa cao Các em quen tư duy cụ thể, bắt chước, dập khuôn nên gặp bàikhó, phức tạp không tích cực suy nghĩ mà chờ sự hướng dẫn của giáo viên Khảnăng vận dụng, liên hệ thực tế còn hạn chế, khả năng phân tích, tổng hợp, sosánh còn yếu Đa số các em chưa nắm chắc kiến thức, nhiều học sinh của nhàtrường còn rất yếu cả về năng lực đọc hiểu lẫn năng lực viết sáng tạo, chưa biếtcách làm bài, kể cả làm kiểu bài tập đọc hiểu văn bản ngắn, nên làm bài hay sai
và thiếu ý Khi vận dụng thực hành cũng như thế, các em vẫn lơ mơ và hay
nhầm (Ví dụ: xác định các phương thức biểu đạt còn sai Chưa nhận diện được các biện pháp tu từ… Ngoài ra chưa chỉ ra được tác dụng hiệu quả của các
Trang 9biện pháp tu từ đó như thế nào?) Đọc các ngữ liệu chưa kĩ, nên không biết xác
định nội dung chính cần trả lời, trình bày các ý còn lộn xộn, thiếu ý
- Về phía giáo viên: giáo viên đã thực hiện việc đổi mới phương pháp dạyhọc bộ môn Ngữ văn theo hướng phát huy tính tích cực của HS như sử dụngphương pháp vấn đáp tìm tòi, sử dụng phương tiện trực quan, đóng vai, trò chơi,thảo luận nhóm… Tuy nhiên, việc giảng dạy mới chỉ dừng lại ở các tiết họcchính khóa với các bài giảng theo phân phối chương trình, chưa chú ý dạyphương pháp đọc hiểu, nói cách khác là chưa hình thành cho học sinh năng lực
tự mình đọc và hiểu một văn bản Đôi lúc còn dạy theo cách đọc chép, dạy nhồinhét, thiếu sự hợp tác giữa thầy và trò, trò với trò, khiến HS học thụ động, thiếusáng tạo, thiếu hứng thú và đam mê
Sau khi khảo sát thực trạng học tập môn Ngữ văn nói chung, bài văn đọchiểu nói riêng, đồng thời đi tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của vấn đề này Tôimạnh dạn áp dụng các giải pháp sau đối với 2 lớp 12A3, 12A7 Mỗi giải phápđưa vào thực hiện có một vai trò riêng, xong nó hỗ trợ lẫn nhau với mục đích tạođộng lực học tập cho học sinh, giúp các em yêu môn Ngữ văn hơn, đặc biệt giúpcác em biết cách làm bài văn đọc hiểu, một dạng bài đơn giản nhưng rất quantrong đối với học lớp 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT
- Đầu tiên, giáo viên hướng dẫn cho học sinh thực hiện việc đọc hiểu mộtvăn bản theo trình tự các bước như sau:
+ Bước 1: Đọc văn bản (đọc toàn bộ một lần) và phân loại văn bản Đây
là điều tưởng như đơn giản nhưng rất quan trọng, bởi vì mỗi loại văn bản sẽ cócách đọc hiểu và yêu cầu đọc hiểu khác nhau Học sinh cần nhận diện được vănbản văn học (văn bản nghệ thuật) hay là văn bản thông tin; thuộc thể loại nào:truyện, thơ, kí hoặc bản tin báo chí, bài viết nghiên cứu khoa học…
+ Bước 2: Tìm hiểu nội chính của văn bản bằng cách xác định câu chủ đề,các từ ngữ quan trọng và tần suất xuất hiện của chúng, tìm các ý chính…; tómtắt các ý chính bằng những câu văn ngắn gọn
+ Bước 3: Nhận diện các hình thức biểu đạt trong văn bản, chỉ ra các yếu
tố hình thức nổi bật nhất và phân tích tác dụng của chúng (tùy theo từng thể loại
mà có sự chú ý khác nhau)
+ Bước 4: Tìm hiểu mục đích và ý nghĩa của văn bản: Văn bản được viết
để làm gì? Người viết muốn nhấn mạnh, muốn gửi gắm điều gì?
+ Bước 5: Đánh giá giá trị của văn bản (đem lại cho ta điều gì: về mặtnhận thức, về tư tưởng, tình cảm, về cảm thụ cái hay cái đẹp…)
Lưu ý: Đây là quy trình chung có tính chất tổng thể Tùy theo mức độ yêucầu, độ dài và thời gian dành cho từng bài tập cụ thể, học sinh có thể không cầnthực hiện hết hoặc đúng trình tự các bước trên nhưng phải nắm được và vậndụng thành thục tất cả các bước
Trang 10- Sau khi học sinh nắm được ý nghĩa của từng hoạt động nêu trên, giáoviên tổ chức cho học sinh luyện tập thông qua các bài tập cụ thể Có loại bài tậpyêu cầu học sinh thực hiện tất cả các bước trên; có loại bài tập rèn một thao tác
cụ thể
Trước mỗi tiết luyện tập, giáo viên có nhiệm vụ chuẩn bị bài tập: bao gồmviệc chọn lựa văn bản (ngữ liệu có thể lấy trong SGK hoặc bên ngoài, mức độnên đi từ dễ đến khó), thiết kế các câu hỏi theo các mức độ và nội dung khácnhau, chuẩn bị đáp án…
Tiến hành luyện tập: giáo viên giao bài tập và đặt ra yêu cầu cho các đốitượng học sinh khác nhau (câu hỏi vận dụng cao nên giao cho một vài em họckhá trong lớp) Khuyến khích học sinh tự lực làm bài, tự trình bày đáp án và nêucăn cứ bảo vệ quan điểm của mình Giáo viên nhận xét, hướng dẫn cách thức để
có được đáp án tối ưu
a Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Có nội dung chính
là gì?
b Trong đoạn văn có sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Biệnpháp nào là nổi bật nhất? Nêu ngắn gọn điểm đặc sắc của biện pháp đó?
c Qua miêu tả, tác giả muốn nhấn mạnh điều gì ở nhân vật ông lái đò?
d Đặt tiêu đề cho đoạn văn?
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm đáp áp tối ưu:
Câu hỏi Đáp án Căn cứ để tìm đáp án
1
Sử dụng các biện pháp so sánh,lặp CP, sử dụng từ láy…
(Tay ông lêu nghêu/như… Chânông khuỳnh khuỳnh/ như…)Câu b, ý
2
Biện pháp nổi bật nhất là sosánh
Xuất hiện rõ nhất, gây ấn tượngnhất, có tác dụng quan trọng
Câu b, ý
3
Bằng một loạt so sánh độc đáo,hình ảnh ông lái đò hiện lên thật
ấn tượng Đặc sắc nhất là các chitiết ngoại hình ông lái đò được sosánh, liên tưởng với các yếu tố
nghề nghiệp trên sông nước (sào, cuống lái, tiếng nước, mong một
Dựa vào mối liên kết từ các yếu
tố: tay – sào; chân – kẹp cuống lái; giọng – tiếng nước…
Trang 11Câu c
Tác giả muốn nhấn mạnh lòngyêu nghề, sự gắn bó với nghềnghiệp trên sông nước của ông láiđò
Gợi ý cho HS hiểu: vì gắn bóvới nghề nên ông lái đò sau khi
nghỉ làm vẫn còn “tật”: chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh…, giọng nói ào ào…
Câu d Ngoại hình đặc biệt của ông láiđò; Ông lái đò đặc biệt… Là sự cô đọng ý 2, câu a
Bài tập 2 : (kết hợp với tiết ôn tập về bài Ai đã đặt tên cho dòng sông ?)
Yêu cầu HS đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi :
“ Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của pét; sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình… Tôi đã đến Lê-nin-grát, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô…; mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm… Tôi cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì… Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của
Bu-đa-nó khi ngang qua thành phố…Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế,
…” (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông ? – Hoàng Phủ Ngọc Tường) [2]
a Nội dung chính của đoạn trích ?
b Chỉ ra thao tác lập luận nổi bật nhất trong đoạn trích? Sử dụng thao táclập luận đó, nhà văn muốn nói lên điều gì ?
Giáo viên hướng dẫn HS xác định các căn cứ để tìm đáp án tối ưu
HS cần trả lời được các ý cơ bản sau :
a Nội dung chính của đoạn trích: Miêu tả đặc điểm của sông Hương trong
sự so sánh với các dòng sông khác trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp,sông Nê-va
b Thao tác lập luận nổi bật nhất trong đoạn trích là thao tác so sánh
- So sánh sông Hương với sông Xen, sông Đa-nuýp để thấy sự tươngđồng: đều là những dòng sông chảy qua giữa lòng thành phố (cố đô, thủ đô)
- So sánh sông Hương với sông Nê-va để thấy sự tương phản; khác với
sông Nê-va đã chảy nhanh quá, sông Hương của Huế trôi đi thật chậm…
Với thao tác so sánh nêu trên, nhà văn muốn nhấn mạnh cái nhịp chậmrãi, buồn bâng khuâng của dòng chảy, cái ngập ngừng vấn vương tình cảm củasông Hương dành cho Huế…
Bài tập 3: (kết hợp trong tiết dạy bài Tiếp nhận văn học – Ngữ văn 12)
Như đã nêu, đối tượng đọc hiểu trong chương trình Ngữ văn THPT còn có
các văn bản nhật dụng như Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS…, Giá trị văn học và tiếp nhận văn học…
Đối với những văn bản trên, ngoài việc hướng dẫn tìm hiểu nội dung kiếnthức, từ đó trang bị cho HS những kiến thức lý luận cơ bản về vấn đề đã học (làyêu cầu chính), GV có thể có những bài tập đọc hiểu trong quá trình giảng dạy.Thông qua đó, vừa cung cấp kiến thức mới, củng cố kiến thức cũ, vừa rèn kĩnăng đọc hiểu cho HS
Trước đây, khi dạy những bài có tính chất lý luận như bài Giá trị văn học
và tiếp nhận văn học, giáo viên thường than khó, than khổ, HS khó tiếp thu… Vì
Trang 12trình độ của học sinh còn hạn chế (điều tất nhiên) nên cách dạy thường là GVgiảng giải và cho ví dụ minh họa, HS càng trở nên thụ động, hiểu lơ mơ…
Chúng tôi thử đổi mới bằng cách kết hợp với bài tập đọc hiểu và thấy cóhiệu quả khả quan
VD: Khi dạy đến mục Tính chất tiếp nhận văn học của bài “Giá trị văn học và Tiếp nhận văn học”, GV có thể ra bài tập, yêu cầu HS đọc đoạn văn bản:
“(1) Trong sự giao tiếp giữa tác phẩm và độc giả, cần chú ý tính chất cá thể hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận (2) Ở đây, năng lực, thị hiếu, sở thích của cá nhân đóng vai trò rất quan trọng; tùy theo lứa tuổi già hay trẻ, trình độ học vấn cao hay thấp, kinh nghiệm sống nhiều hay ít mà có kết quả tiếp nhận, cụ thể, riêng biệt cho mỗi người (3) Thậm chí, cùng một người, lúc nhỏ đọc tác phẩm ấy đánh giá khác, sau lớn lên đánh giá khác, về già lại đánh giá khác (4) Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, trong thị hiếu thẩm
mĩ càng làm cho sự tiếp nhận văn học mang đậm nét cá nhân và chính sự chủ động, tích cực của người tiếp nhận đã làm tăng thêm sức sống của tác phẩm (5) Tác phẩm văn học tuy miêu tả cuộc sống cụ thể, toàn vẹn, sinh động, nhưng vẫn còn rất nhiều điều mơ hồ chưa rõ (6) Người đọc phải quan sát, tri giác để làm nổi lên những nét mờ, khôi phục những chỗ còn bỏ lửng, nhận ra mối liên hệ của những phần xa nhau, ý thức được sự chi phối của chỉnh thể đối với các bộ phận (7) Ở đây không chỉ có tác phẩm tác động tới người đọc, mà còn có việc tác động, tìm tòi của người đọc đối với văn bản (8) Thiếu sự tiếp nhận tích cực của người đọc thì tác phẩm chưa thể hiện lên thật sinh động, toàn vẹn, hoàn chỉnh” [3]
+ Yêu cầu học sinh thảo luận và trả lời các câu hỏi:
a Đoạn văn bản có mấy ý chính ? (Để giúp HS, GV cho tiếp 1 số câu hỏigợi mở : Câu chủ đề nằm ở đầu đoạn, giữa đoạn hay cuối đoạn ? Ý chủ đề đượctriển khai thành mấy ý nhỏ ? Ý một gồm những câu nào ? Ý 2 gồm những câunào ? Câu nào có tính chất bắc cầu giữa 2 ý ?)
b Đoạn văn thuộc phong cách ngôn ngữ gì ? Sử dụng thao tác lập luậnnào là chủ yếu ?
c Câu văn “Thậm chí, cùng một người, lúc nhỏ đọc tác phẩm ấy đánh giá khác, sau lớn lên đánh giá khác, về già lại đánh giá khác” gợi cho em nhớ đến ý
kiến nào đã học ? Điểm chung giữa 2 câu ?
d Câu văn Người đọc phải quan sát, tri giác để làm nổi lên những nét
mờ, khôi phục những chỗ còn bỏ lửng, Hiểu như thế nào về những nét mờ, những chỗ còn bỏ lửng ? Vấn đề này gợi cho em nhớ đến một lí thuyết đã được giới thiệu trong phần văn học nước ngoài ?
+ Chia 3 nhóm câu hỏi cho 3 đối tượng học sinh khác nhau (các câu hỏi c
và d nên dành cho học sinh khá)
+ HS thảo luận, nêu căn cứ tìm ra đáp án GV tổng hợp, giải thích đáp án :Đáp án:
a Đoạn văn có 2 ý chính:
- Tiếp nhận văn học có tính chất cá thể hóa
- Tiếp nhận văn học phụ thuộc vào tính chủ động, tích cực của người đọc
Trang 13(Câu chủ đề nằm ở đầu đoạn: câu 1; có 2 ý nhỏ; ý 1 được triển khai ở cáccâu 2,3; ý 2 được triển khai ở các câu 5,6,7,8; câu 4 có tính bắc cầu, chuyển ý)
b Đoạn văn thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học (cung cấp tri thức về 1vấn đề lí luận văn học)
Thao tác lập luận chính: phân tích
c Câu văn “Thậm chí, cùng một người, lúc nhỏ đọc tác phẩm ấy đánh giá khác, sau lớn lên đánh giá khác, về già lại đánh giá khác” gợi cho em nhớ đến ý kiến: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua cái kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài.” của Lâm Ngữ
Đường [2]
Điểm chung giữa 2 câu là cùng diễn đạt ý: Tiếp nhận văn học phụ thuộcvào tuổi tác, kinh nghiệm sống…
d Các cụm từ những nét mờ, những chỗ còn bỏ lửng trong câu (6) được
hiểu là phần nghĩa hàm ẩn của văn bản văn chương
Vấn đề này gợi nhớ đến lí thuyết “tảng băng trôi” của Hê-min-uê đã đượcgiới thiệu trong phần văn học nước ngoài
Với những bài tập như ví dụ trên, HS vừa dễ tiếp thu kiến thức vừa cóthêm năng lực đọc hiểu
2.3.2 Giải pháp 2: Vận dụng kiến thức về thể loại vào việc đọc hiểu văn bản ngắn
Một trong những nét mới của chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữvăn hiện hành là sự nhấn mạnh đến việc hướng dẫn cho học sinh cách đọc vănbản theo các kiểu loại và phương thức biểu đạt
Mỗi loại văn bản có nội dung phản ánh, cách thể hiện riêng, phong cáchngôn ngữ riêng Vì vậy, khi hướng dẫn đọc hiểu một văn bản, việc đầu tiên làphải nhắc nhở học sinh chú ý đến đặc điểm của thể loại văn bản
a Đối với các văn bản thông tin: bao gồm văn bản “nhật dụng”, văn bảnthông tin- báo chí, văn bản thông tin- chính luận, văn bản thông tin-khoa học…
Học sinh cần lưu ý đặc điểm của từng loại văn bản :
- Văn bản thông tin – báo chí: nổi bật ở tính mới mẻ, chân thực của sựkiện ; thái độ tình cảm rõ ràng ; ngôn ngữ thường ngắn gọn, chính xác nhưngvẫn có sức truyền cảm…
- Văn bản thông tin – khoa học: có mục đích cung cấp thông tin khoahọc, thường sử dụng các thuật ngữ khoa học, diễn đạt rõ ràng, không dùng lốinói hàm ẩn, ít biểu lộ sắc thái cảm xúc
- Văn bản thông tin – chính luận: thường có lập luận, lí lẽ chặt chẽ…
Ở những văn bản loại này, tính thông tin được chú trọng nhiều hơn nên ít
có sử dụng các biện pháp tu từ, các lối nói sử dụng hàm ý bóng gió…
b Đối với văn bản văn học (văn bản nghệ thuật):
Do đặc điểm sử dụng phương thức phản ánh cuộc sống thông qua hìnhtượng nghệ thuật nên văn bản văn học hấp dẫn ở tính hình tượng cụ thể, sinhđộng; ngôn ngữ đa nghĩa, giàu cảm xúc, có sức gợi mở những liên tưởng phongphú