Trong bài làm văn nghị luận phần mở bài và kết bài chỉ chiếm một điểm số khá khiêm tốn nhưng nếu thiếu một trong hai phần này thì bài bài viết đó chưa thể xem là một bài văn, vì xét về h
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Ngữ văn THPT, các tác phẩm - đoạn trích chiếm dung lượng lớn và có một vị trí rất quan trọng Vì thế, trong đề thi, câu hỏi nghị luận văn học luôn chiếm một tỷ lệ cao: 50 % số điểm toàn bài Thực tế có rất nhiều dạng đề nghị luận văn học khác nhau, vì vậy để làm tốt câu nghị luận văn học trong đề thi, ngoài việc phải nắm rõ kiến thức trọng tâm, chúng ta cần phải có phương pháp, kĩ năng làm bài tốt thì bài viết mới hay và thuyết phục Để bài viết
có sức hấp dẫn, người viết không chỉ đảm bảo nội dung ba phần của văn bản mà mỗi phần cần tạo một ấn tượng riêng lưu lại trong tâm trí người đọc Trong bài làm văn nghị luận phần mở bài và kết bài chỉ chiếm một điểm số khá khiêm tốn nhưng nếu thiếu một trong hai phần này thì bài bài viết đó chưa thể xem là một bài văn, vì xét về hình thức nó chưa hoàn chỉnh và chưa đảm bảo được bố cục, yêu cầu của một bài văn; xét về vai trò mở bài và kết bài có một vị trí vô cùng quan trọng, nếu như phần mở bài có nhiệm vụ tạo ấn tượng thì phần kết bài lại
có nhiệm vụ tạo dư âm cho bài viết, nếu kết bài có sức nặng sẽ tạo nên những cảm xúc rất tốt cho người đọc
Hiện nay kĩ năng làm văn, đặc biệt là văn nghị luận của các em học sinh còn rất kém Nhiều học sinh cảm thấy rất “cứng tay” trước phần mở bài vì thế thường rất lúng túng và mất rất nhiều thời gian cho phần này và cũng có nhiều học sinh “buông tay” trước phần kết bài, chỉ viết dăm ba câu thỏa mãn điều kiện đảm bảo đầy đủ bố cục bài văn, dẫn đến bài văn nhạt nhòa, không lột tả được ý nghĩa của tác phẩm
Là một giáo viên dạy Văn, tôi luôn mong muốn học trò của mình làm được những bài văn hay, đạt điểm cao trong các bài kiểm tra và qua các kì thi Tuy nhiên đó không phải là một việc đơn giản, để giúp học sinh của mình khắc phục
thực trạng trên tôi đã mạnh dạn đề xuất : “Một số kinh nghiệm giúp học sinh rèn luyện kĩ năng viết phần mở bài trong bài văn nghị luận văn học” Đề tài
này của tôi đã được hội đồng khoa học chấm SKKN cấp tỉnh công nhận và xếp loại năm 2016 Cùng với đề tài này sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy và tích
lũy kinh nghiệm tôi mạnh dạn đề xuất tiếp đề tài “Một số kinh nghiệm giúp học sinh rèn luyện kĩ năng viết phần kết bài trong bài văn nghị luận văn học”, với
mong muốn góp thêm một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân giúp các em hoàn thiện kĩ năng làm văn
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của tôi khi nghiên cứu đề tài này là từng bước định hướng và giúp
các em có thể viết được phần kết bài đúng và tiến tới là hay thậm chí có thể làm
“đốn tim” giám khảo
Hơn nữa, qua đề tài này tôi mong rằng có thể góp phần nào đó trong việc khơi gợi, nuôi dưỡng niềm say mê hứng thú của học sinh với những tiết làm văn, tránh đi nỗi sợ hãi mà các em vẫn gọi là môn học “vừa khó, vừa khổ”
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài này nghiên cứu một số biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng viết phần kết bài trong bài văn nghị luận cho học sinh THPT, vì thế để thực hiện nghiên cứu đề tài tôi đã chọn đối tượng học sinh những lớp tôi được phân công giảng
Trang 2dạy trong suốt ba năm, đặc biệt là học sinh lớp 12 đang đứng trước ngưỡng cửa của kì thi Tốt nghiệp THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành đề tài sáng kiến này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp hướng dẫn thực hành, luyện viết là chủ yếu
- Phương pháp thực nghiệm đối chứng
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận.
Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận định:“Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài, như con gà ngon, ngon ở từng phao câu đầu cánh lắt lẻo khuỷu xương”.
Một bài văn hay cũng vậy, phải đảm bảo bố cục ba phần mở - thân - kết một cách rõ ràng Không thể chỉ chú trọng phần mở để tạo ấn tượng, phần thân để làm rõ yêu cầu mà còn phải lưu ý phần kết để tạo dư âm Nếu chỉ chú trọng phần
mở bài và thân bài mà xem nhẹ phần kết sẽ tạo nên hiện tượng “đầu voi,đuôi chuột” thậm chí gây cảm giác hụt hẫng nơi người đọc Chính vì vậy bên cạnh rèn luyện kĩ năng viết mở bài, kĩ năng tìm ý, lập ý và chuyển đoạn trong thân bài thì việc rèn luyện kĩ năng viết phần kết bài cho bài văn nghị luận là điều vô cùng cần thiết
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Thực trạng viết phần kết bài của học sinh khi làm văn nghị luận văn học.
Trong quá trình giảng dạy đặc biệt là những lần chấm bài kiểm tra của học sinh tôi nhận thấy khi viết phần kết bài học sinh thường mắc những lỗi sau:
2.2.1.1 Không có kết bài hoặc kết bài quá ngắn.
Trong nhiều bài văn học sinh thường không viết phần kết bài hoặc có phần kết bài nhưng quá ngắn gọn Do không đủ thời gian hoặc phần mở bài và thân bài viết quá nhiều dẫn tới phần kết bài cảm thấy không còn cảm xúc để viết
Ví dụ: Khi cảm nhận về nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, có
học sinh đã kết bài bằng một câu như sau:
Tóm lại, Mị là nhân vật tiêu biểu cho số phận và sức sống người dân miền núi Tây Bắc.
Kiểu kết bài sơ sài này sẽ không gây ấn tượng với người chấm và ảnh hưởng đến điểm số của cả bài văn, do vậy học sinh cần tránh mắc phải
2.2.1.2 Kết bài dài dòng, lan man.
Kết bài quá dài dòng và lan man cũng là một trong những lỗi sai học sinh thường mắc phải Đây cũng là điều khiến cho bài viết bị mất điểm một cách đáng tiếc do viết lạc đề hoặc ý viết bị trùng với ý ở phần thân bài
Ví dụ: Khi cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn
“Chữ người tử tù”(Nguyễn Tuân), có bạn đã kết bài như sau:
Trong tác phẩm, Huấn Cao là một con người tự trọng, sống hiên ngang bất khuất, không có một sức mạnh quyền thế, bạc vàng nào có thể khuất phục ông Hiện lên qua lời nhận xét của viên thơ lại và viên quản ngục là một người “chọc trời khuấy nước”, Huấn Cao đã dám đứng lên chống lại cái triều đình mục
Trang 3rỗng Bị gọi là giặc nhưng là vì nghĩa lớn, vì lý tưởng lớn nên điều đó có hề gì Đến khi bị bắt giam, sắp lên đoạn đầu đài vẫn coi thường: Đến cái chết cũng chẳng sợ nữa… Huấn Cao có những suy nghĩ, hành vi thật phóng khoáng ông vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong hứng bình sinh, dù đang bị cầm tù Như vậy, qua hình tượng nhân vật Huấn Cao, người đọc hiểu thêm được về sự tài hoa, uyên bác, hiểu được thế nào là cái đẹp và niềm đam mê cái đẹp Ngoài ra, nó còn là sự hy sinh cho cái đẹp và cái tâm thế luôn luôn bảo vệ cái đẹp Nhà văn đã sử dụng ngòi bút tả thực đầy kịch tính kết hợp với việc khắc họa tính cách nhân vật ngòi bút miêu tả phong cảnh hiện thực lẫn lãng mạn.Với bút pháp sắc sảo khi dựng người, dựng cảnh, với ngôn ngữ văn xuôi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt vời của Huấn Cao “Chữ người tử tù”xứng đáng là một áng văn chương một thời vang bóng và sẽ mãi vang bóng trong lòng bạn đọc.
Do đó, ở kết bài học sinh cần gói lại được vấn đề và gói làm sao cho gọn gàng, dễ hiểu nhưng vẫn đủ ý
2.2.1.3 Kết bài sai, không trúng.
Kết bài sai không trúng có thể hiểu là việc kết bài hoàn toàn lệch với vấn đề cần nghị luận được nêu ra ở mở bài hoặc thậm tệ hơn là sai kiến thức cơ bản
Ví dụ: Khi cảm nhận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu đã có bạn viết như
sau:
Qua toàn bộ thi phẩm,Xuân Diệu như thể hiện niềm khao khát tận hưởng đến mãnh liệt Ông sợ chết, sợ mọi thứ tàn phai theo thời gian bởi vậy “Vội vàng” như lời nhắn nhủ của thi nhân đến hậu thế: hãy yêu cuộc sống khi còn có thể, đừng bỏ lỡ thời gian của tuổi trẻ để làm những việc không đâu thay vào đó hãy làm những việc có ích cho xã hội đang ngày một nhiều tệ nạn
Sai kiến thức là điều không thể chấp nhận bởi khi có một kết bài hay chúng
ta phải có một kết bài đúng
2.2.2 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế khi viết phần kết bài.
Những hạn chế của học sinh khi viết kết bài cho bài văn nghị luận văn học xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau:
2.2.2.1 Nguyên nhân khách quan.
Thứ nhất: Trong phân phối chương trình nhà trường bài học “Rèn luyện kĩ năng mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận” được bố trí học tận cuối chương trình kì II của lớp 12 và có thời lượng 1 tiết trong chương trình cũ, sau khi giảm tải đã tăng lên thành 2 tiết cho cả 2 phần mở bài và kết bài Trong thời lượng 45 phút eo hẹp ấy, giáo viên còn phải cung cấp kiến thức lí thuyết, vì vậy để giúp các em có kĩ năng viết được phần kết bài nói riêng và bài văn hoàn chỉnh nói chung là rất khó Hơn nữa ngay từ lớp 10 thậm chí là từ bậc THCS các em đã phải làm rất nhiều bài văn nghị luận nhưng kĩ năng làm các bài này thì đến lớp
12 mới được học một cách bài bản
Thứ hai: Trong xu thế thi cử ngày nay phần lớn các môn đều tổ chức làm bài theo hình thức trắc nghiệm, chỉ còn lại mình môn Ngữ văn vẫn làm bài theo hình thức tự luận với thời lượng dài, điều đó dẫn đến tình trạng học sinh vốn đã ngại học văn giờ lại càng chán học văn hơn, làm bài qua loa dẫn đến kết quả chưa cao
Trang 42.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan.
Trường THPT Hà Văn Mao (Bá Thước) - nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy, là khu vực miền núi nên phần lớn học sinh trong trường là người dân tộc thiểu số, các em còn hạn chế trong cách suy nghĩ và diễn đạt Đôi khi các em hiểu vấn đề nhưng do vốn từ vựng hạn chế nên không thể hiện hết được cảm nhận của mình Trong khi đó, để chiếm lĩnh một tác phẩm văn học với đầy đủ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật lại đòi hỏi học sinh phải có năng lực tư duy và tích hợp nhiều vốn kiến thức cũng như khả nhăng diễn đạt và trình bày văn bản Một bộ phận học sinh có khả năng về tư duy và ngôn ngữ lại có xu hướng học và thi các môn học tự nhiên nên các em không đầu tư nhiều vào môn Ngữ văn, những học sinh yêu thích các môn xã hội thì lại gặp khó khăn trong việc chọn trường Đại học vì ngành nghề thuộc các khối xã hội không nhiều, những trường đào tạo chất lượng cao(CLC) thì điểm đầu vào thực sự gây sốc, rất khó để các em có thể đạt được nguyện vọng (Ví dụ Trường ĐH Hồng Đức - Thanh Hóa năm 2021 tuyển sinh với điểm đầu vào cao ngút ở 2 ngành sư phạm: Sư phạm Lịch sử CLC: 29.75,
Sư phạm Ngữ Văn CLC: 30.5) Một bộ phận lớn học sinh còn lại có xu hướng chỉ dừng lại ở thi TNTHPT và học nghề nên không đầu tư nhiều vào việc học, đặc biệt là việc học Văn – môn học được xem là tốn khá nhiều thời gian và công sức
Vì những lẽ trên cho nên vừa để các em thích học Văn, vừa để các em thi cử đạt kết quả cao quả là điều rất khó khăn đối với bản thân tôi nói riêng và tổ Ngữ văn chúng tôi nói chung Bản thân là giáo viên giảng dạy, tôi luôn băn khoăn, trăn trở là làm sao học sinh của mình luôn yêu thích môn Ngữ văn, làm sao để chất lượng học tập môn Ngữ văn của trường mình được cải thiện hơn và điều quan trọng là làm sao các em biết tự bộc lộ mình, nói lên được những suy nghĩ trước tập thể và thể hiện được những kĩ năng cảm nhận thế giới xung quanh trong những trang viết của mình Xuất phát từ thực trạng học tập môn Ngữ văn hiện nay, từ thực tế giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp trường THPT Hà Văn Mao tôi mong rằng đề tài này phần nào sẽ cải thiện được chất lượng làm bài của học sinh
2.3 Các giải pháp thực hiện.
Từ thực tế trên, tôi mạnh dạn chia sẻ một số giải pháp giúp HS rèn luyện kĩ
năng viết được phần kết bài trong bài văn nghị luận văn học như sau:
2.3.1 Cung cấp kiến thức lí thuyết về đoạn văn kết bài trong bài văn nghị luận văn học.
2.3.1.1 Khái niệm về đoạn văn kết bài.
- Vị trí: Kết bài là phần cuối của bài viết, có tính chất hô ứng với phần trên nhưng không phải là một vế đối cứng nhắc
- Nhiệm vụ: Theo Giáo sư Trần Đình Sử:“Một kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài, chỉ nêu những ý khái quát có tính tổng kết, đánh giá Không lan man hay lặp lại cụ thể những gì đã trình bày ở thân bài hay lặp nguyên văn lời lẽ mở bài”.
Như vậy kết bài có nhiệm vụ nhằm tổng kết thâu tóm lại vấn đề đã được đặt
ra ở mở bài và phát triển ở thân bài
2.3.1.2 Yêu cầu của phần kết bài.
Trang 5- Kết bài thường có 2 phần: Khẳng định, đánh giá lại vấn đề nghị luận và liên
hệ mở rộng
+ Phần khẳng định lại vấn đề nhằm thâu tóm lại nội dung vấn đề đã trình bày trong phần thân bài một cách khái quát và ngắn gọn
+Phần liên hệ mở rộng nhằm tạo những dư ba trong lòng người đọc, là lời đã hết nhưng ý vẫn không hết,vẫn khiến người đọc trăn trở,day dứt
- Dung lượng tương xứng với mở bài, không để tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”
2.3.1.3 Điều kiện để có một kết bài hay
Một kết bài hay cần phải đảm bảo những điều kiện sau:
- Ngắn gọn
- Đầy đủ các ý cần khép lại
- Độc đáo: Khắc sâu vào tâm trí người đọc, câu kết đặc biệt là những chữ cuối cùng nên có thanh điệu trầm nhẹ để tạo sự lắng đọng
2.3.1.4 Các cách kết bài.
Hiện nay có rất nhiều cách phân chia kết bài khác nhau nhưng nhìn chung chúng ta thường gặp 2 kiểu kết bài sau đây:
Kết khép: Là kiểu kết bài theo lối truyền thống,ở đó người viết tóm tắt quan
điểm, tổng hợp những ý chính đã nêu ở thân bài Ưu điểm của cách kết bài này dễ viết, phù hợp với nhiều đối tượng HS, cũng là cách kết bài “an toàn” và thường được sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên kết bài này thường làm cho đoạn kết thúc bài viết của mình bị nhạt nhòa, không ghi điểm
Kết mở: Là kiểu kết bài trên cơ sở quan điểm chính của bài viết, bằng liên
tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở rộng nâng cao vấn đề Cách kết bài này đòi hỏi học sinh phải đưa được những nhận định hoặc kiến thức lí luận vào trong phần kết bài Dạng này chốt, khắc sâu vấn đề cần nghị luận, khẳng định tài năng, nghệ thuật độc đáo của tác giả và bài học nâng cao quan điểm Ưu điểm của cách kết bài này là hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, để lại dư vị khó phai Tuy nhiên kết bài này thường khó viết, tốn nhiều thời gian vì chỉ những học sinh khá, giỏi mới viết được, thậm chí nó cũng khá “mạo hiểm” vì nếu viết “non tay”
sẽ dẫn đến lan man, xa đề
2.3.2 Rèn luyện một số kĩ năng viết phần kết bài.
2.3.2.1 Kĩ năng nhận diện đoạn văn kết bài.
Trong các đoạn văn sau, đoạn nào là đoạn văn kết bài? Vì sao?
Đoạn 1:
Mọi vật đều sợ thời gian, bởi lớp bụi thời gian sẽ phủ mờ đi tất cả Nhưng bản thân bụi thời gian lại sợ các vĩ nhân bởi sự tồn tại của vĩ nhân là trường cửu Quỹ thời gian càng phủ dày lên bao nhiêu lại càng tôn lên cao hơn, rực rỡ hơn, rõ nét hơn những phẩm chất, cốt cách của con người bất hủ Đến với bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh ta bắt gặp cùng cảm xúc ấy.
Đoạn 2:
Khi tác phẩm “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan và “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố ra đời thì ít ai có thể nghĩ rằng còn có nỗi khổ nào khổ hơn nỗi khổ của chị Dậu, anh Pha Nhưng khi Chí Phèo ngật ngưởng trong cơn say bước ra từ trang sách của Nam Cao, người đọc liền nhận ra rằng đây mới là
Trang 6hiện thân đầy đủ nhất cho những gì gọi là thống khổ của người nông dân Việt Nam trước cách mạng Chị Dậu bán chó, bán con nhưng chị vẫn được là người, Chí Phèo phải bán cả linh hồn và thể xác cho quỷ dữ
Đoạn 3:
Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã làm nổi bật lên hình ảnh nhân vật Liên với những nét đẹp tâm hồn đáng quý Dù sống trong nơi bùn lầy, nước đọng, sống trong khốn khó và mưu sinh nhưng bóng tối và sự nghèo khổ của phố huyện không làm giảm đi sự mơ mộng, lãng mạn, nhạy cảm của một cô gái mới lớn cũng như lòng thương người và khát khao về một tương lai tươi sáng
Trong ba đoạn văn trên chỉ có đoạn văn thứ ba là đoạn văn kết bài vì nó làm nhiệm vụ kết thúc vấn đề, đáp ứng đúng yêu cầu của một đoạn văn kết bài
2.3.2.2 Kĩ năng đánh giá đoạn văn kết bài.
Ví dụ: Suy nghĩ của anh/chị về nhân vật ông lái đò trong tùy bút “Người
lái đò sông Đà”(Nguyễn Tuân)?
Kết bài 1:
Thiên tùy bút“Người lái đò sông Đà”đã thể hiện rõ sự tài hoa, uyên bác trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân Đó chính là sự phong phú, tinh tế trong cách biểu hiện thiên nhiên, con người để khắc họa rõ nét cái kì vĩ, phi thường của công cuộc chinh phục thiên nhiên Tác phẩm hấp dẫn ở nhịp văn giàu nhạc điệu, đầy lôi cuốn; cách dùng từ phong phú, sinh động đầy bất ngờ Đặc biệt hình tượng người lái đò đã để lại những ấn tượng thật sâu sắc.
Kết bài 2:
Hình tượng người lái đò sông Đà như đã đề cập, mang vẻ đẹp vừa mạnh mẽ, vừa kĩ vĩ, vừa bay bổng, phóng túng Sự sáng tạo, dũng cảm và tài hoa của người lái đò trong cuộc đối mặt với thử thách trên sông nước là biểu tượng cho những phẩm chất đáng trân trọng nhất của người lao động - đồng thời là người nghệ sĩ - theo cảm quan đặc biệt của Nguyễn Tuân Từ tay lái "nở hoa" trên thác ghềnh một lần nữa, Nguyễn Tuân lại khẳng định rõ bản lĩnh và quan niệm nghệ thuật của mình
Với hai cách kết bài trên cho cùng một vấn đề ta dễ dàng nhận ra cách kết bài thứ hai là đúng và phù hợp hơn vì nó đánh giá khái quát về ý nghĩa hình tượng nhân vật ông lái đò, đồng thời gợi suy nghĩ, liên tưởng sâu sắc cho người đọc Nó còn cho thấy đoạn văn có sự liên kết chặt chẽ với các đoạn văn trước
và có dấu hiệu kết thúc vấn đề nghị luận
2.3.2.3 Kĩ năng đoán định luận đề được triển khai trong kết bài.
- Xác định vấn đề được triển khai trong các đoạn văn kết bài sau
Kết bài 1:
Vì những lẽ trên,chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy
Kết bài 2:
“Hai đứa trẻ”đã thực hiện được điều này Hơn thế nữa, dấu ấn của phố huyện ấy luôn khảm trong trong ta bằng quyền năng kì lạ Bây giờ và mãi mãi sau này,
Trang 7mỗi khi đứng trước một phố huyện nào thì câu chuyện của Thạch Lam dễ sống lại trong ta, bằng ánh sáng đẹp, kì diệu
- Luận đề được triển khai trong các các kết bài trên:
Kết bài 1: Khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do ấy
Kết bài 2: Là đoạn văn kết cho đề phân tích bức tranh phố huyện nghèo trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam
2.3.2.4 Kĩ năng chữa lỗi để hoàn chỉnh đoạn kết bài
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử?
- Với đề bài trên có học sinh đã kết bài như sau:
Hàn Mặc Tử đã phải từ biệt cuộc đời khi tài năng thơ ông đang vào độ chín.Ông ra đi nhưng tài năng của ông còn lại đó.Thời gian không thể làm phai
mờ hình ảnh ông.
Yêu cầu học sinh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ phần kết bài hướng học sinh nhận ra rằng: kết bài này chưa hoàn chỉnh, chưa cho người đọc biết được người viết đang kết thúc cho vấn đề gì
Trên cơ sở bài làm của học sinh các em cần bổ sung và chữa lại như sau:
Hàn Mặc Tử đã phải từ biệt cuộc đời khi tài năng thơ ông đang vào độ chín Ông ra đi nhưng tài năng của ông còn lại đó.Thời gian không thể làm phai
mờ mà trái lại chính là chất xúc tác để thơ ông sáng chói hơn.“Đây thôn Vĩ Dạ” mãi là một bài thơ bất hủ của một hồn thơ trong sáng, trinh bạch, thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống, khát khao tình đời và tình người
- Cũng với đề bài trên có học sinh lại kết như sau:
“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ hay của Hàn Mặc Tử Bài thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ, kết thúc cũng là một câu hỏi tu từ Câu hỏi tu từ kết lại bài thơ như đặt ra niềm băn khoăn cho chúng ta và thực sự mỗi chúng ta tự hỏi có nên băn khoăn?
Yêu cầu học sinh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ phần kết bài hướng cho học sinh nhận ra rằng: kết bài trên tuy đã kết lại vấn đề nhưng diễn đạt lủng củng, vòng vo, trùng lặp
Trên cơ sở bài làm của học sinh nên bổ sung và chữa lại như sau:
Có điều này rất lạ: bài thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ, kết thúc cũng là một câu hỏi tu từ Câu hỏi tuy kết thúc bài thơ nhưng lại mở ra bao nỗi niềm băn khoăn, suy ngẫm trong lòng người đọc.“Đây thôn Vĩ Dạ”quả là một bài thơ hay
và để lại thật nhiều dư vị Bài thơ chính là nỗi khát khao về tình yêu,cũng là khát khao về tình đời, tình người”.
Tất nhiên ngoài cách sửa kết bài trên còn rất nhiều cách sửa khác nữa Tuy nhiên, người viết chỉ chọn một cách sửa đơn giản nhất trên cở sở tôn trọng bài làm của học sinh
2.3.2.5 Hướng dẫn học sinh viết phần kết bài.
Có rất nhiều cách để kết bài, nhưng dựa vào điều kiện thực tế lực học của
học sinh và nhằm giúp các em viết được phần kết bài dễ dàng hơn tôi đã phân loại học sinh theo học lực và lựa chọn hướng dẫn học sinh viết bài theo 2 cách sau:
*Cách viết kết bài khép.(Thường dùng cho học sinh có học lực trung bình,yếu)
Trang 8Đây là cách kết bài theo lối truyền thống nhằm tổng kết, đánh giá lại những
vấn đề đã giới thiệu ở phần mở bài và trình bày ở phần thân bài
- Ngôn ngữ thường dùng: Tóm lại, Có thể nói, Bằng tài năng nghệ thuật, Qua tác phẩm A nhà văn B đã…
- Cách viết:
Cách 1: Khái quát lại nội dung và nghệ thuật.
Ví dụ: Cảm nhận về vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
………
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Ta có kết bài sau:
Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình Vì thế từ “Tây Tiến, từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi
ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
Cách 2: Cần hệ thống lại xem phần thân bài có bao nhiêu luận điểm chính sau đó gom những luận điểm đó lại và nêu đánh giá, nhận xét về tác phẩm.
Ví dụ 1: Cảm nhận bài thơ “Tây Tiến” của tác giả Quang Dũng.
Có thể tóm lược các luận điểm bài thơ như sau:
- Nỗi nhớ về con đường hành quân gian khổ
- Nhớ đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân
- Nhớ đoàn binh Tây Tiến lãng mạn hào hoa
Từ việc gom lại các luận điểm và kết hợp với kiến thức về phong cách tác giả, ta có thể kết bài như sau:
Bằng tài năng nghệ thuật của một hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa Quang Dũng đã mang đến cho bạn đọc vẻ đẹp của bài thơ “Tây Tiến” Đó
là nỗi nhớ về con đường hành quân gian khổ nhưng hùng vĩ, thơ mộng, nhớ cảnh sinh hoạt quân dân ấm áp tình người Và nhất là hình tượng người chiến binh Tây Tiến lãng mạn, hào hoa, hào hùng Bài thơ khép lại rồi mà dường như tinh thần Tây Tiến vẫn ngân nga mãi trong lòng ta.
Ví dụ 2: Cảm nhận bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.
Qua cách cảm nhận các cung bậc sắc thái tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu được thể hiện qua các khổ thơ ta có thể kết bài như sau:
Với hình tượng “sóng” giàu sức biểu cảm và trên cơ sở khám phá sự tương đồng “sóng” và “em”, Xuân Quỳnh đã diễn tả một cách chân thực và đầy đủ nhất tình yêu của một người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách, bão giông của cuộc đời và sự hữu hạn của đời người để sống trọn vẹn trong tình yêu Tình yêu ấy vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa có những nét hiện đại Bài thơ “Sóng” đã trở thành một tuyệt phẩm vô cùng hay của tác
Trang 9giả về đề tài tình yêu Nó trở thành dấu ấn riêng khó phai khi nhớ về thơ của Xuân Quỳnh.
*Cách viết kết bài bằng kiến thức lí luận văn học.(chủ yếu dành cho học sinh
khá - giỏi)
Đây là một trong những cách kết bài rất được lòng giám khảo và người đọc bởi
qua lối kết bài này người viết phần nào “khoe” nhẹ vốn kiến thức sâu rộng của mình Tuy nhiên để viết được kết bài này đòi hỏi người viết phải biết áp dụng kiến thức lí luận một cách có hiểu biết
Cách 1: Lấy một nhận xét, một nhận định về chính tác giả, tác phẩm đó
Trình tự viết: Khái quát lại vấn đề cần nghị luận sau đó khéo léo dẫn dắt nhận định làm điểm nhấn tạo dư âm
Ví dụ: Kết bài cho“Tây Tiến”:
Kết bài 1:
Bằng cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng, đoạn thơ đã bộc lộ nỗi nhớ
da diết về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, về những người lính Tây Tiến giàu ý chí, vững niềm tin, nghị lực phi thường, sẵn sàng hi sinh vì sự nghiệp cách mạng Nửa thế kỉ trôi qua, nhiều sự việc phôi pha cùng năm tháng, nhưng bài thơ Tây Tiến vẫn còn đó,“sừng sững như một tượng đài bất tử về người chiến sĩ vô danh trong cuộc kháng chiến chống pháp”(Vũ Thu Hương).
Kết bài 2:
Với bút pháp lãng mạn và âm hưởng bi tráng, đoạn thơ ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lính Tây Tiến, qua đó bộc lộ cảm xúc xót xa, ngưỡng mộ,tự hào của tác giả về những người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Khói lửa chiến tranh đã qua đi, lịch sử dân tộc cũng đã bước sang trang mới, nhiều người thuộc đoàn quân Tây Tiến năm xưa giờ đây đã trở thành thiên cổ, trong đó có cả nhà thơ Quang Dũng hào hoa thế nhưng bài thơ ấy và những con người ấy sẽ mãi mãi sống trong lòng người đọc:
“Tây Tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy, con người ấy
Vẫn sống muôn đời với núi sông”
( Giang Nam)
Ví dụ: Kết bài cho“Người lái đò sông Đà”:
Hình tượng người lái đò sông Đà được xây dựng rất thành công qua ngòi bút độc đáo và sáng tạo của Nguyễn Tuân Trong hơi thở văn chương ấy, nhà văn đã khẳng định được tài năng và sức mạnh cường đại của con người, cuộc chiến không cân sức giữa con người laođộng và thiên nhiên kỳ bí vốn có nhiều cam go, vất vả Nhưng bằng sự thông minh, sáng tạo, đức tính kiên cường, tỉ mỉ vốn ăn sâu vào máu của những người lao động, họ đã chiến thắng một cách huy hoàng, vẻ vang nhất, trở thành người nghệ sĩ tài ba trên chính mặt trận tìm kế sinh nhai của mình.Qua nhân vật người lái đò Nguyễn tuân như muốn nghiền ngẫm một triết lí: “giữa cái thế giới của độc dữ và nham hiểm ,cái thế giới đầy sức mạnh man dại và lập lờ cạm bẫy, con người vẫn đủ khả năng tìm thấy luồng sinh”(Đỗ Kim Hồi)
Trang 10Cách 2: Lấy một nhận định gần hoặc tương đối gần với vấn đề cần nghị luận.
Với cách kết bài này học sinh cần vận dụng kiến thức về lí luận văn học như: Chức năng của văn học, đặc trưng thể loại, phong cách nhà văn, tiếp nhận văn học…
Ví dụ 1: Kết bài cho “Vợ nhặt”
Kết bài 1
Trên phông nền u ám của nạn đói, của cái chết, tiếng quạ kêu thê thiết với mùi đống dấm khét lẹt, Kim Lân vẫn pha vào đó một chút màu sắc ấm áp của hạnh phúc lứa đôi, lóe lên hy vọng về một ngày mai tươi sáng, về sự thay đổi vận hội Thông qua tình huống dở khóc dở cười vô cùng trớ trêu đó, tác giả ngầm khẳng định một chân lí:“Sự sống nảy sinh từ trong lòng cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong gian khổ hy sinh Ở đời này không có con đường cùng
mà đây chỉ là những ranh giới Điều cốt yếu là con người phải chuẩn bị cho mình một sức mạnh để có thể vượt qua những ranh giới ấy”(Nguyễn Khải).
Kết bài 2
“Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôxtôiepxki).“Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân đã thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
Ví dụ 2: Kết bài cho “Vợ chồng A Phủ.”
Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết
để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường Những con người
cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” Đọc Vợ chồng A Phủ ta mới thấy thấm thía cái chân lí ấy của nhà văn Vâng! Nếu như không có tấm lòng nhân đạo bao la, cao cả của nhà văn, không có kẻ nâng giấc, không kẻ bênh vực thì liệu rồi A Phủ và Mị có thể bước ra ánh sáng để đến với chân trời tự do.
Cách 3: Lấy lời tâm sự của tác giả khi nói về những“đứa con tinh thần”của mình.
Ví dụ 1: Kết bài cho“Việt Băc.”
Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Tố Hữu tâm sự rằng: “Mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình Nói về đất nước, nói
về nhân dân như nói về người mình yêu” Phải chăng, tâm sự đó là những lời
mà Tố Hữu nói về Việt Bắc, nói về những vần thơ chan chứa tình quân dân gắn
bó, tình yêu nước thiết tha Những tình cảm thiêng liêng ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đọc.
Ví dụ 2: Kết bài cho “ Vợ chồng A Phủ”
Khi nói về tập “Truyện Tây Bắc”nhà văn Tô Hoài từng chia sẻ:“Đất nước
và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, không thể bao giờ quên khi vợ chồng A Phủ tiễn tôi dưới chân núi Tà Sua rồi vẫy theo “Chéo