1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

182 249 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Và Tổ Chức Dạy Học Nội Dung “Giới Thiệu Các Lĩnh Vực Nghiên Cứu Trong Vật Lý Học” Theo Hướng Bồi Dưỡng Năng Lực Tự Học Của Học Sinh
Tác giả Vừ Thị Kim Ngọc
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Chất
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Lý luận và PPDH Bộ môn Vật lý
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 14,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VÕ THỊ KIM NGỌC THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG “GIỚI THIỆU CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU TRONG VẬT LÝ HỌC” THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH L

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VÕ THỊ KIM NGỌC

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG

“GIỚI THIỆU CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

TRONG VẬT LÝ HỌC” THEO HƯỚNG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN VẬT LÍ

Đà Nẵng – Năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VÕ THỊ KIM NGỌC

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG

“GIỚI THIỆU CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

TRONG VẬT LÝ HỌC” THEO HƯỚNG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Họ tên tác giả

Võ Thị Kim Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người và các đơn vị cơ quan Trước tiên, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý thầy cô giáo khoa Vật

lí trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Ngọc Chất - người

đã tận tình hướng dẫn cho tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và động viên tác giả hoàn thành luận văn này

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 1 năm 2019

Họ tên tác giả

Võ Thị Kim Ngọc

Trang 5

I-TEN DE TAI: THIET KE VA TO CHUC D�Y HQC N<)I DUNG "GIOI THI)J:U cAc LiNH Vl/C NGHIEN cuu TRONG V � T Li HQC THEO HUONG

BOI DUONG NANG Ll/C Tl/ HQC CUA HQC SINH

Nganh: Ly lu�n va PPDH B9 mon V�t li

HQ ten h9c vien: Vo Thi Kim Ng9c Nguai huong dfui khoa h9c: TS Trfui Ng9c Chfrt

Ca so dao t�o: Tmang D� h9c Su Phi;un - D� h9c Da Nililg

Nhfrng kit qua chinh cua luin van

- Lu� van da phan tich, nghien cuu va lam ro cac ca so ly lu�n ctia b6i duong NL TH cho HS trong DHVL nhu: khai ni�m ve nang Ive, cfru true va bi€u hi�n hanh vi ctia NL TH Khao sat thvc tr�g dua ra m9t s6 bi�n phap b6i duong NL TH ctia h9c sinh trong DHVL va xay dlJllg bang Rubric De xufrt duqc quy trinh t6 chuc d�y h9c theo hu6'ng b6i du5'ng NL TH bing cac phuang phap di,iy h9c hi�n d�i

- Lu� van da thiit ki tai li�u h9c �P "Gi6'i thi�u cac linh vvc nghien cuu trong v�t Ii h9c" dµa tren nhfrng yeu d.u, chruln ID\lC tieu ctia chuang trinh GDPT m6'i hi�n hanh Dua ra quy trinh t6 chuc di,iy h9c kiin thuc trong tai li�u theo dung cac bu6'c trong quy trinh da de xufrt va m9t s6 phiiu h9c �p Tiin hanh thvc nghi�m su phi,im va thu th�p, phan tich, xu li s6 li�u d€ c6 duqc kit qua

Kit qua TNSP cho thfry gia thuyit khoa h9c ma de tai dua ra ban d�u la dung diln, bu6'c d�u khing dinh qua vi�c tim hi€u tai li�u tµ h9c "Gi6'i thi�u cac linh VlJC nghien cuu trong v�t Ii h9c" bkg cac PPDH hi�n d�i thi se g6p phfui b6i du5'ng NL TH cho HS, nang cao hi�u qua DHVL

Y nghia kboa hQc va th\l'c ti�n cua luin van

- G6p phfui lam phong phu them ca so li l�n ve vi�c tim hi€u tai li�u "Gi6'i thi�u cac linh VIJC nghien cuu trong v�t li h9c" theo huong b6i duong NL TH cho h9c sinh Kit qua nghien cuu ctia de tai hoan toan c6 th€ v� d\lng d€ DHVL cac chti de huong nghi�p cho chuang trinh GDPT m6'i o cac truang THPT hi�n nay va la tai li�u tham khao hfru ich cho cac GV trong di,iy h9c mon V�t li o cac truang

Hu6ng nghien CU'U tiip theo cua di tai

- Mo r9ng phi,im vi nghien cuu cho cac linh vvc con l�i ctia v�t li h9c, cac phfui khac trong chuang trinh v�t ly THPT, cung nhu cac mon h9c khac Nghien cuu, 16ng ghep nhieu nang l\fC khac vao dS phat tri€n d6ng thai cho HS trong di,iy h9c v�t ly n6i rieng va trong di,iy h9c n6i chung

Tu kh6a: Nang lµc tµ h9c ;- d�y h9c hi�n di,ii,v�t li thien � van, linh VlJC nghien � cuu -

-Xac nhin cua giao vien hmrng din

TS Tran Ng(}c Chat

Vo Thi Kim N g(}C

Trang 6

"INTRODUCING RESEARCH AREAS IN PHYSICS" TOWARDS FOSTERING

STUDENTS' SELF-STUDY ABILITIES

Major: Reasoning and methods of teaching physics Full name of Master student: Vo Thi Kim Ngoc Supervisors: PhD Tran Ngoc Chat

Training institution: The University ofDa Nang - University of Science and Education

The main results of the thesis

-The the thesthies have analyzed, studied and clarified the theeic basis of self-study capacity training for students in teaching such as: the concept of capacity, structure and behavior expression of self-study capacity The reality survey offered a number of measures to foster students' self-study abilities

in teaching and building rubric boards Proposed teaching process towards self-study by modem teaching methods

-The theory has designed the learning material "Introduction to research fields in physics" based on the requirements and objective standards of the current new general education program Set out the process of organizing knowledge teaching in the document in accordance with the steps in the proposed process and some study vouchers Conduct pedagogical experiments and collect, analyze and process data

to get results

-The results of pedagogical experiments show that the scientific hypothesis that the topic initially proposed is correct, initially affirmed by learning the self-study material "Introducing the fields of research in physics" by modem teaching methods will contribute to fostering self-study capacity for students., improve the effectiveness of physical teaching

Scientific and practical significance of the thesis

- Contributing to enriching the rationale for learning the material "Introduction to research areas in physics" towards fostering self-study capacity for students The research results of the topic can be applied to teach career orientation topics for the new general education program in high schools today and

is a useful reference for teachers in teaching Physics in schools

The development direction of the dissertations

- Expand the scope of research for the remaining areas of physics, other parts of the high school

> - - - physics - program, - as - well - as other - subjects - Research, - integrate - many - other - abilities - to - develop - 11 - - - �

simultaneously for students in physical teaching in particular and in teaching in general

Keywords: Ability to self-study, modem teaching, a astronomical physics, field of study

Trang 7

Mục lục

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT ĐỀ TÀI iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Dự kiến kết quả đạt được 6

9 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG “GIỚI THIỆU CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU TRONG VẬT LÍ HỌC” THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 7

1.1 Giới thiệu chương trình giáo dục phổ thông mới 7

1.1.1 Sơ lược về chương trình GDPT mới 7

1.1.2 Giới thiệu chương trình GDPT mới môn Vật lí 9

1.1.3 Nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” – trong chuyên đề 10.1 “Vật lí trong một số ngành nghề”, trong chương trình GDPT mới 14

1.2 Tổng quan về Vật lí học 16

1.2.1 Vật lí học là gì? 16

1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của VLH 16

1.2.3 Khái quát các lĩnh vực nghiên cứu của VLH 17

1.3 Năng lực tự học 18

1.3.1 Khái niệm 18

1.3.2 Cấu trúc và biểu hiện hành vi của năng lực tự học 20

1.4 Một số phương pháp, hình thức tổ chức, kỹ thuật dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí ở trường THPT 25

1.4.1 Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học vât lí ở trường THPT 25

Trang 8

1.4.2 Lớp học đảo ngược 31

1.5 Thực trạng dạy học tự học về các kiến thức liên quan đến nội dung thiên văn học ở THPT hiện nay 34

1.5.1 Mục đích điều tra 34

1.5.2 Phương pháp điều tra 34

1.5.3 Phiếu điều tra 34

1.5.4 Kết quả điều tra 34

Kết luận chương 1 38

Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG “GIỚI THIỆU CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU TRONG VẬT LÍ HỌC” THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 39

2.1 Đặc điểm, cấu trúc của nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” trong chuyên đề 10.1 Vật lí trong một số ngành nghề 39

2.1.1 Tầm quan trọng của nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” trong chuyên đề 10.1 Vật lí trong một số ngành nghề 39

2.1.2 Cấu trúc của nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” 40

2.1.3 Các yêu cầu cơ bản học sinh cần đạt được khi học nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” 41

2.2 Tài liệu “Giới thiệu về các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực tự học cho học sinh 41

2.2.1 Chủ đề 1: Giới thiệu lĩnh vực nghiên cứu Vật lí thiên văn 42

2.3 Thiết kế các hoạt động học tập về nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” nhằm giúp học sinh bộc lộ các năng lực tự học 43

2.3.1 Các bước thiết kế tiến trình dạy học nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” nhằm giúp học sinh bộc lộ các năng lực tự học 43

2.3.2 Thiết kế tiến trình dạy học từng bài cụ thể trong chủ đề “Giới thiệu lĩnh vực Vật lí thiên văn” của nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” 46

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 53

3.1 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 53

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 53

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 53

3.1.3 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 53

3.2 Phương pháp thực nghiệm 54

3.2.1 Chọn mẫu thực nghiệm 54

3.2.2 Tiến trình thực nghiệm 54

3.3 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 54

3.3.1 Phân tích và đánh giá kết quả định tính 54

Trang 9

3.3.2 Phân tích và đánh giá định lượng 55

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC PL1

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu

1.1 Những điểm khác biệt của chương trình GDPT hiện hành và

1.2 Biểu hiện cụ thể của năng lực vật lí 11 1.3 Yêu cầu cần đạt của các nội dung trong chuyên đề 10.1 “Vật

lí trong một số ngành nghề 15 1.4 Bảng tóm tắt những ngành chính và lĩnh vực nghiên cứu

1.5 Cấu trúc của năng lực tự học (NLTH) 23 1.6 Bảng tổng hợp những việc học sinh làm trong thời gian rãnh 35 1.7 Bảng tổng hợp lượng thời gian học sinh dành cho việc tự học 35 1.8 Bảng tổng hợp đánh giá một số tiêu chí của năng lực tự học 36 2.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của nội dung “Giới thiệu các lĩnh

vực nghiên cứu trong vật lí học” 41 3.1 Đánh giá định tính nhóm TN và ĐC 54 3.2 Đánh giá năng lực tự học của 10 HS qua tiết học 1 56 3.3 Tổng hợp số HS đạt các mức tính theo số lượng và tính theo

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Số hiệu hình

1.1 Sơ đồ biểu hiện của năng lực tự học 211.2 Sơ đồ biểu hiện của người có năng lực tự học 222.1

Sơ đồ cấu trúc nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên

3.1 Biểu đồ đánh giá năng lực tự học ở tiết học 1 563.2 Biểu đồ đánh giá năng lực tự học ở tiết học 2 58

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ ra

rằng “phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công

nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa và hội nhập quốc tế”

Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và

xã hội Đổi mới giáo dục đã và đang trở thành nhu cầu thiết yếu và là xu thế mang tính toàn cầu Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, mục tiêu giáo dục trong những năm gần đây đã và đang dần dần thay đổi, đó là chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang mục tiêu hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh đặc biệt là năng lực tự chủ, năng lực hành động và năng lực thực tiễn Bên cạnh đó, phương pháp giáo dục cũng được đổi mới hoàn toàn theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành lòng say mê học tập, ý chí vươn lên

Thấy rõ được tầm quan trong của việc phát triển năng lực học sinh; đặc biệt là năng lực tự học của học sinh Chính vì điều đó, mà giáo dục nước ta đang chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang giáo dục tiếp cận năng lực của người học, tức là từ chỗ quan tâm học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì thông qua việc học Nói một cách dễ hiểu là giáo dục giúp học sinh chiếm lĩnh được cả kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận dụng được vào trong thực tiễn cuộc sống, chứ không hẳn đơn thuần là chỉ nắm bắt được lý thuyết suôn

Việc phát triển năng lực cho người học đặc biệt là năng lực tự học là vô cùng cần thiết Nhưng đối với hiện trạng giáo dục như ngày nay, thì vẫn còn lối dạy học cũ là quan trọng việc nhồi nhét kiến thức, truyền thụ, dạy chay chưa thực sự chú trọng đến năng lực tự học cho người học Môn Vật lí là một trong những môn khoa học thực nghiệm vì vậy có nhiều điều kiện để phát huy khả năng tự học của học sinh Để đạt được kết quả đó, giáo viên phải biết kết hợp các hình thức tổ chức, các phương pháp dạy học với các phương tiện dạy học một cách hợp lý

Theo như chúng tôi được biết, trong chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm

2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã phân biệt rõ 2 giai đoạn: giai đoạn giáo

dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp

10 đến lớp 12) Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ

Trang 13

thông), Vật lí là môn thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh Bên cạnh một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọn những môn học và chuyên đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp của mình Chương trình môn Vật

lí lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến các vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật, khoa học và công nghệ Chuyên đề học tập sẽ gồm những nội dung giúp học sinh có những định hướng nghề nghiệp, bước đầu nhận biết được đúng năng lực, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực với môn học Cũng chính vì những điều trên, mà chúng tôi đã chọn nội dung

“Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” trong chuyên đề 10.1 “Vật lí trong một số ngành nghề” - chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí để nghiên cứu và

xây dựng một nội dung học hoàn toàn mới dựa trên kiến thức nền tảng đã trang bị cho học sinh ở giai đoạn giáo dục cơ bản Với nội dung này, học sinh hoàn toàn có cơ hội tìm tòi, tự lực tìm hiểu những đối tượng nghiên cứu trong vật lí học; liệt kê được một vài

mô hình lí thuyết đơn giản; một số phương pháp thực nghiệm của các lĩnh vực nghiên

cứu chính trong vật lí hiện đại: Vật lý vật chất ngưng tụ (Vật lý chất rắn); Vật lí nguyên

tử, phân tử và quang học; Vật lí năng lượng cao và vật lí hạt nhân; Vật lí thiên văn

Chúng tôi cho rằng với nội dung học “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” sẽ là một nội dung học tập thú vị phát triển được năng lực tự học của người học, học sinh là người làm chủ hoàn toàn trong việc nghiên cứu tìm tòi khám phá các lĩnh vực nghiên cứu, đồng thời khơi dậy những hứng thú sở trường của bản thân đối với môn học vật lý, định hướng được nghề nghiệp rõ ràng trong tương lai

Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Thiết kế và tổ chức dạy học nội

dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Vật lý học – với tên gốc xuất phát từ tiếng hy lạp “physis” nghĩa là tự nhiên - là ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về các tính chất tổng quát của vật chất, những qui luật vận động phổ biến của vật chất trên các lĩnh vực cơ học, nhiệt học, điện từ học, quang học và cấu trúc phân tử, nguyên tử Vì vậy, mà chúng ta có thể thấy rằng các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học phát triển mạnh mẽ từ thời đại cổ điển cho đến

ngày nay

Theo như chúng tôi tìm hiểu, những lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học từ thời

đại cổ điển cho đến hiện nay có thể chia thành một số lĩnh vực chính như sau: Cơ học

cổ điển; cơ học lượng tử; cơ học tương đối; cơ học chất lưu; Cơ học thiên thể; Vật lý vật chất ngưng tụ (Vật lý chất rắn); Điện từ học; Vật lí nguyên tử, phân tử và quang học; Vật lí năng lượng cao và vật lí hạt nhân; Vật lí thiên văn; Điện hạt nhân Đã có rất

nhiều nhà bác học nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực vật lí học này như: Albert

Trang 14

Einstein (1879 – 1955), Enrico Fermi (1901 – 1954), Lev Landau (1908 – 1968 ),… Sau đây là nội dung tổng quan của một vài lĩnh vực nghiên cứu

Vật lý vật chất ngưng tụ là một ngành của vật lý học nghiên cứu các tính chất vật

lý vĩ mô của vật chất Vật lý vật chất ngưng tụ là một trong những ngành lớn nhất của vật lý học hiện nay.Về mặt lịch sử, ngành này bắt đầu trưởng thành từ ngành vật lí trạng thái rắn, và hiện nay được các nhà khoa học coi là chủ đề chính của vật lí vật chất ngưng tụ Hay về lĩnh vực nghiên cứu Vật lí nguyên tử, phân tử và quang học nghiên cứu tương tác giữa vật chất –vật chất và ánh sáng –vật chất trên cấp độ nguyên

tử và phân tử Còn trong lĩnh vực nghiên cứu Vật lí năng lượng cao và vật lí hạt nhân, thì đây là một ngành được biết đến với những ứng dụng phổ biến như là năng lượng hạt nhân sinh ra trong các lò phản ứng hạt nhân và công nghệ vũ khí nguyên tử, nó cũng xuất hiện trong những ngành khác như xạ trị ung thư trong y học hạt nhân, chụp cộng hưởng từ cấy ghép ion trong khoa học vật liệu, phương pháp xác định niên đại bằng các nguyên tố phóng xạ trong địa chất và khảo cổ học, nghiên cứu tạo ra các nguyên tố siêu urani và đảo bền những nguyên tố này Cuối cùng là lĩnh vực thiên văn, nổi tiếng với lý thuyết vụ nổ big bang, cùng nhiều khám phá mới xuất phát từ việc thu thập dữ liệu và phân tích vụ nổ do những kính thiên văn không gian gửi về Qua đó, chúng tôi nhận thấy là đã có rất nhiều nhà bác học, nhà vật lí học nghiên cứu các lĩnh vực trên nhưng vẫn chưa có một công trình, bài báo hay tạp chí nào nghiên cứu chuyên sâu về năng lực tự học, tự tìm tòi của học sinh về các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học Trong lịch sử giáo dục, tự học là một khái niệm được đề cập rất sớm thường được hiểu đến với ý nghĩa là người học tự giác, chủ động thực hiện các hoạt động học tập của mình Khái niệm NLTH là khả năng người học thực hiện các hoạt động tự học Trong nền giáo dục cổ xưa, ý tưởng dạy học coi trọng người học và trao quyền tự chủ cho người học được chú ý đến từ thời cổ đại như Phương Tây cổ đại có phương pháp giảng dạy của Heraclitus (530 - 475 TCN), Socrate (Hy Lạp, 469 - 390 TCN), Aristote (384 - 322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để

người học tự tìm ra kết luận Khẩu hiệu dạy học của ông là “Mục đích của giáo dục là

làm cho con người tự nhận ra chính mình giữa đám đông” Đầu thế kỉ XIX xuất hiện

nhiều nghiên cứu về NLTH những nghiên cứu này thường tập trung mô tả quá trình tự học điển hình là nhà giáo dục Mỹ John Dewey Tác giả cho rằng HS tự học là HS chủ động và tích cực hoạt động, học thông qua cách làm trong quá trìn h tự học HS vẫn tương tác với GV nhưng ở khía cạnh GV phải làm chủ được hoạt động giảng dạy của mình quan sát được những biểu hiện nhận thức của trò chứ không đơn thuần là việc truyền đạt tri thức theo kiểu thầy giảng trò nghe Người học tự hoạt động để hiểu biết tri thức

Ở Anh vào những năm 1920 đã hình thành nhà trường kiểu mới, khuyến khích hoạt động tự quản của học sinh Ở Hoa Kì, từ những năm 1970, gần 200 trường đã dạy học thử nghiệm GV hướng dẫn HS cách học, HS độc lập làm việc theo nhịp độ riêng

Trang 15

phù hợp với nhận thức của mình Ở Việt Nam, Bộ GD-ĐT biên soạn “Tài liệu tập huấn

cán bộ quản lí, GV cốt cán về PPDH và phương pháp hướng dẫn học sinh tự học”

Ở nước ta, thời gian qua cũng có nhiều luận văn nghiên cứu khoa học về năng lực tự học như:

Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học’’ Phạm Hữu Tòng (2004) “Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường phổ thông” Nguyễn Đức Thâm - Nguyễn Ngọc Hưng (1999) Lý luận dạy học vật lý- NXB ĐHSP Hà Nội (2005) Mô hình tổ chức học theo nhóm trong giờ học lên lớp” Ngô Thị Thu Dung - Tạp chí giáo dục (3) tr 21 - 22 Luận văn Thạc sĩ của Lương Thị Dung (2013) ĐHSP Thái Nguyên với đề tài “Phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh qua dạy học nhóm khi dạy chương Chất Khí Vật lí 10” Có nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, các nghiên cứu sinh và học viên cao học quan tâm tới việc nghiên cứu hướng dẫn học sinh cách tự học như luận văn Thạc sĩ tác giả Nguyễn Thị Tân (ĐHSP Hà Nội 2-2011) với đề tài “Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm - Vật lí 10 nâng cao”, luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Cương (ĐHSP Hà Nội - 2010) với đề tài “Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Dòng điện xoay chiều - Vật lí 12 nâng cao”

3 Mục tiêu nghiên cứu

Thiết kế một số hoạt động học tập trong nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên

cứu trong vật lí học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế được một số hoạt động học tập trong nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” theo các phương pháp dạy học hiện đại thì khi tổ chức dạy học nội dung này theo thiết kế đó sẽ bồi dưỡng được năng lực tự học của học sinh

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chương trình giáo dục phổ thông môn vật lí

- Thực trang sách giáo khoa

- Các tài liệu giới thiệu về các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học

- Cấu trúc năng lực tự học

- Lí luận về bồi dưỡng năng lực tự học

- Thực trạng giáo viên phổ thông và học sinh

- Thực trạng sự dụng thí nghiệm trong dạy học vật lí

- Các phương pháp, kĩ thuật, hình thức dạy học hiện đại

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu của vật lí học”, trong chuyên đề 10.1 “Vật lí trong một số ngành nghề” nhằm hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

Trang 16

- Thời gian: Tháng 3/2021

- Thực nghiệm sư phạm tại nhóm học thêm vật lí thầy Dũng

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu chương trình GDPT môn vật lí và sách giáo khoa nhằm đưa ra giới

hạn nghiên cứu

- Nghiên cứu tìm hiểu các tài liệu giới thiệu về các lĩnh vực nghiên cứu trong vật

lí học

- Nghiên cứu lí luận về cấu trúc của năng lực tự học

- Đề xuất cấu trúc năng lực tự học với đầy đủ các thành tố và tất cả các biểu hiện

hành vi của năng lực tự học

- Đề xuất các biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực tự học

- Nghiên cứu các phương pháp, kĩ thuật, hình thức tổ chức dạy học hiện đại

- Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng giáo viên phổ thông và học sinh về sự hiểu biết

và hứng thú về việc tìm hiểu các lĩnh vực nghiên cứu

- Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng giáo viên phổ thông về thực trạng tổ chức dạy

học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

- Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng học sinh phổ thông về các biểu hiện của năng

lực tự học và việc bồi dưỡng các năng lực tự học

- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hơn tính khả thi và hiệu quả của việc bồi

dưỡng năng lực tự học khi dạy học chủ đề “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học”

- Thiết kế các hoạt động học tập về nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu

trong vật lí học” nhằm giúp học sinh bộc lộ các năng lực tự học

- Thiết kế các công cụ nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các hoạt động

học tập đã thiết kế khi được triên khai trong thực nghiệm sư phạm

- Sử dụng công cụ thông kê toán học nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của

các hoạt động học tập đã thiết kế

- Thiết kế các dụng cụ thí nghiệm minh họa cho các nội dung của chủ đề “Giới

thiệu về các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học”

- Thiết kế tài liệu “Giới thiệu về các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” theo

quan điểm phù hợp với trình độ học sinh phổ thông và khơi gợi hứng thú tự tìm tòi, khám phá của người học

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm nghiên cứu đánh giá mực độ bộc lộ các

hành vi của năng lực tự học

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Nghiên cứu các tài liệu nhằm rút ra cái nhìn tổng quan chủ đề

Trang 17

- Trên cơ sở các tài liệu đã nghiên cứu, biên tập thành một tài liệu phổ thông phù

hợp và tạo hứng thú học tập cho học sinh phổ thông

7.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về năng lực tự học của học sinh

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về các phương pháp, kĩ thuật, hình thức dạy học hiện đại

7.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Thông qua phiếu điều tra, dự giờ, trao đổi với giáo viên và học sinh, thu thập thông tin

- Xử lí số liệu thu được, nhằm đánh giá sơ bộ thực trạng tự học của học sinh và khả năng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh ở một số trường THPT trên địa bàn nghiên cứu và đưa ra biện pháp khắc phục

7.4 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

- Thiết kế, chế tạo và thử nghiệm một số dụng cụ thí nghiệm nhằm minh họa một

số kiến thức trong chủ đề giới thiệu một số lĩnh vực nghiên cứu vật lí

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài

7.5 Phương pháp thống kê toán học

- Xử lí các số liệu thu được từ thực nghiệm sư phạm

8 Dự kiến kết quả đạt được

- Thông qua việc tổ chức dạy học chủ đề các kiến thức cụ thể làm sáng tỏ và cụ thể hóa cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học chủ đề để phát triển năng lực tự học cho học sinh

- Các bài học đã thiết kế có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các GV dạy học Vật lý THPT, THCS, sinh viên các trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

Chương 2: Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG “GIỚI THIỆU CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU TRONG VẬT LÍ HỌC” THEO HƯỚNG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH

1.1 Giới thiệu chương trình giáo dục phổ thông mới

1.1.1 Sơ lược về chương trình GDPT mới

Vào ngày 27 tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố chương trình GDPT mới Trong đó, chương trình GDPT mới sẽ bao gồm chương trình tổng thể

và 27 chương trình môn học, hoạt động giáo dục Theo đó, chúng tôi thấy chương trình GDPT mới có một số điểm kế thừa và nhiều điểm khác so với chương trình giáo dục hiện hành

Theo chương trình GDPT mới đã được ban hành vào năm 2018, Chương trình GDPT mới đã kế thừa chương trình hiện hành một số điểm như sau:

Thứ nhất, về mục tiêu giáo dục, chương trình GDPT mới vẫn kế thừa quan điểm

coi mục tiêu giáo dục phổ thông là giáo dục con người toàn diện, giúp HS phát triển hài hòa về đức, trí thể, mĩ

Thứ hai, về phương châm giáo dục, chương trình GDPT mới vẫn kế thừa các

nguyên lí giáo dục nền tảng như “Học đi đôi với hành”, “Lí luận gắn liền với thực

tiễn”, “Giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội”

Thứ ba, về nội dung giáo dục, kiến thức nền tảng của các môn học trong Chương

trình GDPT mới chủ yếu là những kiến thức cốt lõi, tương đối ổn định trong các lĩnh vực tri thức của nhân loại, được kế thừa từ Chương trình GDPT hiện hành, nhưng được tổ chức lại để giúp HS phát triển phẩm chất và năng lực một cách hiệu quả hơn Ngoài ra, chương trình GDPT mới còn cập nhật một số kiến thức để phù hợp với những thành tựu mới của khoa học – công nghệ và định hướng mới của chương trình

Thứ tư, về hệ thống môn học, trong chương trình GDPT mới, xuất hiện một số

môn học và hoạt động giáo dục mang tên mới là: Tin học và Công nghệ, Ngoại ngữ, Hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học; Lịch sử và Địa lí, Khoa học tự nhiên ở cấp Trung học cơ sở; Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp Trung học phổ thông; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở các cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông

Thứ năm, về thời lượng dạy học, tuy chương trình mới có thực hiện giảm tải so

với chương trình hiện hành nhưng những tương quan về thời lượng dạy học giữa các môn học không có sự xáo trộn

Thứ sáu, về phương pháp giáo dục, chương trình mới định hướng phát huy tính

tích cực của HS, khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ một chiều

Trang 19

Chương trình GDPT mới có những điểm khác biệt so với chương trình hiện hành như sau:

Bảng 1.1 Những điểm khác biệt của chương trình GDPT hiện hành và

chương trình GDPT mới

Chương

trình Điểm

“kết quả”, “đầu ra” của quá trình giáo dục Vì vậy, HS phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế

- - Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân

Kết luận: Giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp HS hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức

đã học.Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo

dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục

2) Nội dung giáo

dục

- Chương trình giáo dục

phổ thông hiện hành có nội dung giáo dục gần như đồng nhất cho tất cả HS;

việc định hướng nghề nghiệp cho HS, ngay cả ở cấp trung học phổ thông chưa được xác định rõ ràng

- Chương trình giáo dục phổ thông

mới phân biệt rõ hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12)

Trang 20

Chương

trình Điểm

sự cần thiết đối với HS phổ thông

- Chương trình giáo dục phổ thông

mới chú ý hơn đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học Việc xây dựng Chương trình tổng thể, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam, đặt cơ sở cho sự kết nối này

- Chương trình giáo dục phổ thông

mới bảo đảm định hướng thống nhất

và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với HS toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội

1.1.2 Giới thiệu chương trình GDPT mới môn Vật lí

1.1.2.1 Đặc điểm môn học Vật lí trong chương trình GDPT mới

Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục vật lí được phân bố ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau, thông qua các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp

2 và lớp 3); Khoa học (lớp 4 và lớp 5); Khoa học tự nhiên (Trung học cơ sở); Vật lí (trung học phổ thông)

Ở trung học phổ thông, Vật lí là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng của HS, với thời lượng 70 tiết/năm học Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp này, môn Vật lí giúp HS tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, củng cố các phẩm

Trang 21

chất, kỹ năng cốt lõi, tạo điều kiện để HS bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học Chương trình môn Vật lí lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến những vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành khoa học, kĩ thuật, công nghệ Chương trình môn vật lí còn chú trọng đến việc hình thành năng lực tìm tòi khám phá các thuộc tính của đối tượng Vật lí thông qua nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau

1.1.2.2 Quan điểm xây dựng chương trình

Chương trình môn Vật lý một mặt kế thừa và phát huy ưu điểm của chương trình hiện hành và mặt khác, tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình môn học của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đồng thời tiếp cận những thành tựu của khoa học giáo dục và khoa học vật lí phù hợp với trình độ nhận thức và tâm, sinh lý lứa tuổi của HS, có tính đến điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam

Thiết kế chương trình môn Vật lý chú trọng vào bản chất, ý nghĩa vật lí của các đối tượng, đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về toán học; tạo điều kiện

để giáo viên giúp học sinh phát triển tư duy khoa học dưới góc độ vật lí, khơi gợi sự ham thích ở HS, tăng cường khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn Các chủ đề được thiết kế, sắp xếp từ trực quan đến trừu tượng, từ đơn giản đến phức tạp, từ hệ được xem như một hạt đến nhiều hạt; bước đầu tiếp cận với một số nội dung hiện đại mang tính thiết thực, cốt lõi

1.1.2.3 Mục tiêu xây dựng chương trình

Chương trình môn Vật lý giúp HS:

- Đạt được các phẩm chất và năng lực được quy định trong Chương trình GDPT

tổng thể

- Có được những kiến thức phổ thông cốt lõi về: các mô hình hệ vật lý; chất,

năng lượng và sóng; lực và trường

- Vận dụng được một số kỹ năng tiến trình khoa học; bước đầu sử dụng được

toán học, tin học làm ngôn ngữ, công cụ giải quyết vấn đề

- Vận dụng được một số tri thức vào thực tiễn, ứng xử được với thiên nhiên phù

hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường

- Nhận biết đúng được một số năng lực, sở trường của bản thân và lựa chọn được

một số ngành nghề liên quan đến lĩnh vực mà môn học đề cập

1.1.2.4 Yêu cầu cần đạt

Môn Vật lí góp phần thực hiện các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể Môn Vật lí còn hình thành và phát triển ở HS những năng lực vật lí, với những biểu hiện cụ thể sau đây:

i) Nhận thức kiến thức vật lí

Trang 22

- Nhận thức được kiến thức phổ thông cốt lõi về mô hình hệ vật lí; chất, năng

lượng và sóng; lực và trường

- Nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí

ii) Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí

- Thực hiện được hoạt động tìm tòi, khám phá một số sự vật, hiện tượng đơn

giản, gần gũi trong thế giới tự nhiên và đời sống theo tiến trình

- Thực hiện được việc phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng

của một số sự vật, hiện tượng đơn giản gần gũi trong thế giới tự nhiên

- Sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các

chứng cứ, rút ra kết luận

iii) Vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn

- Vận dụng được kiến thức vật lí để mô hình hóa các hệ vật lí đơn giản và sử

dụng được toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết vấn đề cụ thể

- Mô tả, dự đoán, giải thích hiện tượng, giải quyết vấn đề một cách khoa học; ứng

xử thích hợp với công nghệ và thiên nhiên trong một số tình huống liên quan đến bản

thân, gia đình, cộng đồng

Bảng 1.2 Biểu hiện cụ thể của năng lực vật lí

Nhận thức kiến thức vật lí - Gọi tên/Nhận biết/ Nhận ra/Kể tên/Phát biểu/Nêu các

sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí

- Trình bày các sự kiện/đặc điểm/vai trò của các sự vật,

hiện tượng, quá trình vật lí

- Mô tả bằng các hình thức biểu đạt như nói, viết, đo,

- So sánh/Lựa chọn sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí

dựa theo các tiêu chí

- Giải thích với lập luận về mối quan hệ giữa các sự vật

và hiện tượng

- Tìm từ khóa/Lập dàn ý/Sử dụng ngôn ngữ khoa

học/Tóm tắt khi đọc các văn bản khoa học

- Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa một vấn đề/lời giải thích

Thảo luận đưa ra những nhận định phê phán có liên

quan đến chủ đề

-

Trang 23

Năng lực thành phần Biểu hiện

- Thực hiện kế hoạch: Thu thập sự kiện và chứng cứ

(quan sát, ghi chép, thu thập dữ liệu, làm thí nghiệm); Phân tích dữ liệu nhằm chứng minh hay bác bỏ giả thuyết; Rút ra kết luận về vấn đề thực tiễn và đánh giá

- Viết, trình bày báo cáo và thảo luận

- Đề xuất các biện pháp giải quyết vấn đề trong các tình

huống học tập, đưa ra quyết định (xây dựng mô hình,

kế hoạch,…) Vận dụng kiến thức vật lí

vào thực tiễn

- Giải thích/Chứng minh một vấn đề thực tiễn

- Phân tích, tổng hợp để giải thích/chứng minh một vấn

1.1.2.5 Nội dung giáo dục

Ở cấp trung học phổ thông, trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho HS ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình môn Vật lý lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến những vấn đề mang tính ứng dụng cao

là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật, khoa học và công nghệ

Ở bậc học phổ thông, thí nghiệm, thực hành đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khái niệm, quy luật, định luật vật lý Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng các mô hình vật lý và toán học, chương trình môn Vật lý chú trọng thích đáng đến việc hình thành năng lực tìm tòi khám phá các thuộc tính của sự vật, hiện tượng vật lý thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau

Chương trình môn Vật lý coi trọng việc rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng tri thức vật lý vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực trên nền tảng những năng lực chung và Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số ngành nghề cụ thể Cùng với các nội dung giáo dục cốt lõi có thời lượng 70 tiết/năm học, những HS

có định hướng nghề nghiệp cần vận dụng nhiều tri thức vật lý được học thêm 35 tiết chuyên đề/năm học Trong các chuyên đề này; một số có tác dụng mở rộng, nâng cao

Trang 24

kiến thức và năng lực đáp ứng yêu cầu phân hóa ở cấp trung học phổ thông; một số nhằm tăng cường hoạt động thực hành, vận dụng thực tế, giúp HS phát triển tình yêu,

sự say mê, ham thích tìm hiểu khoa học, định hướng nghề nghiệp

1.1.2.6 Phương pháp giáo dục

Các phương pháp giáo dục của môn Vật lý góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, nhằm hình thành Năng lực tìm hiểu khoa học tự nhiên dưới góc độ vật lý (Năng lực vật lý) cũng như góp phần hình thành các phẩm chất và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Chương trình được thiết kế nhằm tạo điều kiện cho giáo viên vận dụng các phương pháp giáo dục một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể Tùy theo yêu cầu cần đạt, có thể sử dụng một hoặc phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một chủ đề Các phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình, đàm thoại, ) được sử dụng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS Tăng cường sử dụng các phương pháp, hình thức

tổ chức dạy học tiên tiến đề cao vai trò chủ thể học tập của HS (thảo luận, tranh luận, đóng vai, dự án, theo trạm, theo góc ) Các hình thức tổ chức dạy học được thực hiện

đa dạng và linh hoạt; kết hợp các hình thức học cá nhân, học nhóm, học ở lớp, học theo dự án học tập, tự học, Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học vật lý

Để thực hiện mục tiêu phát triển các năng lực thành phần của Năng lực vật lý, chương trình tạo điều kiện để giáo viên có thể lựa chọn các phương pháp giáo dục phù hợp, có ưu thế đối với việc phát triển từng năng lực thành phần cụ thể

1.1.2.7 Đánh giá kết quả giáo dục

Đánh giá kết quả giáo dục là hoạt động xem xét, so sánh mức độ đạt được của mỗi học sinh theo yêu cầu cần đạt của môn học, tìm ra nguyên nhân, dự đoán năng lực phát triển còn tiềm ẩn ở HS Đánh giá là một bộ phận hợp thành quan trọng của quá trình giáo dục Nó cho phép thu thập các thông tin về chất lượng học tập của HS, nhằm tạo các cơ hội và thúc đẩy quá trình học tập của HS Vì vậy, việc đánh giá kết quả giáo dục HS phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục của môn học

Trong nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực HS, chương trình môn Vật lý tạo điều kiện để chú trọng tập trung đánh giá các thành phần của năng lực vật lý Bên cạnh đánh giá kiến thức, coi trọng đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm và các kỹ năng thực hành vật lý

Do hình thức trắc nghiệm khách quan không phù hợp cho đánh giá kỹ năng thực hành nên chương trình quan tâm hợp lý đến việc sử dụng cách đánh giá qua các sản phẩm thực hành của HS (ví dụ sản phẩm của các dự án học tập) cũng như các đánh giá mang tính tích hợp (ví dụ STEM)

Thông thường, trong các chương trình môn học theo định hướng phát triển năng lực, các nội dung đánh giá kỹ năng (xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, kỹ năng thực

Trang 25

tiễn, thử nghiệm và tiến hành nghiên cứu) chiếm khoảng 60%, đánh giá về hiểu biết kiến thức chiếm khoảng 40% Đây thực sự là một thách thức trong sự đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh, nhất là trong khi chúng ta vẫn đang sử

dụng các hình thức kiểm tra đánh giá chưa thực sự giúp phát triển năng lực HS

1.1.2.8 Giải thích và hướng dẫn thực hiện chương trình

Chương trình môn Vật lý có cấu trúc nội dung cũng như yêu cầu cần đạt về cơ bản là giống nhau cho tất cả các vùng, miền Tuy vậy, trong quá trình thực hiện những

kỹ năng cơ bản trong tìm tòi, khám phá đối tượng vật lý, giáo viên có thể chủ động tổ chức cho HS hoạt động trải nghiệm và thực hành một số nội dung mang sắc thái riêng của địa phương mình

Đối với các vùng còn khó khăn, thiếu thốn về trang thiết bị học tập, có thể thực hiện một số yêu cầu cần đạt ở mức độ đơn giản hơn Ví dụ, với yêu cầu cần đạt: “Mô

tả được/thực hiện được thí nghiệm minh họa hiện tượng cảm ứng điện từ”, các trường không đủ điều kiện trang thiết bị học tập có thế chỉ thực hiện việc mô tả mà không tiến hành thí nghiệm minh họa Tuy nhiên, để bảo đảm mặt bằng chung, chương trình cũng chỉ đưa ra một cách hạn chế các yêu cầu cần đạt có hai mức như vậy Các địa phương cần đảm bảo yêu cầu tối thiểu về trang thiết bị học tập được quy định trong chương trình để thực hiện được đầy đủ các yêu cầu cần đạt của chương trình

Việc hình thành khái niệm, quy luật, định luật vật lý không thể thiếu các thí nghiệm, thực hành Một phần không nhỏ Năng lực vật lý của học sinh được hình thành thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành Chính vì thế, để đạt mục tiêu phát triển năng lực học sinh, chương trình đã đưa ra các yêu cầu tối thiểu về thiết bị thí nghiệm, thực hành Ở những nơi có điều kiện, các địa phương, các cơ sở giáo dục có thể phát triển thêm các nội dung phù hợp

1.1.3 Nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” – trong chuyên đề 10.1 “Vật lí trong một số ngành nghề”, trong chương trình GDPT mới

Trong chương trình GDPT mới môn Vật lí, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của chương trình môn Vật lí đó là giúp HS nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng nghề nghiệp trong tương lai và có kế hoạch học tập rõ ràng, rèn luyện để đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp Trong toàn bộ chương trình môn Vật lí, mục tiêu này được thực hiện xuyên suốt từ nội dung, kế hoạch dạy học đến kiểm tra, đánh giá, dưới các góc độ khác nhau Theo chương trình GDPT mới môn Vật lí, bài mở đầu lớp 10 là một chuyên đề giúp HS tìm hiểu được một số các lĩnh vực nghiên cứu, ngành nghề liên quan đến kỹ năng, kiến thức vật lí; trong mỗi chuyên

đề, HS đều tìm hiểu được một số lĩnh vực nghiên cứu, ngành nghề liên quan đến nội dung mà chuyên đề đề cập Cấu trúc của năng lực thành phần như là vận dụng kiến thức, kỹ năng trong thực tiễn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và HS định hướng được ngành nghề, lĩnh vực nghiên cứu sẽ lựa chọn sau này Theo chương trình GDPT mới, các chuyên đề được đặt ra đều nhằm định hướng ngành nghề cho HS HS

Trang 26

sẽ được tiếp xúc với các mô hình vật lí, thí nghiệm được thực hành dưới các góc độ khác nhau để tiếp cận với ngành nghề mình mong muốn Đối với những ngành nghề, lĩnh vực nghiên cứu mà các trang thiết bị phương tiện còn khan hiếm, HS chưa có điều kiện thực hành thì dùng công nghệ đa phương tiện để giới thiệu một số nguyên tắc hoạt động của máy móc, thiết bị Theo lộ trình chương trình GDPT mới, bộ GD-ĐT sẽ bắt đầu triển khai áp dụng chương trình, SGK giáo dục phổ thông mới bắt đầu từ năm

2019 – 2020 Cụ thể đối với cấp tiểu học từ năm học 2019 -2020, đối với cấp trung học cơ sở từ năm học 2020 - 2021 và đối với cấp trung học phổ thông từ năm học 2021 – 2022

Hiện nay, chương trình GDPT mới vẫn chưa được áp dụng Bộ GD-ĐT cũng đã lưu ý là trong thời gian chương trình GDPT mới chưa được triển khai rộng rãi trên phạm vi toàn quốc thì các cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học chương trình hiện hành và đổi mới phương pháp, hình thức, kỹ thuật dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng định hướng phát triển phẩm chất năng lực người học Từ đó sẽ giúp cho giáo viên và HS dần thích nghi làm quen, để sau này chuyển sang thực hiện chương trình, SGK mới được thuận lợi Vì vậy, mà việc thiết kế

và tổ chức dạy học nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” trong đề tài luận văn này sẽ được áp dụng, thực nghiệm cho chương trình GDPT hiện hành Đề tài này được góp phần sử dụng như một tư liệu, tài liệu tham khảo để giáo viên, HS có thể dùng để tham khảo khi chương trình GDPT mới được áp dụng Kiến thức trong nội dung này do chúng tôi thiết kế dựa trên những mục tiêu giáo dục của chương trình GDPT mới; yêu cầu cần đạt của nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học”, trong chuyên đề 10.1 “Vật lí trong một số ngành nghề”; đồng thời sử dụng kiến thức SGK chương trình GDPT hiện hành làm nền tảng để xây dựng

Bảng 1.3 Yêu cầu cần đạt của các nội dung trong chuyên đề 10.1

“Vật lí trong một số ngành nghề

Chuyên đề 10.1 “Vật lí trong một số ngành nghề”

Sơ lược về sự phát triển

của Vật lí học

- Trình bày được sơ lược sự ra đời và những thành tựu ban

đầu của Vật lí thực nghiệm

- Nêu được sơ lược vai trò của cơ học Newton đối với sự

phát triển của Vật lí học

- Liệt kê một số nhánh nghiên cứu chính của Vật lí cổ điển

- Nêu được sự khủng hoảng của vật lí cuối thế kỉ XIX, tiền

đề cho sự ra đời của Vật lí hiện đại

- Liệt kê một số lĩnh vực nghiên cứu chính của Vật lí hiện

đại

-

Trang 27

- Nêu được đối tượng nghiên cứu; liệt kê được một vài mô

hình lý thuyết đơn giản, một số phương pháp thực nghiệm của một số lĩnh vực chính: Vật lí nguyên tử, phân tử và quang học; Vật lí các chất ngưng tụ; Vật lí năng lượng cao và vật lí hạt nhân; Vật lí thiên văn

- Thảo luận, đề xuất, chọn phương án và thực hiện được

nhiệm vụ học tập tìm hiểu về các mô hình, lí thuyết khoa học đã phát triển và được áp dụng để cải thiện các công nghệ hiện tại cũng như phát triển các công nghệ mới Giới thiệu các ứng dụng

của Vật lí trong một số

ngành nghề

- Mô tả được ví dụ thực tế về việc sử dụng kiến thức vật lí

trong một số lĩnh vực (Quân sự; Công nghiệp hạt nhân; Khí tượng; Nông nghiệp, Lâm nghiệp; Tài chính; Điện tử;

Cơ khí, tự động hóa; Thông tin, truyền thông; Nghiên cứu khoa học)

Trong đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học”, nằm ở nội dung thứ hai trong Chuyên đề 10.1 “Vật lí trong một số ngành nghề”

1.2 Tổng quan về Vật lí học

1.2.1 Vật lí học là gì?

Vật lí học (tên tiếng anh là Physics) là một ngành khoa học nghiên cứu về quy luật chuyển động của tự nhiên, tập trung vào nghiên cứu cấu tạo của vật chất, và sự chuyển động của vật chất đó trong không gian và thời gian VLH nghiên cứu từ thang vi mô (các hạt cấu tạo nên vật chất) cho đến thang vĩ mô (các hành tinh, thiên hà và vũ trụ)

1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của VLH

Ngày nay, VLH có những đối tượng nghiên cứu chính bao gồm: vật chất, năng lượng, lực, không gian và thời gian VLH nghiên cứu dạng vận động tổng quát nhất của thế giới vật chất, nghiên cứu những đặc trưng tổng quát về sự vận động và cấu tạo của vật chất, từ đó suy ra tính chất tổng quát của thế giới vật chất VLH cũng nghiên cứu tính chất, bản chất và quá trình vận động của các trường Vật lí như trường điện tử, trường hấp dẫn, trường lượng tử,…

VLH còn được xem là một ngành khoa học tự nhiên cơ bản vì các định luật vật

lý của nó chi phối tất cả các ngành khoa học tự nhiên khác, VLH giao thoa với nhiều lĩnh vực nghiên cứu ở các ngành khác nhau như vật lí sinh học, hóa học lượng tử Đối với những nghiên cứu của tự nhiên trong những ngành khoa học như sinh học, hóa học, địa lý học, toán học, thiên văn học… thì đều phải tuân thủ các định luật vật lí Trong mối liên hệ giữa VLH và hóa học, chúng ta sẽ thấy các tính chất hóa học của

Trang 28

các chất đều bị chi phối bởi các định luật vật lí về cơ học lượng tử, nhiệt động lực học, điện từ học Hóa học nghiên cứu tính chất, cấu trúc và phản ứng của vật Những cấu trúc và hợp chất hóa học hình thành đều tuân theo tương tác điện từ, các định luật bảo toàn năng lượng, khối lượng và điện tích VLH còn là cơ sở để giải thích cấu tạo nguyên tử, phân tử, hay liên kết hóa học Hay trong mối liên hệ giữa VLH và toán học, các lý thuyết vật lí là bất biến khi biểu diễn dưới dạng các quan hệ toán học, và trong VLH sự biểu diễn các công thức toán học trở nên phức tạp hơn trong các ngành khoa học khác Ví dụ như nội dung “véc tơ” trong toán hình học luôn gắn với các tình huống vật lí “Véc tơ” với vai trò là công cụ biểu diễn lực, lực điện từ hay công cụ

“véc tơ” được dung trong việc nghiên cứu các đại lượng véc tơ: vận tốc, gia tốc, lực và động lượng “Vec tơ” còn đóng vai trò là công cụ để biểu diễn các đại lượng “vec tơ”

và biểu diễn cho phương trình của dao động điều hòa

1.2.3 Khái quát các lĩnh vực nghiên cứu của VLH

Nhằm mục đích tìm hiểu các khía cạnh khác nhau, sự vận động của thế giới vật chất, người ta chia những nghiên cứu hiện tại trong vật lí ra một số ngành riêng biệt

Có các ngành sau: Vật lí chất rắn; vật lí nguyên tử, phân tử và quang học; vật lí hạt; vật lí thiên văn; vật lí ứng dụng Trong đó, ngành lớn nhất là vật lí chất rắn tập trung nghiên cứu tính chất của phần lớn các vật chất, như chất rắn và chất lỏng trong thế giới thường ngày của chúng ta, dựa trên các đặc tính và tương tác giữa các nguyên tử Còn ngành vật lí nguyên tử, phân tử và quang học quan tâm tới đặc điểm riêng biệt của các nguyên tử và phân tử Ngành vật lí hạt (hay còn gọi là vật lí năng lượng cao) nghiên cứu các tính chất của các hạt hạ nguyên tử, như các hạt cơ bản cấu thành nên vật chất

Và sau cùng là ngành vật lí thiên văn, nghiên cứu lý thuyết chuyển động của các thiên thể vũ trụ, các định luật của vật lý được ứng dụng để giải thích các hiện tượng thiên văn học, với đối tượng là mặt trời, các thiên thể trong hệ mặt trời cũng như toàn vũ trụ Trong số những ngành nghiên cứu này có thể chia thành một số các lĩnh vực nghiên cứu chính sau như: vật lí vật chất ngưng tụ; vật lí nguyên tử, phân tử, nano, quang học, laser, vật lí bán dẫn; vật lí hạt; vật lí thiên văn; địa vật lí và lí sinh học; cơ học newton; vật lí hạt nhân; điện hạt nhân; điện từ học;…

Bảng 1.4 Bảng tóm tắt những ngành chính và lĩnh vực nghiên cứu chính của

Vật lí hạt Vật lí hạt nhân; Vật lí thiên văn hạt nhân

Vật lí vật chất ngưng tụ Vật lí chất rắn; Vật lí áp suất cao; Vật lí nhiệt độ thấp;

Vật lí bề mặt; Vật lí cấp nano và lĩnh vực liên quan; Vật lí polymer

Trang 29

Ngành Phân ngành (Lĩnh vực nghiên cứu)

Vật lí ứng dụng Vật lí máy gia tốc; Âm học; Vật lí nông học; Lý sinh học;

Hóa lí; Vật lí thông tin; Vật lí kỹ thuật; Thủy động lực học; Địa vật lí; Vật lí laser; Khoa học vật liệu; Vật lí y khoa; Công nghệ nano; Quang học; Quang điện học; Điện hạt nhân; Điện mặt trời; Vật lí tính toán; Vật lí plasma; Hóa học lượng tử; Điện tử học lượng tử; Khoa học thông tin lượng tử; Động lực học xe cộ; Cơ học Newton

Nhằm mục đích xây dựng một nội dung dạy học “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” mang tính giáo dục định hướng nghề nghiệp, phù hợp với yêu cầu cần đạt của chương trình GDPT mới và giới thiệu cho học sinh tiếp cận với những lĩnh vực nghiên cứu phổ biến, đầy triển vọng trong tương lai Vì vậy mà trong đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu những lĩnh vực nghiên cứu chính của vật lí hiện đại sau:

1 Lĩnh vực nghiên cứu Vật lý vật chất ngưng tụ (Vật lý chất rắn)

2 Lĩnh vực nghiên cứu Vật lí nguyên tử, phân tử và quang học

3 Lĩnh vực nghiên cứu Vật lí năng lượng cao và vật lí hạt nhân

4 Lĩnh vực nghiên cứu Vật lí thiên văn

1.3 Năng lực tự học

1.3.1 Khái niệm

Đã có rất nhiều tài liệu và cơ sở lý luận nghiên cứu về năng lực tự học như là Tổng quan nghiên cứu về NLTH; Về năng lực tự học trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; Phát huy NLTH nhưng chúng tôi xin giới thiệu khái niệm năng lực tự học bằng một cách tiếp cận khác Đầu tiên phải nói đến năng lực là gì?

Năng lực luôn là khái niệm, phạm trù được bàn đến rộng rãi trong mọi lĩnh vực cuộc sống xã hội Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không phải chỉ biết và hiểu Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Theo như một số văn bản trong chương trình GDPT ở một số nước, người ta hiểu

về khái niệm năng lực như sau năng lực là một khả năng thực hiện hiệu quả một hành động bằng sự cố gắng huy động nhiều nguồn lực Khả năng này là tổng hợp những gì

HS học được ở nhà trường bao gồm kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, thái độ và sự hứng thú Ngoài ra cũng có những nguồn lực bên ngoài tác động như bạn bè, thầy cô, tài liệu hay thông tin dữ liệu đến từ nhiều nguồn khác

Trong chương trình GDPT của New Zealand, người ta lại định nghĩa ngắn gọn hơn: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong trong các tình huống phức tạp nào đó” [12]

Trong chương trình GDPT của Indonesia, người ta định nghĩa năng lực: “Năng lực là những kiến thức, kỹ năng, và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ

Trang 30

và hành động của mỗi cá nhân Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng và các giá trị cơ bản”.[13]

Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Cosmovici thì định nghĩa rằng: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức

và hành vi nhất định” Còn A.N.Leonchiev lại cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”

Trong giáo trình tâm lý học đại cương, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã phát biểu rằng: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm)” [8]

Về mặt hành động, kiến thức phản ánh năng lực nghĩ, kỹ năng phản ánh năng lực làm và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận Từ đó ta thấy rõ năng lực cũng gồm những thuộc tính cá nhân – đó là sinh học, tâm lý và giá trị xã hội Trong một tạp chí khoa học giáo dục mang tên “Nhận diện và đánh giá kỹ năng”, tác giả Đặng Thành Hưng đã định nghĩa năng lực là “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý

và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực

tế của hoạt động” [9]

Kết luận lại, tổng hợp nhiều quan niệm của các tác giả đưa ra phía trên, chúng tôi

có thể hiểu và định nghĩa năng lực như sau: “Năng lực là khả năng hoàn thành tốt một loại hoạt động nào đó trong một hoàn cảnh cụ thể nhờ sự tổng hợp, huy động của các loại năng lực nghĩ, năng lực làm và năng lực cảm nhận lần lượt tượng trưng cho kiến thức, kỹ năng, thái độ…Năng lực của một cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết những vấn đề trong thực tiễn” Tiếp theo, chúng tôi tiếp cận đên khái niệm tự học Có thể nói, tự học được con người phát triển rất sớm ngay từ khi giáo dục chưa trở thành một ngành khoa học thực

sự Trong lịch sử, đã có rất nhiều nhà giáo dục học và ngôn ngữ học đưa ra nhiều định nghĩa về tự học, tuy nhiên những định nghĩa ấy vẫn chưa được thống nhất với nhau

Có thể hiểu một cách đơn giản “Tự học là phương pháp học tập chủ động, lấy bản thân làm trung tâm Người học tự phát hiện và nghiên cứu vấn đề theo kế hoạch của bản thân”, hay “Tự học là tự mình học về một chủ đề hay nhiều chủ đề mà không có sự dạy dỗ hay định hướng chính thống nào Tự học là tự nghiên cứu từ tài liệu, tự đọc sách hay tự tư duy một mình hoặc nhóm theo hướng dẫn của thầy cô”

Trang 31

Nguyễn Cảnh Toản đã phát biểu rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất, động cơ, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sở hữu của mình” và “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình” [14]

Từ việc phân tích khái niệm “năng lực” và khái niệm “tự học” Cuối cùng, chúng tôi đi đến khái niệm “năng lực tự học”

Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra quan niệm về NLTH như sau: “NLTH được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” [14] NLTH là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học: “NLTH là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau” [15]

Kết luận, từ những định nghĩa trên, có thể hiểu NLTH là sự huy động tổng hợp

các kiến thức, kỹ năng, tâm lí cá nhân, thái độ, hứng thú của bản thân, niềm tin và ý chí để thực hiện thành công việc chiếm lĩnh tri thức khoa học cũng như vận dụng tri thức đó để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong một hoàn cảnh nhất định Hay nói một cách dễ hiểu hơn: “Năng lực tự học là khả năng xác định nhiệm vụ học tập một cách tự giác và chủ động; tự đề xuất mục tiêu học tập; lên kế hoạch học tập và đòi hỏi bản thân

sự nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu đó Thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả, điều chỉnh sai sót, hạn chế của bản thân thông qua tự đánh giá hoặc góp ý

từ giáo viên; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập”

Trong xu thế cập nhật chương trình GDPT mới, thì việc dạy học nhằm định hướng bồi dưỡng năng lực nói chung cũng như NLTH nói riêng rất là quan trọng Dạy học phát triển năng lực không những là chú ý đến sự lĩnh hội kiến thức của HS mà còn phải rèn luyện cho HS năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống thực tiễn của cuộc sống, nghề nghiệp Năng lực tự học là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân Tuy NLTH là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng nó phải được đặt trong một môi trường văn hóa – xã hội, được rèn luyện trong thực tiễn thì HS mới bộc lộ được hết ưu điểm cho cá nhân đó phát triển Thời gian mà chúng ta được lĩnh hội tri thức trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy các em HS cần tạo một nền tảng tự học và năng lực tự học, NLTH đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các

em tự học suốt đời

1.3.2 Cấu trúc và biểu hiện hành vi của năng lực tự học

Để xác định được cấu trúc NLTH với đầy đủ các thành tố và tất cả các biểu hiện hành vi của NLTH, có thể có những cách khác nhau NLTH được xem là một khái

Trang 32

niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố tác động bên trong lẫn bên ngoài Sau mỗi quá trình học tập, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của NLTH các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của năng lực tự học được bộc lộ ra ngoài Đều này đã được thể hiện trong một số nghiên cứu dưới đây:

Thứ nhất, phải kể đến một nghiên cứu của Philip Candy đó là: “Tự định hướng

cho việc học tập suốt đời: Hướng dẫn toàn diện về lý thuyết và thực hành” Trong nghiên cứu này ông đã liệt kê ra 12 biểu hiện của người có NLTH như sơ đồ bên dưới Sau đó, ông chia chúng vào 2 nhóm là nhóm yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ biểu hiện của năng lực tự học

Dựa vào sơ đồ biểu hiện của NLTH, có thể thấy:

Yếu tố bên ngoài nhấn mạnh đến phương pháp học, nó chứa đựng toàn bộ kỹ năng mà người học cần hình thành và phát triển trong quá trình học Qúa trình học này chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy của giáo viên, phương pháp dạy sẽ tác động đến phương pháp học tập của HS Vì vậy, giáo viên cần phải tạo điều kiện, môi trường để

HS có thể hình thành, phát triển và duy trì NLTH Đồng thời, giáo viên định hướng hoạt động học tập của HS, tạo cơ hội cho HS trải nghiệm và được tự do, độc lập tìm hiểu tri thức

Yếu tố bên trong nhấn mạnh đến thuộc tính tâm lý, tính cách cá nhân Yếu tố này được phát triển thông qua các hoạt động trải nghiệm, kinh nghiệm sống của bản thân

Vì vậy, giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập đầy thử thách, thử nghiệm và kiểm chứng bản thân để học sinh phát huy hết khả năng của mình Trong dạy học, giáo viên cũng nên khuyến khích yếu tố tự tin thông qua sự động viên khích lệ để tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học

6 Có năng lực giao tiếp xã hội

7 Mạo hiểm, sáng tạo

3 Có năng lực đánh giá, kỹ năng xử lý thông tin và giải quyết vấn đề

Trang 33

Thứ hai, trong một nghiên cứu về vấn đề tự học của HS ở trường phổ thông, tác

giả Taylor đã xác định người có NLTH sẽ có những biểu hiện sau:

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ biểu hiện của người có năng lực tự học

Thông qua mô hình trên, Taylor đã phân tích có 3 biểu hiện cơ bản của người có NLTH đó là thái độ, tính cách, kỹ năng Ba biểu hiện cơ bản của người học này nhằm xác định rõ ràng biểu hiện tư duy của bản thân, khả năng hoạt động trong thực tế và tâm lí của người học Taylor đã xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu rõ ràng, có kỹ năng hoạt động phù hợp

Thứ ba, theo như trong “Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát

triển các năng lực ở trường”, Xavier Roegiers có định nghĩa: “Cấu trúc của năng lực là

tổ hợp của nhiều năng lực thành tố, thực hiện các hoạt động thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một tình huống có ý nghĩa với học sinh” [18] Như vậy, cấu trúc của NLTH là một chuỗi các hành động, mà thông qua các hành động này các biểu hiện của NLTH sẽ được bộc lộ Việc đánh giá, kiểm tra chất lượng của NLTH ở người học phụ thuộc vào hành động hoặc mức độ tự lực thực hiện hành động ấy Từ đây, đề

2 Lên kế hoạch thực hiện mục đích học tập

rõ ràng cụ thể

3 Có tính kỉ luật cao:

tự nhận ra và chủ động điều chỉnh cái sai sót, hạn chế của bản thân

4 Thường xuyên rèn luyện theo mục tiêu phấn đấu của cá nhân

5 Độc lập, tự tin

6 Kiên nhẫn, tò mò, tìm tòi ở mức độ cao

1 Có kỹ năng thực hiện các hoạt động học tập

2 Có kỹ năng quản lý thời gian học tập

3 Hình thành phong cách học tập riêng của bản thân

4 Đánh giá và điều chỉnh

kế hoạch học tập

5 Lựa chọn và phân loại được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích học tập khác nhau

6 Ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ,

sử dụng khi cần thiết

Trang 34

xuất được bảng cấu trúc của NLTH với đầy đủ các thành tố và tất cả các biểu hiện hành vi của NLTH

Bảng 1.5 Cấu trúc của năng lực tự học (NLTH)

Mức 2 T.A.1.2 Xác định được mục tiêu đúng đắn

nhưng chưa nhanh, cần GV hướng dẫn

2

Mức 1 T.A.1.2 Xác định được mục tiêu không

đúng đắn, chưa trúng trọng tâm, cần GV hướng dẫn chi tiết mới xác định được

1

T.A.2

Lập kế

hoạch tự học

Mức 3 T.A.2.3 Lập được thời gian biểu chi tiết, kế

hoạch cụ thể cho từng nhiệm vụ học tập, có thời gian hoàn thành với từng mục tiêu, nhiệm vụ

3

Mức 2 T.A.2.2 Lập thời gian biểu, kế hoạch cho

công việc cần làm nhưng chưa cụ thể cho từng nhiệm vụ

Mức 3 T.B.1.3 Đọc sách, tài liệu, tìm kiếm thông

tin trên Internet thành thạo nhanh chóng

3

Mức 2 T.B.1.2 Đọc sách, tài liệu, tìm kiếm thông

tin trên Internet với tốc độ bình thường

2

Mức 1 T.B.1.1 Đọc sách, tài liệu, tìm kiếm thông

tin trên Internet với tốc độ hơi chậm

Mức 3 T.B.2.3 Hệ thống thông tin trong tài liệu

dưới dạng bản đồ tư duy, có sự phân tích đánh giá các nguồn thông tin

3

Mức 2 T.B.2.2 Tự tóm tắt được thông tin trong tài

liệu thu nhận được dưới hình thức các mục kiến thức hoặc bảng biểu ngắn gọn, xúc tích

mà không cần sự hướng dẫn của giáo viên

2

Mức 1 T.B.2.1 Tóm tắt được thông tin trong tài

liệu thu nhận được dưới sự hướng dẫn của giáo viên

1

Trang 35

3

Mức 2 T.C.1.2 Các HS hoàn thành nhiệm vụ phân

công, đóng góp cho nhóm nhưng chưa có

sự hỗ trợ nhau tích cực, còn vài HS lúng túng

2

Mức 1 T.C.1.1 Có phân công nhiệm vụ, cá nhân

thực hiện nhiệm vụ nhưng chưa có nhiều đóng góp cho sản phẩm cuối cùng của nhóm

1

T.C.2

Trình bày

kết quả

Mức 3 T.C.2.3 Trình bày được kết quả thực hiện

nhiệm vụ học tập và kết quả này được đa số các bạn đồng tình và lắng nghe và giải thích được thắc mắc của người nghe

3

Mức 2 T.C.2.2 Trình bày được kết quả thực hiện

nhiệm vụ học tập và kết quả này được đa số các bạn đồng tình và lắng nghe

Mức 3 T.D.1.3 Biết lựa chọn công cụ đánh giá và tự

đánh giá phù hợp với mục tiêu học tập, tự xác định trình độ của bản thân, và nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học, có hành động điều chỉnh kịp thời

3

Mức 2 T.D.1.2 Thực hiện được hầu hết các phiếu

học tập do giáo viên giao cho và tự đối chiếu kết quả, và nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học và đề xuất cách điều chỉnh

2

Mức 1 T.D.1.1 Chỉ thực hiện được một số phiếu

học tập và tự đối chiếu kết quả dưới sự hướng dẫn của giáo viên, vẫn chưa nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình

tự học

1

Trang 36

1.4 Một số phương pháp, hình thức tổ chức, kỹ thuật dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí ở trường THPT

1.4.1 Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học vât lí ở trường THPT

1.4.1.1 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề

a Khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề (DHGQVĐ)

- DHGQVĐ là kiểu dạy học đòi hỏi có thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, không những tạo nhu cầu, hứng thú học tập, giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức, mà còn phát triển năng lực sáng tạo của HS

b Tiến trình khoa học xây dựng kiến thức theo kiểu DHGQVĐ

Giai đoạn 1: Làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu

Khái niệm “vấn đề”: Là một khó khăn, một nhiệm vụ nhận thức mà HS không thể giải quyết bằng kinh nghiệm sẵn có Chứa đựng câu hỏi nhưng đó là câu hỏi về một cái chưa biết, câu hỏi mà câu trả lời là một cái mới phải tìm tòi sáng tạo mới xây dựng được và khi giải quyết được thì học sinh thu nhận được kiến thức, kỹ năng, cách thức hành động mới

Khái niệm “tình huống có vấn đề”: Tình huống trong đó xuất hiện vấn đề cần giải quyết mà HS có nhu cầu mong muốn giải quyết, tự tìm thấy mình có khả năng tham gia giải quyết và do đó, sẽ suy nghĩ đưa ra giải pháp riêng của mình, tự tìm tòi giải quyết một cách thích hợp

Giai đoạn 2: Phát biểu vấn đề cần giải quyết (nêu câu hỏi cần trả lời)

Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phát biểu vấn đề cần giải quyết (nêu câu hỏi cần trả lời, và câu trả lời cho câu hỏi nêu ra chính là nội dung kiến thức mới cần xây dựng)

• Giai đoạn 3: Giải quyết vấn đề

Suy đoán giải pháp giải quyết vấn đề: với sự định hướng của GV, HS trao đổi, thảo luận, suy đoán giải pháp giải quyết vấn đề: lựa chọn kiến thức đã biết hoặc đề xuất mô hình giả thuyết có thể vận hành được

Thực hiện giải pháp đã suy đoán: khảo sát lý thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm Học sinh vận hành mô hình (kiến thức đã biết, giả thuyết), rút ra kết luận logic về cái cần tìm, thiết kế phương án thí nghiệm (TN), tiến hành TN, thu thập và xử lý số liệu cần thiết, rút ra kết luận về cái cần tìm

• Giai đoạn 4: Rút ra kết luận

• Giai đoạn 5: Vận dụng kiến thức mới để giải quyết nhiệm vụ đặt ra tiếp theo

1.4.1.2 Phương pháp dạy học theo góc

c Khái niệm về dạy học theo góc

- Một hình thức tổ chức hoạt động học tập thay thế cho dạy học truyền thống theo đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập

Trang 37

d Quy trình tổ chức dạy học theo góc

- Giai đoạn 1: Chọn nội dung và địa điểm và đối tượng HS

Nội dung: Căn cứ vào đặc điểm học theo góc cần chọn nội dung bài học cho phù

hợp: Nghiên cứu cùng một nội dung theo các phong cách học khác nhau hoặc theo các hình thức hoạt động khác nhau hoặc theo góc hỗn hợp phối hợp cả phong cách học và hình thức hoạt động Tùy theo đặc điểm của môn học, của loại bài, GV có thể xác định điều này sao cho tổ chức học theo góc đạt hiệu quả cao hơn các cách học khác

Địa điểm: Không gian lớp học là một điều kiện không thể thiếu để tổ chức học

theo góc Cần có không gian lớn và số HS vừa phải có thể dễ dàng bố trí các góc hơn diện tích nhỏ hơn và có nhiều học sinh

Đối tượng HS: Khả năng tự định hướng của học sinh cũng rất quan trọng để GV

chọn thực hiện phương pháp học theo góc Mức độ làm việc độc lập của HS sẽ giúp cho phương pháp này thực hiện có hiệu quả hơn

- Giai đoạn 2: Thiết kế kế hoạch bài học theo góc

Mục tiêu bài học: Ngoài mục tiêu cần đạt đựoc của bài học theo chuẩn kiến thức,

kĩ năng cũng có thể thêm mục tiêu về kĩ năng làm việc độc lập, khả năng làm việc chủ động của HS khi thực hiện học theo góc

Các phương pháp dạy học chủ yếu: Phương pháp học theo góc là chủ yếu nhưng

cũng cần có thêm một số phương pháp khác phù hợp đã sử dụng như: Phương pháp thí nghiệm, học tập hợp tác theo nhóm, giải quyết vấn đề, phương pháp trực quan, sử dụng đa phương tiện…

Chuẩn bị: GV cần chuẩn bị thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạy học theo góc

Xác định tên mỗi góc và nhiệm vụ Ở mỗi góc: Nhiệm vụ của mỗi góc, sản phảm cần

có và tư liệu thiết bị cần cho họat động của mỗi góc phù hợp theo phong cách học hoặc theo nội dung hoạt động khác nhau Ví dụ đồ dùng thí nghiệm, hóa chất cho góc trải nghiệm của môn Vật lí hoặc Sinh học hoặc môn Khoa học ở tiểu học

Thiết kế các nhiệm vụ và hoạt động ở mỗi góc

Căn cứ vào nội dung cụ thể mà HS cần lĩnh hội và cách thức hoạt động để khai thác thông tin GV cần:

- Xác định số góc và tên mỗi góc

- Xác định nhiệm vụ ở mỗi góc và thời gian tối đa dành cho HS ở mỗi góc

- Xác định những thiết bị, đồ dùng, phương tiện cần thiết cho HS hoạt động

- Hướng dẫn để HS chọn góc và luân chuyển theo vòng tròn nối tiếp

GV cần thiết kế các nhiệm vụ học tập để HS hoàn thành theo phiếu học tập giúp

HS có thể tự đọc và hoàn thành nhiệm vụ của mình

Có thể thiết kế góc với nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Góc thực hành nghe có thể gồm một máy nghe nhạc CD, một bộ chia gồm 4 tai nghe và một đề bài, có thể là bài tập vẽ hoặc bài tập nghe (môn ngoại ngữ) Cũng giống như các bài tập viết khác, giáo viên sẽ góp ý hoàn thiện bài làm của HS

Trang 38

- Góc số học là nơi học sinh sẽ thực hiện các bài tập số học và phải tự sửa kết quả của mình bằng máy tính và bảng cửu chương

- Góc thí nghiệm (góc trải nghiêm) để học sinh khám phá các vật liệu dẫn điện thông qua một thí nghiệm tiến hành từng bước Đây là ví dụ về nhiệm vụ cả nhóm cùng thực hiện Các vật liệu sẽ được thử nghiệm gồm: đuốc, pin, pin đã hết, dây chão, dây đồng, cặp tài liệu, một bình chứa đầy nước và một bình chứa cát vv

- Góc sáng tạo có thể là nơi học sinh sẽ hoàn thành các tác phẩm thủ công hoặc

vẽ theo cảm hứng, vẽ theo đề tài tự do hoặc snág tác thơ, nhạc…

Chú ý: Thiết kế hoạt động để HS thực hiện chọn góc xuất phát và luân chuyển theo các góc trong bài học theo góc, cần đặc biệt chú ý đảm bảo tính hiệu quả, tránh hình thức mà hiệu quả kém

Chúng ta chỉ có thể thiết kế lớp học theo số góc như trên nếu lớp học rất rộng và với nội dung làm việc là cả buổi học hoặc cả ngày học

Trong thực tế thường thời gian tối thiểu có thể là 45 phút hoặc 90 phút với lượng

HS vừa phải và với lớp học bình thường thì chỉ nên thiết kế 2,3- 4 góc là cùng và nội dung chỉ là đối với một môn học cho một bài học hoặc một vài nội dung cụ thể

Thiết kế hoạt động HS tự đánh giá và củng cố nội dung bài học

Cần chú ý học theo góc chủ yếu là cá nhân và các nhóm hoạt động do đó kết quả này cần được xem xét và điều chỉnh

Do đó việc cần thiết là HS báo cáo kết quả ở mỗi góc để xem xét đánh giá HS được tạo cơ hội tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

Để thực hiện điều này GV cần thiết kế và chuẩn bị sao cho HS có thể trình bày kết quả một cách trực quan rõ ràng cho các HS khác có thể nhìn nhận và đưa ra nhận xét

- Giai đoạn 3 Tổ chức dạy học theo góc

Trên cơ sở kế hoạch bài học đã thiết kế GV tổ chức các hoạt động cho phù hợp với đặc điểm học theo góc

Bố trí không gian lớp học

GV cần bố trí không gian lớp họp theo các góc học tập đã thiết kế

Mỗi góc có nhiệm vụ cụ thể và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ rõ ràng kèm theo các tư liệu, thiết bị học tập cần thiết phục vụ cho phong cách học hoặc hình thức hoạt động khác nhau tùy thuộc vào nội dung học tập cụ thể

Nêu nhiệm vụ bài học, giới thiệu phương pháp học theo góc và hướng dẫn HS chọn góc xuất phát

GV nêu nhiệm vụ hoặc vấn đề cần giải quyết của bài học GV giới thiệu phương pháp học theo góc:

GV nêu sơ lợc về nhiệm vụ ở mỗi góc, thời gian thực hiện

GV cũng hướng dẫn HS chọn góc xuất phát theo năng lực theo phong cách theo sở thích GV hướng dẫn HS luân chuyển góc và yêu cầu báo cáo kết quả cuối buổi học

Trang 39

Nếu quá nhiều HS chọn cùng góc xuất phát, GV hướng dẫn điều chỉnh để HS điều chỉnh góc xuất phát cho phù hợp

GV cũng có thể có gợi ý để HS chọn góc Thí dụ với HS yếu thì không nên chọn góc áp dụng làm góc xuất phát còn với HS khá giỏi thì nên xuất phát từ góc áp dụng sẽ phù hợp hơn

Với góc thực nghiệm thì HS có kĩ năng thực hành tốt nên chọn làm góc xuất phát

Góc quan sát và góc phân tích có thể dành cho tất cả các đối tượng HS có thể chọn làm góc xuất phát

Các thỏa thuận HS cần biết là:

• Mỗi một nhiệm vụ học theo góc phải được hoàn thành trong khoảng thời gian tối đa xác định Có thể có góc dành cho HS có tốc độ học nhanh hơn

• Học sinh được quyền lựa chọn góc xuất phát và thứ tự chuyển góc theo một trật tự có thể nhưng cần đảm bảo tránh tình trạng hỗn loạn gây mất thời gian GV có thể đưa ra sơ đồ chuyển góc để nhóm HS lựa chọn

Hướng dẫn HS hoạt động theo các góc

Tiếp theo GV hướng dẫn hoạt động nhóm trong mỗi góc để hoàn thành nhiệm

vụ Ở mỗi góc, mỗi nhóm sẽ có kết quả chung

Chú ý hoạt động ở mỗi góc, trong mỗi nhóm HS cần tổ chức nhóm có nhóm trưởng, thu kí, các nhóm viên và phân công nhiệm vụ phù hợp theo cá nhân, theo cặp

và có sự hỗ trợ giữa HS khá giỏi với HS yếu để đảm bảo trong thời gian nhất định có thể hoàn thành nhiệm vụ và chuyển sang góc mới

Theo dõi và hướng dẫn trợ giúp HS tại mỗi góc

Trong quá trình HS hoạt động GV thường xuyên theo dõi, phát hiện khó khăn của HS để có hỗ trợ kịp thời Thí dụ ở góc HS tiến hành thí nghiệm thường có thể cần được theo dõi hỗ trợ về kĩ thuật thực hiện, cách quan sát và ghi thông tin Ở góc quan sát băng hình HS cũng cần hỗ trợ về cách quan sát và giải thích các hiện tượng

1.4.1.3 Phương pháp dạy học theo nhóm

a Khái niệm dạy học theo nhóm

“Dạy học theo hình thức hoạt động nhóm là dạy học với những nhóm nhỏ, mỗi học sinh với những năng lực khác nhau, sử dụng những hoạt động học tập khác nhau

để nâng cao hiểu biết về môn học Mỗi thành viên trong nhóm chịu trách nhiệm không chỉ với những bài được dạy mà còn có trách nhiệm giúp các thành viên trong nhóm học, và tạo ra bầu không khí của sự thành công Qua quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, tất cả các thành viên trong nhóm đều hiểu và thực hành bài học” [20]

b Các bước dạy học theo nhóm

Bước 1: Nhập đề và giao nhiệm vụ

Giai đoạn này được thực hiện trong toàn lớp, bao gồm những hoạt động chính sau:

Trang 40

• Giới thiệu chủ đề chung của giờ học: thông thường GV thực hiện việc giới thiệu chủ đề, nhiệm vụ chung nhờ những chỉ dẫn cần thiết, thông qua tình huống có vấn đề, thuyết trình, đàm thoại hay làm mẫu Đôi khi việc này cũng được giao cho HS trình bày với điều kiện là đã có sự thống nhất và chuẩn bị từ trước cùng GV

• Xác định nhiệm vụ của các nhóm: xác định và giải thích nhiệm vụ cụ thể của các nhóm, xác định rõ những mục tiêu cụ thể cần đạt đuợc Thông thường, nhiệm vụ của các nhóm là giống nhau, nhưng cũng có thể khác nhau

• Thành lập các nhóm làm việc: có rất nhiều phương án thành lập nhóm khác nhau Tuỳ theo mục tiêu dạy học để quyết định cách thành lập nhóm

• Lập kế hoạch làm việc:

- Chuẩn bị tài liệu học tập

- Đọc sơ qua tài liệu

- Làm rõ xem tất cả mọi người có hiểu các yêu cầu của nhiệm vụ hay không

- Phân công công việc trong nhóm

- Lập kế hoạch thời gian

- Mỗi thành viên đều có phần nhiệm vụ của mình

- Từng người ghi lại kết quả làm việc

- Mỗi người lắng nghe những người khác

- Không ai được ngắt lời người khác

- Đọc kỹ tài liệu

- Cá nhân thực hiện công việc đã phân công

- Thảo luận trong nhóm về việc giải quyết nhiệm vụ

- Sắp xếp kết quả công việc

- Xác định nội dung, cách trình bày kết quả

- Phân công các nhiệm vụ trình bày trong nhóm

- Làm các hình ảnh minh họa

- Quy định tiến trình bài trình bày của nhóm

Bước 3: Trình bày và đánh giá kết quả

• Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp: thông thường trình bày miệng hoặc trình miệng với báo cáo viết kèm theo Có thể trình bày có minh hoạ thông qua biểu diễn hoặc trình bày mẫu kết quả làm việc nhóm

Ngày đăng: 06/06/2022, 10:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC BẢNG BIỂU Số hiệu - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
hi ệu (Trang 10)
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ Số hiệu hình - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
hi ệu hình (Trang 11)
Bảng 1.1. Những điểm khác biệt của chương trình GDPT hiện hành và chương trình GDPT mới - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 1.1. Những điểm khác biệt của chương trình GDPT hiện hành và chương trình GDPT mới (Trang 19)
1) Mô hình giáo dục - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
1 Mô hình giáo dục (Trang 19)
- Vận dụng được kiến thức vật lí để mô hình hóa các hệ vật lí đơn giản và sử dụng được toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết vấn đề cụ thể. - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
n dụng được kiến thức vật lí để mô hình hóa các hệ vật lí đơn giản và sử dụng được toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết vấn đề cụ thể (Trang 22)
Bảng 1.7. Bảng tổng hợp lượng thời gian học sinh dành cho việc tự học - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 1.7. Bảng tổng hợp lượng thời gian học sinh dành cho việc tự học (Trang 46)
• Một vài mô hình lí thuyết đơn giản của các lĩnh vực nghiên cứu chính trong vật lí hiện đại - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
t vài mô hình lí thuyết đơn giản của các lĩnh vực nghiên cứu chính trong vật lí hiện đại (Trang 51)
Bảng 2.1. Chuẩn kiến thức, kĩ năng của nội dung  “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 2.1. Chuẩn kiến thức, kĩ năng của nội dung “Giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lí học” (Trang 52)
1.2. Tìm hiểu một số mô hình lý thuyết và Phương pháp thực nghiệm - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
1.2. Tìm hiểu một số mô hình lý thuyết và Phương pháp thực nghiệm (Trang 53)
Qui trình tổ chức dạy học kiến thức bài 2 “Tìm hiểu một số mô hình lý thuyết và Phương pháp thực nghiệm của lĩnh vực Vật lí thiên văn” - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
ui trình tổ chức dạy học kiến thức bài 2 “Tìm hiểu một số mô hình lý thuyết và Phương pháp thực nghiệm của lĩnh vực Vật lí thiên văn” (Trang 62)
Bảng 3.3. Tổng hợp số HS đạt các mức tính theo số lượng và tính theo % ở tiết học 1 - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 3.3. Tổng hợp số HS đạt các mức tính theo số lượng và tính theo % ở tiết học 1 (Trang 67)
Bảng 3.2. Đánh giá năng lực tự học của 10 HS qua tiết họ c1 Lớp học  thêm  thầy  Dũng Học sinh - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 3.2. Đánh giá năng lực tự học của 10 HS qua tiết họ c1 Lớp học thêm thầy Dũng Học sinh (Trang 67)
Bảng 3.4. Đánh giá năng lực tự học của 10 HS qua tiết học 2 - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 3.4. Đánh giá năng lực tự học của 10 HS qua tiết học 2 (Trang 68)
Bảng 3.5. Tổng hợp số HS đạt các mức tính theo số lượng và tính theo % ở tiết học 2 - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 3.5. Tổng hợp số HS đạt các mức tính theo số lượng và tính theo % ở tiết học 2 (Trang 69)
Bảng 3.6. Đánh giá năng lực tự học của 10 HS qua tiết học 3 - Thiết kế và tổ chức dạy học nội dung “giới thiệu các lĩnh vực nghiên cứu trong vật lý học” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Bảng 3.6. Đánh giá năng lực tự học của 10 HS qua tiết học 3 (Trang 70)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w