Từ năm 2002, chương trình THPT môn Ngữ Văn, Bộ giáo dục đã hướng dẫn: Quanđiểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từĐọc văn, Tiếng Việt đến Là
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGỌC LẶC
SÁNG KIẾN KINH NGHỆM VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY ĐỌC HIỂU
“TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP’’ CỦA HỒ CHÍ MINH
ĐỂ PHÁT HUY NĂNG LỰC HỌC SINH.
Người thực hiện : Trần Thị Diệu Linh Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường THPT Ngọc Lặc SKKN thuộc lĩnh vực môn : Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC Trang
I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài……….… ….……… 2,3
2 Mục đích nghiên cứu……… ….……… 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu……….….……….4
5 Những điểm mới của sáng kiến……….………4
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1 Cơ sở lí luận……… 4,5,6,7,8 2 Cơ sở thực tiễn……… 9
3 Những nội dung tích hợp………9,10 4 Thiết kế giáo án thực nghiệm… 10,1,12,13,14,15,16,17,18,19 5 Kết quả thực nghiệm đối chứng……….20
III KẾT LUẬN……… 21
IV KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT……… 21
V TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………22
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Môn Ngữ văn có vị trí quan trọng trong nhà trường bởi chức năng đặc biệt của nó.Nhà văn Mác-xim Gorky từng nói “Văn học là nhân học” dạy học Văn là dạy người ta cáchsống, cách làm người, cách ăn ở thủy chung, nhân hậu, biết trọng nghĩa khinh tài, biết yêuđiều ngay thẳng và ghét sự độc ác, phản trắc, thiếu trung thực, gian tà Đồng thời nó cũng làtiếng gọi cứu nước thấm đượm ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm, tràn ngập tình cảmanh hùng, khích lệ tinh thần dân tộc và lòng dũng cảm của mọi người, cổ vũ mọi ngườiđóng góp hi sinh cho Tổ quốc, cho sự nghiệp chung Đó chính là giá trị văn học của dân tộc.Giá trị ấy phong phú trên nhiều mặt, bộc lộ mỗi thời một khác nhưng cùng vun đắp đời sốngtinh thần dân tộc
Hiện nay, do sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển nhanh của khoa học, một mặt xãhội đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với thế hệ trẻ, mặt khác cũng làm cho hứng thú
và nguyện vọng của thế hệ trẻ ngày càng phát triển Vì thế học sinh có điều kiện để tìm hiểutường tận nhằm thỏa mãn hứng thú và nguyện vọng của mình thông qua mạng internet, sáchtham khảo, học thêm, các lớp đào tạo kỹ năng sống, các lớp hướng nghiệp Do đó đòi hỏi ởngười thầy phải có tầm hiểu biết rộng, người thầy phải thường xuyên theo dõi những xuhướng, những định hướng của môn mình phụ trách Đồng thời phải tự học, tự bồi dưỡng đểcung cấp cho học sinh những kiến thức chuẩn xác và liên hệ được nhiều kiến thức cũ vàmới, giữa bộ môn khoa học này với bộ môn khoa học khác
Từ năm 2002, chương trình THPT môn Ngữ Văn, Bộ giáo dục đã hướng dẫn: Quanđiểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từĐọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quántriệt trong mọi yếu tố của học tập; tích hợp trong chương trình SGK; tích hợp trong phươngpháp dạy học của giáo viên và trong quá trình học tập của học sinh Nội dung tích hợp liênmôn cũng nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ởcác trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghịquyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Năm học mới 2014-
2015, Bộ GD&ĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục khuyến khích giáo viên dạy học theo hướng
“tích hợp liên môn”
Dạy học liên môn trong môn Ngữ văn học là giúp người học nhận thức được tácphẩm văn học trong môi trường văn hóa-lịch sử sản sinh ra nó hay trong môi trường diễn
Trang 4xướng của nó; thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn học và lịch sử phát sinh; văn họcvới các hình thái ý thức xã hội khác đồng thời khắc phục được tính tản mạn trong kiến thứcvăn hóa của học sinh
Thực tế cho thấy, những khác biệt về kinh nghiệm sống, văn hóa, giáo dục, cáchdùng ngôn ngữ, thể loại…khiến cho việc đón nhận tác phẩm của học sinh so với yêu cầu có
độ vênh khá lớn Học sinh không hiểu do đó không thể yêu thích những tác phẩm văn nghịluận, biểu đạt bằng hệ thống luận điểm, luận cứ, lập luận Cho nên, việc đưa học sinh vềmôi trường văn hóa của thời đại, kéo theo tầm đón nhận của các em về trùng khít với yêucầu tầm đón nhận của tác phẩm là việc cần thiết cả về mặt khoa học lẫn giáo dục
Vì thế trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy việc tham khảo tài liệu từ các lĩnh vựckhác có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ tài liệu thamkhảo giúp người học xây dựng được tầm “đón nhận phù hợp với văn bản”
Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu liên môn còn giúp người học có thêm cơ sở để hiểu rõquy luật phát triển của văn học, hình thành củng cố nhiều phương pháp nghiên cứu văn học.Tài liệu tham khảo về lịch sử văn hóa là phương tiện có hiệu quả để giúp giáo viên làm rõnội dung sách giáo khoa kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, góp phần nâng caochất lượng dạy và học Ngữ văn
Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, tôi luôn trăn trở với câu hỏi:Phải làm thế nào để học sinh hiểu rõ ràng, cụ thể những giá trị nội dung, nghệ thuật, tưtưởng của một tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm nghị luận nói riêng? Phải tích hợpnhư thế nào cho phù hợp, đặc biệt đối với những tác phẩm văn nghị luận để từ đó học sinhvừa hiểu được nội dung nghệ thuật vừa nắm được quan điểm chính trị của người viết, nhất
là khi hệ thống quan điểm chính trị đó có sự thay đổi hoàn thiện trong từng giai đoạn lịchsử? Làm cách nào để học sinh hiểu và đánh giá chính xác quan điểm tư tưởng của tác giả làđiều không dễ
Tôi đã thử nhiều giải pháp, mỗi giải pháp đem lại thành công nhất định Vì thế quamỗi lần thử nghiệm, tôi đã tự điều chỉnh và tự hoàn thiện dần phương pháp dạy học Tôinhận thấy sử dụng phương pháp tích hợp kiến thức của các môn mà học sinh đã và đangđược học như môn Lịch sử, môn GDCD, phân môn Làm văn, Tiếng Việt…vào trong bài
giảng đã đạt hiệu quả nhất định Vì vậy nên tôi chọn đề tài: “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy đọc hiểu “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh để phát huy năng lực học sinh”
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
- Nâng cao hiệu quả giờ đọc văn của trường THPT.
- Phát huy tính tích cực của học sinh
- Khơi gợi lòng say mê yêu thích môn Ngữ văn
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: phương pháp đọc hiểu văn nghị luận trong chương trìnhNgữ Văn THPT
- Phạm vi nghiên cứu: văn bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh trong SGKNgữ Văn 12, tập 1, ban cơ bản
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu lí luận văn học thể loại văn nghị luận;
nghiên cứu lí luận về tích hợp liên môn; nghiên cứu lí luận về cách thiết kế giáo án theođịnh hướng phát triển năng lực học sinh…
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đối chiếu, so sánh số lượng, chất lượng giảngdạy bộ môn Ngữ Văn 12 ở trường THPT
- Phương pháp hỗ trợ: Thống kê, máy chiếu…
5 Những điểm mới của sáng kiến
- Góp phần đưa ra phương pháp dạy học phù hợp đối với đọc hiểu văn bản “Tuyên
ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh) trong chương trình Ngữ Văn 12 ở trường THPT
- Nâng cao hiệu quả dạy - học môn Ngữ Văn ở trường THPT hiện nay
- Góp phần hạn chế tình trạng học sinh chán học văn đang gia tăng hiện nay
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 6nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau.Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cáchriêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết mộtvấn đề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệthống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhauhoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên
hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn
đó Trong Chương trình THPT môn Ngữ văn năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong
thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc” (tr.27).
Trên thế giới, tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại, nó góp phần hìnhthành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính những hoạt động tích hợp, trong đó họcsinh học cách sử dụng phối hợp kiến thức, kĩ năng; có khả năng huy động có hiệu quảnhững kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống cụ thể
Những năm gần đây, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được nghiên cứu,
áp dụng ở THPT như: dạy học tích cực, phương pháp thảo luận nhóm phương pháp tạo ôchữ, phương pháp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học…Tất cả đều nhằm tích hợphóa hoạt động của học sinh và phát triển tư duy sáng tạo chủ động cho học sinh Tích cựcliên môn trong dạy học các môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng thực sự là phươngpháp hữu hiệu, tạo ra môi trường giáo dục mang tính phát huy tối đa năng lực tri thức củahọc sinh đem đến hứng thú mới cho việc day học ở trường phổ thông
1.1.2 Quan điểm vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT.
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳngnhững dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân mônVăn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xãhội, văn hóa nghệ thuật…mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xóa bỏlối day học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lậpgiữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với cáctình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này Nói khác đi, đó
là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt
Trang 7và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủcho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận vàthực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huốngtích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn.
1.1.3 Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học thể loại văn nghị luận.
Việc dạy học tích hợp liên môn trong dạy học thể loại văn nghị luận không chỉ chútrọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thaotác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt học sinh từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối tượnghọc tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp,tránh áp đặt một cách làm duy nhất Giờ học Ngữ Văn theo quan điểm tích hợp phải là mộtgiờ học hoạt động phức tạp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải quyếtnội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động các hoạt động, kĩ năng riêng rẽ lên một nộidung riêng rẽ thuộc nội bộ phân môn
Tích hợp kiến thức Lịch sử, Giáo dục công dân, Tiếng Việt, Làm văn, kĩ năng sống
… trong dạy học tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” ( Hồ Chí Minh) thực sự đã khơi dậy chohọc sinh niềm đam mê, ham hiểu biết đối với tác phẩm nghị luận
1.2 Giới thuyết về các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn:
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển chương trình giáo dục,phương pháp dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá từ mục đích tiếp cận nội dung sang mụcđích phát huy năng lực người học Điều này đã được Nhà nước ta chỉ đạo rõ ràng, cụ thểqua rất nhiều văn bản như: trong Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI;Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, đặc biệt Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục và đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức,
kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng có hiệu quả một yêu cầuphức tạp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản màmọi người lao động, mọi công dân đều phải có, đó là các năng lực chung cốt lõi Các nănglực này liên quan đến nhiều môn học, theo đó, mỗi môn học với đặc trưng và thế mạnhriêng của mình sẽ tập trung hướng đến một số năng lực để cùng với môn học khác sẽ cómục tiêu hình thành và phát triển năng lực chung cần thiết cốt lõi cho học sinh
Trang 8Theo các nhà nghiên cứu “Chương trình phát triển giáo dục trung học” (trong cuốn
“Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triểnnăng lực học sinh môn Ngữ Văn cấp THPT” – Bộ giáo dục và đào tạo), ngoài 9 năng lựcchung các năng lực mà môn Ngữ Văn hướng đến được thể hiện cụ thể như sau:
1.2.1 Năng lực giải quyết vấn đề
Với môn Ngữ Văn năng lực này cũng cần được hướng đến khi triển khai nội dungdạy học của bộ môn, do tính thực tiễn và quy trình hình thành năng lực có thể gắn với cácbối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản) của môn học khi nảy sinh tình huống có vấn
đề Với một số nội dung dạy học trong môn Ngữ Văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạtđộng tập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lý giải các hiệntượng văn học thì quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giải quyết vấn đề theoquy trình đã xác định Quá trình giải quyết vấn đề trong môn ngữ Văn có thể được vận dụngtrong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học
1.2.2 Năng lực sáng tạo
Năng lực này được thể hiện trong việc xác định tình huống và những ý tưởng, đặcbiệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong việc tìm hiểu xem xétcác sự vật, hiện tượng từ những cách nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suynghĩ và cảm xúc của học sinh trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống., năng lực suynghĩ sáng tạo bộc lộ được đam mê và khát khao được tìm hiểu của học sinh, không suy nghĩtheo lối mòn, theo công thức Trong giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao làhọc sinh với tư cách là người đọc phải trở thành người đồng sáng tạo với tác giả
1.2.3 Năng lực hợp tác
Trong môn học Ngữ Văn, năng lực hợp tác thể hiện ở học sinh cùng chia sẻ, phối hợpvới nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra tronggiờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhậncủa cá nhân về những vấn đề đặt ra đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận củanhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hìnhthành nhân cách người học trong bối cảnh mới
1.2.4 Năng lực tự quản bản thân.
Trong các bài học, học sinh cần biết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân vàchủ động điều chỉnh kế hoạch để đạt mục tiêu đặt ra, nhận biết những tác động của ngoạicảnh đến việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy
Trang 9những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được những hành viđúng đắn, cần thiết trong những tình huống cuộc sống.
1.2.5 Năng lực giao tiếp Tiếng Việt.
Đây là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù củamôn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, học sinh được hiểu các quy tắccủa hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụthể… Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để học sinh được giao tiếpcùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếngViệt Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn làdạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành vận dụng những kiến thứcTiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống Năng lực giao tiếp trongnội dung dạy học Tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khảnăng ứng dụng các kiến thức và kỹ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trongcuộc sống
1.2.6 Năng lực thưởng thức văn học.
Đây là năng lực đặc thù của môn học Ngữ Văn, gắn với tư duy hình tượng trong việctiếp nhận văn bản Trong quá trình tiếp nhận văn chương, năng lực này thể hiện ở nhữngphương diện sau:
- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh, hìnhtượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sống qua ngôn ngữnghệ thuật
- Nhận ra được các giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học: cái đẹp, cáixấu, cái bi, cái hài, cái cao cả, cái thấp hèn…từ đó cảm nhận được những giá trị tư tưởng vàcảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm
- Cảm hiểu được những giá trị của bản thân thông qua việc cảm hiểu tác phẩm vănhọc, biết rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phêphán những hành động không đẹp trong cuộc sống , biết đam mê và dám mơ ước cho cuộcsống tốt đẹp hơn
Ngoài những năng lực chủ yếu trên, trong những trường hợp nhất định của quá trìnhdạy học, những năng lực chung khác cũng cần được hướng tới Chẳng hạn năng lực tínhtoán, năng lực tự học…
Trang 10Như vậy, trong quá trình dạy học môn Ngữ Văn, quá trình thực hiện một nội dunghọc tập nhằm hình thành đồng thời nhiều năng lực Bởi thế cần vận dụng một cách hợp lýphương pháp và quy trình dạy học để giúp học sinh thực hiện được các năng lực của cánhân trong từng nội dung học tập.
2 Cơ sở thực tiễn.
- Thực tế giảng dạy cho thấy đối với giáo viên dạy văn bản nghị luận khá khó dạy,
kinh nghiệm chưa nhiều, tài liệu ít Từ khi văn bản “Tuyên ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh)đưa vào chương trình SGK đến nay cũng đã có nhiều bài viết nghiên cứu khoa học và thiết
kế giáo án khá công phu nhưng chưa chú ý đến việc tích hợp liên môn trong dạy học vănbản để học sinh chiếm lĩnh tri thức và phát triển năng lực
- Về phía học sinh, thực tế cho thấy tỉ lệ học sinh chán học văn cũng gia tăng, đặcbiệt thờ ơ với thể loại văn nghị luận Trong khi đó văn bản “Tuyên ngôn độc lập” (Hồ ChíMinh) là áng văn nghị luận bất hủ, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực,ngôn ngữ hùng hồn đầy cảm xúc, là lời khẳng định quyền độc lập tự do cho dân tộc ViệtNam có giá trị thực tiễn cao, giáo viên cần giúp học sinh nhận thức được sự quan trọng củanhân quyền và dân quyền từ đó rèn luyện tài đức để cống hiến xây dựng quê hương đấtnước trong thời đại mới
- Trong nhiều năm dạy học, từ kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy kết hợp tinh thần đổi
mới hôm nay, tôi mạnh dạn đề xuất phương pháp “Tích hợp liên môn trong dạy đọc hiểu
“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh để phát huy năng lực học sinh” nhằm mang lại
kết quả tốt hơn
3 Những nội dung tích hợp
3.1 Môn Ngữ văn:
- Tiếng Việt: Biện pháp tu từ từ vựng, tu từ cú pháp
- Tập làm văn: Sự kết hợp phương thức biểu đạt nghị luận, biểu cảm
- Đọc văn: tích hợp dọc: “Chiếu dời đô” (Lí Thái Tổ), “Bình Ngô Đại Cáo” (Nguyễn Trãi)
- So sánh với các văn bản chính luận: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” (Thân NhânTrung), “ Chiếu cầu hiền’’ (Ngô Thì Nhậm) “Xin lập khoa luật” (Nguyễn Trường Tộ)
3.2 Môn Lịch sử:
- Vận dụng kiến thức lịch sử lớp 12 bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổngkhỡi nghĩa tháng Tám (1930- 1945) Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Giúp học
Trang 11sinh thấy được ý nghĩa của cách mạng tháng Tám 1945 và sự hoàn cảnh ra đời của nướcViệt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
- Vận dụng kiến thức lịch sử lớp 12, bài 17: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ saungày 02-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946 Giúp học sinh hiểu thêm về tình hình lịch sử saukhi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời và chủ trương khắc phục nạn đói 1945
3.3 Môn GDCD
- Lớp 10, Bài 14: “Yêu nước và bảo vệ tổ quốc” Giúp học sinh xác định được nghĩa
vụ, tinh thần trách nhiệm của bản thân đối với tổ quốc
- Lớp 12, Bài 1: “Pháp luật và đời sống” Giúp học sinh nắm được bản chất giai cấp
và bản chất xã hội của pháp luật Hình thành thái độ tôn trọng pháp luật và ý thức tự giáctuân theo các quy tắc đạo đức và pháp luật trong cuộc sống, học tập, lao động
- Lớp 12, Bài 3: “Công dân bình đẳng trước pháp luật” Giúp học sinh có niềm tin đốivới pháp luật, đối với nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân bình đẳng trước pháp luật
- Lớp 12, Bài 6: “Công dân với các quyền tự do cơ bản” Giúp học sinh ý thức bảo vệcác quyền tự do cơ bản của mình và tôn trọng các quyền tự do cơ bản của người khác Biếtphê phán các hành vi xâm phạm tới các quyền tự do cơ bản của công dân
4 Thiết kế giáo án thực nghiệm (2 tiết):
2 Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng đọc hiểu thể loại văn nghị luận
3 Thái độ:
- Ý thức về quyền độc lập tự do bình đẳng của con người và quyền độc lập của dân tộc.
- Ý thức vai trò trách nhiệm của công dân đối với đất nước