Sử dụng thơ văn để khắc họa về một nhân vật lịch sử nhằm tạo ấn tượng sâu đậm cho học sinh khi ghi nhớ kiến thức về những người anh hùng của dân tộc………9 2.3.4... Theo tôi để học sinh yêu
Trang 1MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lí do chọn đề tài……… 1
1.2 Mục đích nghiên cứu……… 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2
2 NỘI DUNG 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.2.1 Kết quả của thực trạng trên………5
2.2.2 Nguyên nhân của thực trạng trên……… 6
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 7
2.3.1 Giáo viên cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa lịch sử và văn học khi dạy phần lịch sử Việt Nam từ năm 1919 – 1945, đồng thời tạo hứng thú cho học sinh khi học lịch sử qua văn học……….7
2.3.2 Cần lựa chọn và sử dụng thơ văn phù hợp với nội dung bài dạy góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945……….7
2.3.3 Sử dụng thơ văn để khắc họa về một nhân vật lịch sử nhằm tạo ấn tượng sâu đậm cho học sinh khi ghi nhớ kiến thức về những người anh hùng của dân tộc………9
2.3.4 Sử dụng thơ văn để khơi gợi cho học sinh hứng thú tìm hiểu về một sự kiện lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh trong học tập………11
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 14
2.4.1 Phương pháp kiểm nghiệm………14
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17
3.1 Kết luận 17
3.2 Kiến nghị 17
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử là quá khứ, là nơi chứa đựng giá trị văn hóa, là nguồn dữ liệu để tham chiếu kinh nghiệm cha ông vào sự phát triển hôm nay Ngoài ra Lịch sử còn là hồn cốt của dân tộc, nơi truyền tải những giá trị truyền thống của dân tộc Nếu lịch sử còn thì văn hóa còn, văn hóa còn thì dân tộc còn Nếu lịch sử không còn thì dân tộc sẽ mất Vì thế, có thể khẳng định có lịch sử mới có tương lai Học lịch sử để dạy các em biết tổ tiên ông cha ta đã lập quốc, xây dựng, bảo vệ
Tổ Quốc như thế nào, đặc biệt là trong thời đại ngày nay Đối với chúng ta, nếu không quan tâm đến lịch sử là có tội với tổ tiên.Vì vậy tiếp thu và kế thừa Lịch
sử dân tộc sẽ là hành trang quan trọng cho sự phát triển của đất nước trong tương lai
Cùng với các môn học khác, môn lịch sử ở trường phổ thông đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức con người Việt Nam mới Trong lễ kỉ niệm 45 năm ngày thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1966 - 2011), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã khẳng
định: “Sử học là ngành khoa học nền tảng hết sức quan trọng, không chỉ dừng lại ở quá khứ mà từ đó biết cả hiện tại và tương lai, phục vụ trực tiếp sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” Trong Điện chúc mừng
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam ngày 16/8/2012, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có
viết “Giáo dục Khoa học Lịch sử cho thế hệ trẻ Việt Nam là vấn đề vô cùng quan trọng đối với tương lai và sự trường tồn, phát triển của dân tộc” Những
nhận định trên đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của môn Lịch sử trong
sự phát triển của xã hội Việt Nam
Tuy nhiên hiện nay môn lịch sử đang ngày càng ít được quan tâm, do đó
chất lượng dạy và học lịch sử đang ngày càng giảm sút Làm sao để học sinh hứng thú khi học lịch sử, làm sao để nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử, làm sao để học sinh hiểu biết nhiều về lịch sử dân tộc?… là nỗi trăn trở của rất nhiều người Việt nam yêu nước, đặc biệt là của những thầy cô đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lịch sử và thấy được thực trạng hiện nay của việc dạy và học lịch sử tôi vô cùng lo lắng Theo tôi để học sinh yêu thích lịch sử, để môn lịch sử có được “chỗ đứng” vững chắc trong giai đoạn hiện nay thì cần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, trong đó đổi mới phương pháp bằng việc vận dụng thơ văn vào trong quá trình giảng dạy Lịch sử có vai trò cực kì quan trọng
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử lớp 12 tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng tài liệu Văn học nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh lớp 12 khi dạy phần lịch sử Việt Nam thời kì 1919 - 1945” làm sáng kiến
kinh nghiệm của mình trong năm học 2021 - 2022
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Kiểm tra, đánh giá thực trạng của việc học tập lịch sử Việt Nam thời kì
1919 - 1945 của học sinh Qua đó giáo viên tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao ý thức, hứng thú, niềm đam mê tìm hiểu lịch sử của học sinh
- Nâng cao hiệu quả giảng dạy và kết quả thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia cho học sinh
Trang 3- Giáo dục lòng yêu nước, biết ơn những anh hùng có công với đất nước, bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc
- Giáo dục cho học sinh biết sống có tinh thần trách nhiệm cao đối với Tổ Quốc
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là bộ môn lịch sử lớp 12 ban cơ bản phần lịch sử Việt Nam từ năm 1919 - 1945 và học sinh THPT lớp 12
- Để có cơ sở đánh giá hiệu quả của đề tài trong thực tế giảng dạy tôi chọn lớp 12A2 năm học 2019 – 2020 làm lớp đối chứng và lớp 12B2 năm học 2020
-2021 làm lớp thực nghiệm Hai lớp này có sự tương đồng về số lượng học sinh,
có sự tương đồng về tinh thần, thái độ và kết quả học tập môn lịch sử
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Sáng kiến này được nghiên cứu dựa trên một số phương pháp như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu các kiến thức về:
+ Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của môn Lịch sử đối sự phát triển của đất nước + Nghiên cứu các tài liệu văn học liên quan đến giai đoạn 1919 - 1945
- Phương pháp quan sát, điều tra:
+ Quan sát quá trình ghi chép, tiếp thu bài của học sinh
+ Trò chuyện, trao đổi với học sinh để thấy được những khó khăn của các em trong quá trình học tập môn Lịch sử
- Phương pháp so sánh, đối chiếu:
+ So sánh, đối chiếu tác dụng của việc áp dụng các kiến thức văn học trong hai năm học khác nhau để thấy được tác dụng của việc sử dụng thơ văn vào trong giảng dạy Lịch sử
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Những phương pháp tôi sử dụng trong đề tài này có điểm mới là: phương pháp dạy học Lịch sử truyền thống người giáo viên thường chỉ dạy kiến thức trong sách giáo khoa, học sinh nghe và chép lại Vì vậy việc học môn Lịch sử thường trở nên hết sức nặng nề, khô khan, nhàm chán, học sinh rất ngại học Còn phương pháp tôi đã sử dụng trong đề tài này hoàn toàn khác Trong các bài giảng tôi thường tìm hiểu kĩ và vận dụng một số kiến thức văn học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với nội dung bài dạy để nâng cao hứng thú cho học sinh Ngay khi sử dụng tôi thấy phương pháp này đón nhận được sự hào hứng của học sinh Học sinh không bị nhàm chán, căng thẳng sau mỗi một tiết học
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Sinh thời Bác Hồ đã căn dặn thế hệ trẻ Việt Nam :
“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Có thể nói Việt Nam là một quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa Vậy làm sao để thế hệ sau có được cái nhìn khách quan, toàn vẹn về lịch sử dân tộc,
về những gì ông cha ta đã làm để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc? Tất cả những vấn đề này đặt lên vai môn lịch sử và những người giảng dạy lịch
sử Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, ngoài những thành tựu văn hóa, sự phát triển kinh tế đất nước, thì chiếm thời lượng không nhỏ trong
Trang 4chương trình bộ môn là những cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ của dân tộc để chống lại các thế lực ngoại xâm
Môn lịch sử lớp 12 bao gồm 2 phần: Lịch sử thế giới từ năm 1945 đến
2000 và Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 - 2000, trong đó Lịch sử Việt Nam
chiếm tới hơn 2/3 thời lượng chương trình Tìm hiểu lịch sử dân tộc là nội dung
cơ bản nhất của chương trình lịch sử lớp 12 Đây là một giai đoạn cực kì quan trọng, chi phối sự phát triển của lịch sử dân tộc trong các giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên có một thực tế là những năm gần đây môn lịch sử ở tất cả các cấp học đang được rất ít học sinh chú ý đến Lên lớp 12 việc học lịch sử đối với học sinh lại càng trở nên nặng nề và mang tính chất đối phó Bởi lẽ hiện nay cùng với sự phát triển chung của xã hội thì nhiều người nghĩ rằng học lịch sử
không còn phù hợp với thời “Kinh tế thị trường” so với các ngành nghề khác.
Vì vậy đa số học sinh chỉ chú ý học các môn khoa học tự nhiên mà rất ít chú ý đến các môn học xã hội, các môn xã hội nói chung và môn lịch sử nói riêng đang bị xem nhẹ Những năm gần đây chất lượng các bài thi Lịch sử do bộ Giáo dục - đào tạo tổ chức rất thấp Các kì thi, cuộc thi gần đây làm cho việc học lịch
sử trở nên báo động Năm học 2015 - 2016 điểm trung bình thi tốt nghiệp môn lịch sử của cả nước là 4,49, năm học 2017 - 2018 là 4,6, năm học 2018 - 2019 là 3,79 Điểm thi năm 2019 của cả nước có cao hơn năm 2018 nhưng nhìn chung vẫn thấp, có tới 70% số bài thi dưới 5 điểm
Năm 2018 tại thành phố Hồ Chí Minh, môn lịch sử có đông học sinh đăng
kí thi nhất ở tổ hợp bài Khoa học xã hội, với 27.941 em Kết quả, chỉ 19,1% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, 80,9 % bài thi có điểm dưới trung bình Tại Đà Nẵng, 90% thí sinh đạt dưới 5 điểm môn lịch sử trong kì thi THPT quốc gia 2018 Tại tỉnh Thanh Hóa trong kì thi THPT quốc gia năm 2018 có 39 bài thi bị điểm liệt môn lịch sử Từ năm 2019 đến nay qua các kì thi điểm trung bình môn Lịch sử
đã được cải thiện nhưng vẫn chưa cao
Ở trường THPT Triệu Sơn 4, kết quả các kì thi môn Lịch sử tuy cao hơn
so với trung bình của cả nước nhưng vẫn thấp hơn nhiều môn thi khác Đây được coi là vấn đề làm cho những giáo viên dạy lịch sử như tôi vô cùng băn khăn, trăn trở
Để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, trước hết phải làm cho học sinh hứng thú trong mỗi tiết dạy để từ đó các em thấy được sự lo gic, mối liên hệ giữa sự kiện lịch sử, thấy được lịch sử rất gần gũi với cuộc sống Nhờ vậy các
em sẽ thấy bài học lịch sử không còn khô khan, nhàm chán nữa Sử dụng thơ văn trong dạy học lịch sử là biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao hứng thú học tập lịch sử cho học sinh Nâng cao hứng thú học tập lịch sử cho học sinh cũng có nghĩa là nâng cao hiệu quả học tập của môn học, nâng cao hiểu biết của học sinh đối với lịch sử dân tộc, từ đó góp phần giáo dục, đào tạo một đội ngũ thế hệ trẻ Việt Nam có bản lĩnh trong quá trình hội nhập và phát triển, giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện tốt chính sách pháp luật của nhà nước… trong đó quan trọng trọng nhất là phát huy, khơi dậy lòng yêu nước đang tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam
Những con số trên cho thấy chất lượng học lịch sử của học sinh ngày càng giảm sút, học sinh ngày càng xem nhẹ môn lịch sử Có rất nhiều nguyên nhân
Trang 5dẫn đến kết quả thi THPT môn lịch sử thấp, trong đó có một nguyên nhân rất quan trọng là phương pháp dạy học, chủ yếu vẫn sử dụng những phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều, thầy cô chủ yếu dạy lại kiến thức trong sách giáo khoa, còn học sinh thụ động ngồi nghe, ghi chép lại Phương pháp truyền thống này dẫn đến học sinh không hứng thú khi học tập
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Ở trường THPT Triệu Sơn 4 trước khi dạy sang phần lịch sử Việt Nam
từ năm 1919 - 1945 tôi thường giành một ít thời gian để kiểm tra hứng thú học lịch sử của học sinh giai đoạn này, từ đó có thể rút ra những nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh không hào hứng khi học lịch sử, đưa ra những biện pháp khắc phục những nguyên nhân của tình trạng trên nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn
Tôi sử dụng phiếu điều tra về hứng thú học tập của học sinh lớp 12A2, 12B2 ở phần lịch sử Việt Nam 1919 - 1945 (lưu ý phiếu điều tra không ghi tên người được điều tra để đảm bảo yếu tố khách quan) và nhận được kết quả như sau:
Mức độ hứng thú
Năm học 2019 - 2020 Năm học 2020 - 2021
Qua bảng điều tra ta thấy số lượng học sinh rất thích môn lịch sử ở cả 2 năm học là rất ít Còn lại đa số học sinh được điều tra cảm thấy bình thường hoặc không thích học lịch sử giai đoạn này Đáng chú ý là ở cả 2 năm học các
em không thích học phần lịch sử này chiếm tỉ lệ khá cao (Lớp 12A2 là 50% và 12B2 là 44,4%)
Từ chỗ không thích học, học sinh thường rất uể oải, mệt mỏi khi đến giờ học Lịch sử
Hình 1: Những hình ảnh uể oải, mệt mỏi của học sinh trong tiết học Lịch sử
Trang 62.2.1 Kết quả của thực trạng trên.
- Từ việc không thích học lịch sử Việt Nam dẫn đến vốn kiến thức lịch sử dân tộc của các em ngày càng bị thu hẹp, các em có lối sống mơ hồ, thực dụng, thích hưởng thụ mà không có ý thức cống hiến Một bộ phận học sinh nói riêng và các bạn trẻ nói chung xa rời quá khứ, sống lệch chuẩn dẫn đến những tệ nạn xã hội ngày càng lan tràn, nổi bật nhất là tình trạng bạo lực học đường trong học sinh ngày nay
Hình 2: Bạo lực học đường
- Nhiều em quay lưng với lịch sử dân tộc, không hiểu được nguồn gốc, qui luật phát triển của xã hội loài người dẫn đến một bộ phận thế hệ trẻ Việt Nam sống lệch lạc, mất gốc, không biết trân trọng quá khứ không có ý thức đấu tranh đúng mực trong cuộc sống, sống nông nổi, nhất thời, lòng yêu nước suy giảm nghiêm trọng
- Do không thích học lịch sử dân tộc, không tìm hiểu cụ thể về lịch sử dân tộc nên nhiều học sinh còn nhầm lịch sử Việt Nam với lịch sử thế giới, nhầm nhân vật lịch sử này với nhân vật lịch sử khác, nhầm lẫn sự kiện này với sự kiện khác… Nguy hiểm hơn nhiều em do không chú ý học lịch sử dân tộc nên khi học thường hiện đại hóa lịch sử thậm chí xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử Chương trình Chuyển động 24h phát sóng năm 2015 thực hiện phóng sự ngắn dành cho các em học sinh trên hai tuyến phố Tây Sơn và Đặng Tiến Đông (Hà Nội) Hà Nội với câu hỏi lịch sử đơn giản Trong đoạn clip hơn một phút chỉ có hai em học sinh trả lời chính xác câu hỏi "Bạn có biết hai ông Quang Trung và Nguyễn Huệ có quan hệ gì với nhau?", còn lại đều khiến người xem bất ngờ: "Họ là anh
em ạ", "Bố con", "Anh em cũng một nhà", "Bạn thân chiến đấu cùng nhau"
Trang 7thậm chí "Trường con chính là trường của ông Quang Trung - trường Nguyễn Du"!
Hình 3: Hình ảnh cắt từ Chương trình Chuyển động 24h khi được hỏi về
mối quan hệ giữa Nguyễn Huệ - Quang Trung
- Các bài kiểm tra ở trên lớp, các kì thi do bộ GD-ĐT tổ chức chất lượng các bài thi lịch sử rất thấp Các kì thi, cuộc thi gần đây làm cho việc học lịch sử trở nên báo động
2.2.2 Nguyên nhân của thực trạng trên
Trước những kết quả trên tôi đã giành thời gian tìm hiểu những nguyên
nhân, từ đó đề ra những biện pháp để khắc phục việc học sinh chán học lịch sử Qua tìm hiểu học sinh ở 2 lớp 12A2 và 12B2 trong 2 năm học khác nhau tôi thu được kết quả như sau:
- Năm học 2020 - 2021:
Lớp Sĩ
số
Nguyên nhân
Do học sinh không theo khối C chỉ tập trung học các môn khối A
Do kiến thức SGK khô khan, nặng nề
Do phương pháp giảng dạy khô khan, buồn tẻ, nặng về trình bày các sự kiện đã diễn ra
Ý kiến khác
12A
2
- Năm học 2021 – 2022 Lớp Sĩ
Nguyên nhân
Do học sinh không theo
Do kiến thức SGK
Do phương pháp giảng dạy khô khan,
Ý kiến khác
Trang 8khối C chỉ tập trung học các môn khối A
khô khan, nặng nề
buồn tẻ, nặng về trình bày các sự kiện đã diễn ra
L
%
Qua bảng thống kê trên ta thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh không hứng thú khi học lịch sử, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất đó là do phương pháp giảng dạy khô khan, buồn tẻ, nặng về trình bày các sự kiện đã diễn
ra, việc học lịch sử trở thành những buổi liệt kê những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ Vì vậy, nhiều học sinh cảm thấy “sợ” khi phải học lịch sử
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1945 gắn với nhiều sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng, nó chi phối sự phát triển của lịch sử dân tộc trong các giai đoạn tiếp theo Vì vậy hiểu rõ được lịch sử giai đoạn này học sinh sẽ có được cái nhìn khái quát nhất về lịch sử Việt Nam, con người và dân tộc Việt Nam, thấy được chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam giai đoạn này được tỏa sáng hơn bao giờ hết Vậy để làm được điều đó, giáo viên phải đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hứng thú, niềm tin cho các em trong từng tiết học Để các em nhận ra rằng lịch sử không đơn thuần là những sự kiện khô khan cứng nhắc giáo viên cần kết hợp lồng ghép thơ văn trong quá trình dạy
2.3.1 Giáo viên cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa lịch sử và văn học khi dạy phần lịch sử Việt Nam từ năm 1919 – 1945, đồng thời tạo hứng thú cho học sinh khi học lịch sử qua văn học.
Có một thời kì dài trong nền giáo dục Việt Nam có quan niệm “văn sử -triết bất phân” Qua đó ta thấy văn học và lịch sử có mối quan hệ mật thiết với nhau Các nhà văn, nhà thơ dựa vào hiện thực lịch sử để viết nên những tác phẩm văn học phản ánh trung thực, sống động các hoạt động của con người Ngược lại khi đọc các tác phẩm văn học, bức tranh về lịch sử dân tộc được hiện
ra một cách chân thực lôi cuốn
Từ lâu môn lịch sử thường được đánh giá là môn học khô khan, nặng nề bởi có quá nhiều sự kiện được phản ánh buộc học sinh phải tiếp thu trong một khoảng thời gian hạn hẹp Mô típ “thời gian - sự kiện” cứ lặp đi lặp lại trong mỗi bài học lịch sử làm cho người dạy đau đầu, người học nhàm chán Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu được đối với con người Chúng ta nên tận dụng những yếu tố tích cực của văn học để loại bỏ những hạn chế trong quá trình dạy học lịch sử, để giờ dạy học lịch sử trở nên nhẹ nhàng, thu hút hơn Khi dạy lịch sử kết hợp với việc đưa một số đoạn thơ, đoạn văn phù hợp vào sẽ giúp học sinh nhớ lâu, nhớ kĩ, khắc họa đậm nét sự kiện, nhân vật lịch sử Các em sẽ diễn đạt tốt các vấn đề lịch sử, hành văn thuần thục hơn
2.3.2 Cần lựa chọn và sử dụng thơ văn phù hợp với nội dung bài dạy góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945.
- Giáo viên cần chọn lựa, phân loại các kiến thức thơ, văn phù hợp với yêu cầu, phương pháp giảng dạy Lịch sử theo từng mảng: thơ về tiểu sử, cuộc đời nhân
Trang 9vật lịch sử; thơ văn về diễn biến trận đánh hay biến cố lịch sử, thơ văn trần thuật
về tội ác của giai cấp thống trị, của bọn xâm lược Sau khi phân loại, tiến hành sắp xếp nguồn tư liệu đó thành từng chủ đề
- Khi sử dụng, giáo viên phải hiểu cặn kẽ và thật tâm đắc với những tư liệu mình đã lựa chọn không nên ôm đồm, quá tải trong việc vận dụng kiến thức thơ văn Các kiến thức thơ văn vận dụng cần phải có nguồn gốc xuất xứ chính xác,
rõ ràng
- Đối với việc sử dụng thơ văn: Học sinh có thể học văn để có những hiểu biết thêm về lịch sử dân tộc Tuy nhiên không phải giáo viên nào cũng biết được điều này, càng không phải ai biết cũng vận dụng một cách có hiệu quả Do vậy khi sử dụng thơ văn cần lưu ý:
+ Chọn lựa những nội dung văn học phù hợp với nội dung lịch sử cần khắc sâu cho học sinh và với thời gian mà sự kiện lịch sử đang diễn ra Đối với phần lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1945 giáo viên nên lựa chọn, sử dụng thơ văn cách mạng của một số nhà thơ tiêu biểu như Tố Hữu (tác phẩm Từ ấy, Việt Bắc, Bài ca xuân 1961, Theo chân Bác… ), Chế Lan Viên (tác phẩm Người đi tìm hình của nước, Tiếng hát con tàu… ), nhà thơ Phan Bội Châu (Tác phẩm văn tế Nguyễn Thái Học), …Bên cạnh đó giáo viên nên sử dụng những tác phẩm hiện thực phê phán của một số nhà văn như Kim Lân (Tác phẩm Làng,), Nam Cao (Tác phẩm Lão Hạc, Chí Phèo, Đời thừa, Một bữa no…), Ngô Tất Tố với tác phẩm Tắt đèn……
+ Tránh lạm dụng, đưa quá nhiều nội dung văn học vào bài học, biến giờ dạy lịch sử thành giờ giới thiệu các tác phẩm văn học, ảnh hưởng tới sự tập trung nhận thức của học sinh vào những vấn đề đang học
+ Cần sử dụng ngữ điệu phù hợp với tài liệu văn học, với nội dung sự kiện cần minh họa
+ Tài liệu văn học phải có giá trị giáo dục, giáo dưỡng cao, phải là một bức tranh sinh động về những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử và phù hợp với trình
độ nhận thức của học sinh
BẢNG THỐNG KÊ CÁC TÀI LIỆU VĂN HỌC SỬ DỤNG
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN 1919 – 1945.
Bài 12: Phong trào
dân tộc dân chủ
1919 – 1925
Mục I (phần 3) Tác phẩm “Lão Hạc” của nhà
văn Nam Cao
Mục II (phần 2) Bài thơ “Phạm Hồng Thái”
của Tố Hữu; Ca dao chống Pháp
Mục II (phần 3) - Bài thơ “Quê Bác” của
Nguyễn Trọng Oánh
- Bà thơ “Người đi tìm hình của nước” của Chế Lan Viên
- Tác phẩm “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng
- Những câu chuyện trong các
Trang 10bài giảng của Giáo sư – Tiến
sĩ Hoàng Chí Bảo
Bài 13: Phong trào dân tộc
dân chủ 1925 – 1930
Mục I (phần 3) Tác phẩm “Văn tế Nguyễn
Thái Học” của Phan Bội Châu Mục II (phần 3) - Bài thơ “Ba mươi năm đời ta
có Đảng”, “Từ ấy” của
Tố Hữu
- Những câu chuyện trong các bài giảng của Giáo sư – Tiến
sĩ Hoàng Chí Bảo
Bài 14: Phong trào cách
mạng 1930 – 1935
Mục II (phần 3)
Bài thơ “Bài ca cách mạng” của Đặng Chánh Kì
Bài 15: Phong trào dân chủ
1936 – 1939
Mục II (phần 3) Những tác phẩm hiện thực phê
phán như “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; “Chí Phèo”, “Đời thừa” của Nam Cao…
Bài 16: Phong trào giải
phóng dân tộc và Tổng
khởi nghĩa tháng Tám
(1939 - 1945)
Nước VNDCCH ra đời
Mục I (phần 1) - Tác phẩm “Tắt đèn” của
Ngô Tất Tố; “Chí Phèo” của Nam Cao
- Những câu chuyện trong các bài giảng của Giáo sư – Tiến
sĩ Hoàng Chí Bảo
Mục II (phần 3) Bài thơ “Bài ca xuân 1961”,
“Theo chân Bác” của Tố Hữu Mục III (phần 2) Bài thơ “Việt Bắc” của Tố
Hữu
Mục III (phần 3) - Tác phẩm“Theo chân Bác”
của Tố Hữu
- Những câu chuyện trong các bài giảng của Giáo sư – Tiến
sĩ Hoàng Chí Bảo
của Tố Hữu, “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh
- Những câu chuyện trong các bài giảng của Giáo sư – Tiến
sĩ Hoàng Chí Bảo
2.3.3 Sử dụng thơ văn để khắc họa về một nhân vật lịch sử nhằm tạo ấn tượng sâu đậm cho học sinh khi ghi nhớ kiến thức về những người anh hùng của dân tộc.
Một nhà văn đã viết “Nếu muốn phác họa về đất nước Việt Nam hãy vẽ thanh kiếm và dòng máu đỏ” Có thể nói chưa có một dân tộc nào trên thế giới