1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số kinh nghiệm trong việc giải bài tập các quy luật di truyền

16 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 239,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Y dược lấy điểm quá cao, học sinh có lực học giỏi đều cả 3 môn Toán, Hóa, Sinh mới có cơ hội đỗ đạt - Do số buổi ôn thi Tốt nghiệp THPT giành cho môn Sinh quá ít không đủ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3.Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 13

3 Kết luận, kiến nghị Kết luận 14

Kiến nghị 15

Tài liệu tham khảo 16

Danh mục các đề tài SKKN đã đạt được 16

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài:

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, nền kinh tế

mở cửa hội nhập và trước những yêu cầu của xã hội cần có sự đổi mới về đào tạo nhân lực cho đất nước Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu Vì vậy, Đảng, Nhà nước, các tầng lớp nhân dân đặc biệt quan tâm và từ đó cũng đã đề ra những yêu cầu cao hơn cho việc dạy và học

Trong xu thế phát triển chung đó, Sinh học là một trong những môn học đang gặp nhiều khó khăn, thử thách Đặc biệt trong dạy và học phần bài tập

“Các quy luật di truyền” Bởi lẽ, giữa chương trình học và chương trình thi hiện hành đang còn có các tồn tại, hạn chế Cụ thể:

- Kiến thức phần các quy luật di truyền là phần tương đối khó, học sinh trong quá trình làm bài tập thường hay lẫn lộn giữa các quy luật, bên cạnh đó ở phần này sách giáo khoa chỉ đề cập suông về mặt lí thuyết, sách bài tập có rất ít bài tập về phần này

- Nội dung trong sách giáo khoa rất cơ bản, kiến thức ít mở rộng, viết chung chung nên học sinh không tự học được

- Nếu giáo viên dạy theo sách giáo khoa và hướng dẫn của sách giáo viên

mà không mở rộng thêm thì rất khó để học sinh hiểu làm được bài tập về phần các quy luật di truyền Do đó giáo viên phải dành một thời gian nhất định để mở rộng một số kỹ năng giải bài tập cho học sinh

- Số lượng tiết dành cho phần này không nhiều, lượng bài tập trong sách giáo khoa ít, nhưng thực tế trong các đề thi Tốt nghiệp THPT của các năm nội dung phần này lại chiếm tỉ lệ nhiều, đều dưới dạng bài tập, nhiều bài tập thậm chí rất khó Chủ yếu các câu vận dụng cao trong đề thi rơi vào phần này

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

- Ở cấp THCS học sinh chỉ tập trung học các môn thi tuyển sinh vào lớp 10 như Toán, Văn, Anh nên kiến thức môn Sinh ở cấp 2 bị mất gốc do đó ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếp thu kiến thức môn Sinh ở cấp 3

- Do kỳ thi Tốt nghiệp THPT có 3 môn thi bắt buộc là Toán, Văn, Anh nên định hướng của phụ huynh học sinh cho con em chủ yếu thi khối có liên quan luôn đến 3 môn này là khối D, sau đó là khối A và A1 nên học sinh không có hứng thú tìm hiểu bộ môn Sinh

- Do môn Sinh kiến thức thi đại học lí thuyết nhiều, ít bài tập gây tâm lí không thích học đối với học sinh

- Do đặc thù của bộ môn, các trường khối B có số lượng ít Trường Đại học

Y dược lấy điểm quá cao, học sinh có lực học giỏi đều cả 3 môn Toán, Hóa, Sinh mới có cơ hội đỗ đạt

- Do số buổi ôn thi Tốt nghiệp THPT giành cho môn Sinh quá ít không đủ

để hướng dẫn học sinh làm được các bài tập khó, các buổi học không liên tục nên học sinh hệ thống kiến thức khó khăn

- Do tâm lí chủ quan của học sinh, các em chỉ coi đây là môn điều kiện thi tốt nghiệp và chỉ cần chống liệt nên rất thờ ơ với môn học

Trang 3

- Cấu trúc đề thi Tốt nghiệp THPT môn Sinh có tới 12 câu bài tập các quy luật di truyền trong đó có nhiều câu vận dụng và vận dụng cao, nếu học sinh không được học nâng cao, mở rộng sẽ không thể làm được những câu vận dụng

và vận dụng cao trong đề vì nội dung này không có trong sách giáo khoa

Với những tồn tại và hạn chế trên nên trong nhiều năm trước đây, kết quả thi Tốt nghiệp THPT môn Sinh của trường THPT Hoàng Lệ Kha chưa đạt được kết quả cao, lượng học sinh theo khối B càng ngày càng ít

Để khắc phục những tồn tại trên tôi đã phải lỗ lực hoàn thiện bản thân, trau dồi chuyên môn và trong quá trình ôn thi học sinh giỏi cấp tỉnh, quá trình ôn thi cho các em khối B, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm khi giải bài tập các quy luật di truyền và tôi muốn truyền đạt tới HS để giúp các em chinh phục được điểm cao trong kì thi học sinh giỏi, kì thi Tốt nghiệp THPT

Bản thân tôi và các thầy cô dạy môn Sinh ở trường rất muốn phát triển khối

B và giúp các em thấy môn Sinh không quá khó như suy nghĩ của các em

Đó là lí do tôi chọn đề tài nghiên cứu “Một số kinh nghiệm trong việc giải bài tập Các quy luật di truyền”.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Tôi chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích:

- Giúp học sinh có hứng thú và yêu thích bộ môn Sinh học

- Giúp học sinh tháo gỡ được những khó khăn khi tiếp cận với bài tập các quy luật di truyền

- Giúp học sinh rèn kĩ năng làm bài tập có tính toán

- Giúp học sinh có phương pháp giải nhanh bài tập các quy luật di truyền khó ở mức vận dụng và vận dụng cao

- Giúp học sinh chinh phục được các trường tốp đầu khối B như trường Đại học Y Hà Nội, Học viện Quân Y

- Tạo nên sự lan tỏa mạnh mẽ đến các đồng nghiệp khác trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giáo dục

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài này sẽ nghiên cứu, tổng kết về “Một số kinh nghiệm, phương pháp giải bài tập Các quy luật di truyền” hiệu quả, nhanh chóng Giúp học sinh có phương pháp giải nhanh bài tập các quy luật di truyền khó ở mức vận dụng và vận dụng cao

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp đối chứng

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Trang 4

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến:

Qua thực tiễn công tác và giảng dạy, tôi nhận thấy:

Thứ nhất: Trong chương trình giáo dục phổ thông mới việc dạy học cần chú trọng hình thành, phát triển cho học sinh không chỉ kiến thức mà học sinh phải vận dụng được kiến thức đã học để làm được các bài tập trong sách giáo khoa và các dạng bài tập trong đề thi Tốt nghiệp THPT

Thứ hai: Phần kiến thức di truyền chiếm một vị trí khá quan trọng, nắm được một cách chắc chắn kiến thức ở phần này học sinh đã có những kiến thức

cơ bản về cơ sở Di truyền học, đây cũng chính là cơ sở khoa học quan trọng để học sinh có thể vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra

Thứ ba: Ở các trường THPT nói chung, đa số học sinh còn gặp nhiều khó khăn khi tìm hiểu kiến thức và vận dụng toán học để làm bài tập về các quy luật

di truyền

Thứ tư : Theo quy định hiện nay, đề thi tốt nghiệp THPT gồm 40 câu, thời gian làm bài 50 phút như vậy mỗi câu phải hoàn thành trong khoảng 1,25 phút Điều đó đã đặt ra yêu cầu cao về kĩ năng làm bài

Bản thân tôi và các đồng nghiệp cùng dạy môn Sinh tại trường THPT Hoàng Lệ Kha đều nhìn nhận được vai trò quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng làm bài tập cho học sinh Từ thực tiễn công tác, đặc biệt là đã nhiều năm

ôn thi Tốt nghiệp THPT, ôn thi học sinh giỏi đạt kết quả cao, tôi xin mạnh dạn viết ra sáng kiến kinh nghiệm “ Một số kinh nghiệm trong việc giải bài tập các quy luật di truyền” để giới thiệu, chia sẻ tới các bạn đồng nghiệp trong trường và các trường bạn cùng tham khảo, áp dụng linh hoạt với đối tượng học sinh của trường mình Tôi rất mong các bạn đồng nghiệp sau khi áp dụng sáng kiến hãy góp ý và bổ sung thêm kinh nghiệm cuả các bạn để sáng kiến này ngày càng hoàn thiện hơn

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Qua phương pháp điều tra học sinh và kinh nghiệm dạy học của bản thân nhiều năm tôi đã rút ra được thực trạng vấn đề của môn Sinh ở THPT như sau:

- Đa số các em học sinh không đầu tư, không tìm tòi những kiến thức và bài tập Sinh học ở trên internet

- Sách tham khảo môn Sinh trong thư viện khá nhiều nhưng các em không tìm hiểu và không mượn về đọc

- Kiến thức môn Sinh học nhiều phần khó đặc biệt là phần chương II: Các quy luật di truyền Sinh học 12 tương đối khó với học sinh Lượng kiến thức của các em về phần này còn rất hạn chế

- Phần này có nhiều quy luật di truyền, các em chưa biết cách nhận biết được các quy luật

- Khoảng cách thời gian học lại kiến thức về phần này không liên tục đều rơi vào 2 lớp cuối cấp là lớp 9 và lớp 12 đây đều là giai đoạn áp lực về thi cử của các em

Trang 5

- Đa số các em đều xem môn này là môn phụ nên không chú ý vào học và không dành thời gian để nghiên cứu môn Sinh

- Môn Sinh không liên quan đến thi tuyển sinh vào lớp 10 nên hầu hết học sinh THCS không thiết tha với môn học chỉ tập chung vào 3 môn Toán, Văn, Anh

- Phương pháp dạy học của một số giáo viên cả THCS và THPT còn hạn chế chỉ mang tính chất giảng giải đọc chép nên không gây được hứng thú học tập ở học sinh Nhiều giáo viên có quan điểm môn mình không thi tuyển sinh vào lớp 10, học sinh thi khối D, khối C không thi tốt nghiệp nên chỉ dạy qua loa cho hết giờ Kết quả nhiều học sinh sau khi học xong không biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn và không làm được bài tập trong sách giáo khoa

- Lượng kiến thức trong một bài lớn nhưng thời gian dành cho một bài quá ngắn (chỉ một tiết 45 phút) nên giáo viên không đủ thời gian giúp các em đào sâu được kiến thức

- Giáo viên dạy theo phương pháp mới, giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh tìm hiểu trước bài ở nhà nhưng đa số các em học sinh không chủ động làm mà trước giờ học mượn vở của bạn đã làm để chép nên sự tiếp nhận kiến thức trên lớp theo phương pháp mới còn hạn chế

Từ những thực trạng trên dẫn đến học sinh không mặn mà với bộ môn Sinh học, số lượng học sinh theo khối B ở trường tôi và gần như tất cả các trường khác trong tỉnh rất ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay Đây là vấn đề không chỉ riêng tôi mà rất nhiều giáo viên giảng dạy môn Sinh đang trăn trở

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Trong quá trình dạy học, tôi luôn có quan điểm học sinh phải có kiến thức

cơ bản thật chắc từ đó các em sẽ dễ dàng tiếp nhận kiến thức nâng cao và tôi đã giúp được các em giải quyết được những tồn tại mà các em hay mắc phải đó là không nhận ra được bài tập mình đang làm là của quy luật di truyền nào

Sáng kiến này tôi áp dụng cho học sinh ôn thi khối B và học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn Sinh từ năm học 2018 - 2019, đã thu được thành công nhất định Sau khi áp dụng, các em đã tiến bộ vượt bậc và đã làm được bài tập vận dụng, vận dụng cao ở chương 2 các quy luật di truyền một cách thành thạo

Cụ thể tôi xin được sơ lược quy trình tôi hướng dẫn các em cách học và làm bài tập chương 2 như sau:

* Đầu tiên : Tôi hướng dẫn và yêu cầu

- Học sinh nắm và viết thành thạo sơ đồ lai của các quy luật di truyền

- Xác định được số giao tử, số kiểu gen, số kiểu hình, tỉ lệ phân li kiểu gen,

tỉ lệ phân li kiểu hình, số tổ hợp của các phép lai

- Biết xác định được tỉ lệ một kiểu gen, một kiểu hình ở đời con của một phép lai

- Biết tìm kiểu gen của bố mẹ dựa vào tỉ lệ phân li kiểu hình ở đời con

- Biết cách nhận biết các quy luật di truyền

Trang 6

Để giúp các em mới chỉ học lớp 10 làm được những yêu cầu trên tôi đã thực hiện:

Thứ nhất: Giúp học sinh nắm chắc từng quy luật di truyền

Với các quy luật của Menđen

- Quy luật phân li: Sau khi học xong quy luật tôi yêu cầu các em cho biết cần phải rút ra được những gì? Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh rút ra và ghi nhớ được những chú ý sau về quy luật phân li

+ Nghiên cứu sự di truyền của 1 cặp tính trạng

+ Phải viết thành thạo giao tử của các kiểu gen: AA, Aa, aa

+ Phải viết thành thạo các sơ đồ lai: AA x AA, AA x Aa, AA x aa, Aa x

Aa, Aa x aa, aa x aa

+ Phải xác định được nhanh, chính xác số kiểu gen, số kiểu hình, tỉ lệ phân

li kiểu gen, tỉ lệ phân li kiểu hình, số tổ hợp của từng phép lai

+ Phải dựa được vào tỉ lệ phân li kiểu hình ở đời con để suy ra được kiểu gen của P

+ Phải phân biệt trường hợp gen trội hoàn toàn và gen trội không hoàn toàn Giáo viên nhấn mạnh những lưu ý trên và lấy một vài sơ đồ lai yêu cầu học sinh không viết sơ đồ lai mà đọc luôn được kết quả số kiểu gen, số kiểu hình, tỉ lệ phân li kiểu gen, tỉ lệ phân li kểu hình, số tổ hợp của từng phép lai Như vậy tôi

đã rèn được kĩ năng cho học sinh

Ví dụ như quy ước A- hoa đỏ trội hoàn toàn so với a – hoa trắng P: Aa x Aa

=> Số tổ hợp ở F1: 4,

Số kiểu gen: 3,

Số kiểu hình: 2,

Tỉ lệ phân li kiểu gen 1: 2 : 1,

Tỉ lê phân li kiểu hình 3 : 1

Với bài tập dựa được vào tỉ lệ phân li kiểu hình ở đời con để suy ra được kiểu gen của P giáo viên lưu ý cho học sinh khi xét sự di truyền của cặp tính trạng

+ Nếu tỉ lệ phân li kiểu hình ở F1 là 3:1 -> kiểu gen của P là Aa x Aa

+ Nếu tỉ lệ phân li kiểu hình ở F1 là 1:1 -> kiểu gen của P là aa x aa

- Quy luật phân li độc lập của Menđen: Khi học sinh viết thành thạo quy luật phân li rồi thì các sơ đồ lai của quy luật phân li độc lập sẽ đơn giản hơn bằng cách hướng dẫn học sinh tách từng sơ đồ lai sau đó nhân các sơ đồ đó lại với nhau sẽ ra được kết quả của đời con Nhấn mạnh cho học sinh phân biệt trường hợp gen trội hoàn toàn và gen trội không hoàn toàn

Ví dụ 1: A- hoa đỏ trội hoàn toàn so với a- hoa trắng

B- quả tròn trội hoàn toàn so với b- quả dài

P: AAbb (Hoa đỏ, quả dài ) x aaBB ( Hoa trắng, quả tròn )

GP: Ab aB

F1: AaBb (100% hoa đỏ, quả tròn)

F1x F1: AaBb x AaBb

F2 = (Aa x Aa) x (Bb x Bb) = (1AA : 2Aa : 1aa) x ( 1BB : 2Bb: 1bb)

=>F2: 1AABB: 2AABb: 2AaBB: 4AaBb: 1AAbb: 2Aabb: 1aaBB: 2aaBb: 1aab

Trang 7

Kiểu hình : 9 hoa đỏ, quả tròn : 3 hoa đỏ, quả dài : 3 hoa trắng, quả tròn: 1 hoa trắng,quả dài

Giáo viên: Hướng dẫn học sinh cách tính số tổ hợp, số kiểu gen, số kiểu hình, tỉ

lệ phân li kiểu gen, tỉ lệ phân li kiểu hình của F2 ở từng cặp tính trạng Sau đó xét chung sự di truyền của các cặp tính trạng đó

Aa x Aa ->1AA : 2Aa : 1aa, phép lai này có :

4 tổ hợp, 3 kiểu gen, 2 kiểu hình, tỉ lệ phân li kiểu gen 1:2:1, tỉ lê phân li kiểu hình 3:1

Bb x Bb ->1BB : 2Bb: 1bb, phép lai này có :

4 tổ hợp, 3 kiểu gen, 2 kiểu hình, tỉ lệ phân li kiểu gen 1:2:1, tỉ lê phân li kiểu hình 3:1

Như vậy ở F2 :

Số tổ hợp : 4 x 4 = 16

Số kiểu gen = 3 x 3 = 9

Số kiểu hình = 2 x 2 = 4

Tỉ lệ phân li kiểu gen = (1:2:1) x (1:2:1)= 1:2:1:2:4:2:1:2:1 = 4:2:2:2:2:1:1:1:1

Tỉ lệ phân li kiểu hình = (3:1) x (3:1) = 9:3:3:1

Ví dụ 2: Quy ước A- hạt vàng trội hoàn toàn so với a- hạt xanh

B- quả tròn trội không hoàn toàn so với b- quả dài

P: AABB (Hạt vàng, quả tròn) x aabb ( Hạt xanh, quả dài)

GP: AB ab

F1: AaBb (100% Hạt vàng, quả bầu dục )

F1x F1: AaBb x AaBb

F2: 1AABB: 2AABb: 2AaBB: 4AaBb: 1AAbb: 2Aabb: 1aaBB: 2aaBb: 1aab

KH : 6 hạt vàng, quả bầu dục : 3 hạt vàng, quả tròn: 3 hạt vàng, quả dài : 2 hạt xanh, quả bầu dục : 1 hạt xanh, quả tròn : 1 hạt xanh, quả dài

Aa x Aa ->1AA : 2Aa : 1aa, phép lai này có :

4 tổ hợp, 3 kiểu gen, 2 kiểu hình, tỉ lệ phân li kiểu gen 1:2:1, tỉ lê phân li kiểu hình 3:1

Bb x Bb ->1BB : 2Bb: 1bb, phép lai này có :

4 tổ hợp, 3 kiểu gen, 2 kiểu hình, tỉ lệ phân li kiểu gen 1:2:1, tỉ lê phân li kiểu hình 3:1

Như vậy ở F2 :

Số tổ hợp : 4 x 4 = 16

Số kiểu gen = 3 x 3 = 9

Số kiểu hình = 2 x 3 = 6

Tỉ lệ phân li kiểu gen = (1:2:1) x (1:2:1)= 1:2:1:2:4:2:1:2:1 = 4:2:2:2:2:1:1:1:1

Tỉ lê phân li KH = (3:1) x (1:2:1) = 3:6:3:1:2:1 = 6:3:3:2:1:1

Sau khi học sinh thành thạo các kỹ năng trên, giáo viên giao các bài tập tương tự và nhiều dạng bài tập khác nhau áp dụng phương pháp trên để học sinh luyện tập, ở phần kiến thức chương 2 thì khâu làm bài tập là quan trọng nhất, qua các bài tập học sinh sẽ hiểu rõ bản chất của quy luật

Dưới đây là một số dạng bài tập luyện tập tôi giao cho học sinh làm

Ví dụ 3: Ở đậu Hà Lan, alen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với alen a

quy định thân thấp, alen B quy định hoa đỏ trội hoàn toàn so với alen b quy định

Trang 8

hoa trắng, các cặp gen phân li độc lập Cho hai cây (P) giao phấn với nhau thu được F1 gồm 25% cây thân cao, hoa đỏ: 25% cây thân thấp, hoa đỏ; 25% cây thân cao, hoa trắng; 25% cây thân thấp, hoa trắng Biết không xảy ra đột biến, theo lí thuyết phép lai nào sau đây phù hợp với kết quả trên?

A AaBb x Aabb C Aabb x aaBb

B AaBb x AaBB D AaBb x aaBb

+ Với dạng bài tập sơ đồ lai dưới dạng kiểu hình, bài yêu cầu tìm sơ đồ lai kiểu gen giáo viên hướng dẫn học sinh cách làm bài tập theo từng bước sau

Bước 1 : Xét sự di truyền của từng cặp tính trạng để tìm ra kiểu gen của từng cặp

Chiều cao cây : Cao/ thấp = (25% + 25%) / (25% + 25%) = 1/1 ->P : Aa x aa Màu sắc hoa : Đỏ / trắng = (25% + 25%) / (25% + 25%) = 1/1 ->P: Bb x bb Bước 2 : Xét sự di truyền chung của 2 cập tính trạng tương phản, để tìm ra sơ đồ lai của P

->P : AaBb x aabb hoặc Aabb x aaBb vì vậy học sinh chọn đáp án C

Ví dụ 4: Ở đậu Hà Lan, alen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với alen a

quy định thân thấp, alen B quy định hoa vàng trội hoàn toàn so với alen b quy định hoa trắng, các cặp gen phân li độc lập Cho hai cây dị hợp (P) giao phấn với nhau thu được F1 gồm 25% cây thân cao, hoa vàng: 25% cây thân thấp, hoa vàng; 25% cây thân cao, hoa trắng; 25% cây thân thấp, hoa trắng Biết không xảy ra đột biến, theo lí thuyết tỉ lệ phân li kiểu gen của F1 là?

Giáo viên hướng dẫn học sinh cách giải nhanh : Từ tỉ lệ phân li kiểu hình theo

đề bài cho 25% : 25% : 25%: 25% = 1:1:1:1 = 4 tổ hợp -> Tổng tỉ lệ phân li kiểu gen = 4 tổ hợp Vậy đáp án nào cho 4 tổ hợp thì học sinh chọn : Đáp án A + Giáo viên lấy các ví dụ các sơ đồ lai khác về 2 cặp, 3 cặp gen cho học sinh làm thành thạo các dạng trên

Trong quá trình tôi hướng dẫn học sinh tôi thấy nguyên nhân chính khiến các em không làm được bài tập quy luật di truyền là do các em chưa biết các nhận dạng bài tập tuân theo quy luật di truyền nào, nên tôi hướng dẫn các em dấu hiệu để nhận biết và đây là mấu chốt quan trọng nhất Ví dụ tôi đưa ra một bài tập sơ đồ lai dưới dạng kiểu hình chưa biết quy luật di truyền, tôi sẽ giúp học sinh biết cách nhận dạng bài tập tuân theo quy luật của Menđen như sau : Xét riêng sự di truyền của từng cặp tính trạng

Xét chung sự di truyền của các cặp tính trạng nếu trùng với kết quả đề bài cho thì các cặp tính trạng đang xét tuân theo quy luật phân li độc lập của Menđen, nếu không trùng với kết quả đề bài cho thì các cặp tính trạng đang xét không tuân theo quy luật phân li độc lập của Menđen

Với các quy luật còn lại, gồm:

-Tương tác gen : Tương tác bổ sung, tương tác cộng gộp

- Liên kết gen và hoán vị gen

- Di truyền liên kết với giới tính

Trang 9

Tôi đều có cách hướng dẫn và giúp các em có cách nhận biết ra quy luật nên kỹ năng làm bài của các em học sinh rất tốt

Khi các em nắm chắc và biết cách nhận biết các quy luật, tôi hướng dẫn các em các dạng bài tập tổng hợp với phương pháp giải nhanh

Cụ thể tôi phân tích một dạng bài tập tổng hợp sau : Quy luật phân li của Menđen kết hợp với quy luật tương tác bổ sung

Khi làm bài tập tổng hợp dạng này học sinh cần có kiến thức cơ bản sau

- Dạng bài tập tổng hợp này có 2 dạng sơ đồ lai : P tự thụ ( AaBb,Dd x AaBb,Dd) và P lai phân tích ( AaBb,Dd x aabb,dd)

- Nếu P dị hợp 3 cặp gen nằm trên 3 cặp nhiễm sắc thể thường khác nhau khi giảm phân cho 8 loại giao tử -> số tổ hợp của phép lai P tự thụ ( AaBb,Dd x AaBb,Dd) là 64, số tổ hợp của phép lai P lai phân tích ( AaBb,Dd x aabb,dd) là 8

- Nhưng ở đây bài cho đời con có 16 tổ hợp = 4 x 4 đối với phép lai tự thụ hoặc

4 tổ hợp = 4x1 đối với phép lai phân tích -> một trong 2 gen quy định tính trạng của tương tác cùng nằm trên 1 nhiễm sắc thể với gen quy định tính trạng tuân theo quy luật phân li -> 3 cặp gen nằm trên 2 cặp nhiễn sắc thể tương đồng

- 2 cặp gen cùng nằm trên 1 cặp nhiễm sắc thể có thể là liên kết gen hoặc hoán

vị gen, phải dựa vào tỉ lệ phân li kiểu hình và số tổ hợp ở đời con để nhận biết + Trường hợp 1: P ( AaBb,Dd x AaBb,Dd) -> F1 = 16 tổ hợp = 4 x 4

P ( AaBb,Dd x aabb,dd) -> F1 = 4 tổ hợp = 4 x 1

->2 cặp gen cùng nằm trên 1 cặp nhieemx sắc thể tuân theo quy luật liên kết gen + Trường hợp 2: P ( AaBb,Dd x AaBb,Dd) -> F1 khác 16 tổ hợp

P ( AaBb,Dd x aabb,dd) -> F1 khác 4 tổ hợp

->2 cặp gen cùng nằm trên 1 cặp NST tuân theo quy luật hoán vị gen

Ví dụ: Ở 1 loài thực vật, nếu trong kiểu gen có mặt cả 2 loại gen trội A và B thì

cho kiểu hình hoa đỏ, nếu thiếu một trong 2 gen trội nói trên thì cho kiểu hình hoa vàng, không có gen trội nào thì cho kiểu hình hoa trắng Alen D quy định quả tròn trội hoàn toàn so với alen d quy định quả dài Cho cây hoa đỏ, quả tròn

dị hợp về 3 cặp gen trên tự thụ phấn thu được đời con phân li tỉ lệ 6 cây hoa đỏ, quả tròn : 5 cây hoa vàng, quả tròn : 3 cây hoa đỏ, quả dài: 1 hoa vàng, quả dài:

1 hoa trắng, quả tròn Biết rằng các gen quy định các tính trạng này nằm trên nhiễm sắc thể thường, quá trình giảm phân không xảy ra đột biến và hoán vị gen Phép lai nào sau đây phù hợp với kết quả trên?

A AdBb

aD x AdBb

aD C BDAa

bd x

BD Aa bd

B AbdabD x aBDAbd D AaBbDd x AaBbDd

Các em chỉ cần 3 suy luận đã chọn được đáp án đó là: Xác định rất nhanh đây là dạng bài tập tương tác gen + phân li, P tự thụ F1 = 6+5+3+1+1=16 tổ hợp -> Liên kết gen, F1 xuất hiện đầu 6 cao nhất -> P dị hợp chéo Vì vậy chỉ trong 1 thời gian rất ngắn các em đã chọn được đáp án A

Trường hợp 2 phức tạp hơn rất nhiều, trường hợp 1 vì 2 gen cùng nằm trên

1 nhiễm săc thể xảy ra hoán vị gen nên tôi nhấn mạnh để các em cần chú ý dấu

Trang 10

hiệu như tôi đã cung cấp ở trên để nhận biết có hoán vị gen xảy ra và tôi hướng dẫn các em làm như sau

*Tương tác gen theo tỉ lệ 9:6:1, 9:3:3:1 + Phân li

- Tỉ lệ 9:6:1, 9:3:3:1 có điểm chung là kiểu gen aabb quy định riêng một kiểu hình nên với phép lai ta có thể dựa vào kiểu hinh do kiểu gen đồng hợp lặn quy định

Ví dụ 1: Ở 1 loài thực vật, gen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với a quy

định thân thấp Màu sắc hoa là do 2 cặp gen không alen phân li độc lập quy định Khi trong kiểu gen có mặt đồng thời cả 2 gen trội B và D quy định kiểu hình hoa

đỏ, khi trong kiểu gen chỉ có mặt của 1 trong 2 gen trội B hoặc D quy định hoa vàng, khi trong kiểu gen chỉ toàn gen lặn quy định kiểu hình hoa trắng Cho cây thân cao hoa đỏ dị hợp 3 cặp gen tự thụ phấn(P), F1 thu được tỉ lệ phân li kiểu hinh là 49,5% cây thân cao, hoa đỏ: 23,25% cây thân cao, hoa vàng: 2,25% cây thân cao, hoa trắng: 6,75% cây thân thấp, hoa đỏ: 14,25% cây thân thấp, hoa vàng: 4% cây thân thấp, hoa trắng Trong số các phát biểu sau, có bao nhiêu phát biểu đúng?

I KG của P là AbaBDd

II Tần số hoán vị gen là 20%

III Tỉ lệ cây thân cao, hoa đỏ dị hợp 3 cặp gen ở F1 là 17%

IV Trong số các cây đồng hợp ở F1 cây đồng hợp lặn chiếm tỉ lệ nhỏ nhất

A 1 B 2 C 3 D 4

Giáo viên hướng dẫn học sinh như sau

- P ( Aa,BbDd x Aa,BbDd) -> F1 khác 16 tổ hợp

-> 2 cặp gen cùng nằm trên 1 cặp nhiễm sắc thể tuân theo quy luật hoán vị gen

- Dựa vào kiểu hình cây thân thấp, hoa trắng ở F1 có kiểu gen aabbdd -> học sinh căn bậc 2 kiểu gen aabbdd để tìm giao tử abd

- Đối chiếu giao tử abd với 0,125

+ Nếu abd > 0,125 -> kiểu gen của P là dị hợp đều và f = ( 0,25 –abd)x4

+ Nếu abd < 0,125 -> kiểu gen của P là dị hợp chéo và f = abd x4

Như vậy ở bài này kiểu hình cây thân thấp, hoa trắng ở F1 có kiểu gen aabbdd

= 0,04 -> abd = 0,2 > 0,125

Vậy kiểu gen của P là hoặc ADBb

ad -> I sai

f = (0,25 – abd) x 4 = (0,25 -0,2) x 4= 0,2 -> II đúng

Cây thân cao, hoa đỏ dị hợp 3 cặp gen có kiểu gen là AaBb,Dd Giáo viên hướng dẫn học sinh tính tách riêng AaBb và Dd sau đó nhân vào với nhau: AaBb = ( 0,42 + 0,12) x 2 = 0,34 Dd = 0,5 -> AaBbDd = 0,34 x0,5 = 0,17 -> III đúng

Cây đồng hợp AAbbdd = 0,01 x 0,5 = 0,0025 < aabbdd = 0,04 -> Câu IV sai Như vậy ví dụ 1 trên có 2 câu đúng, 2 câu sai -> học sinh chọn đáp án B

Ví dụ 2: Ở một loài thực vật, tính trạng hình dạng quả do hai gen không alen

phân li độc lập cùng quy định Khi trong kiểu gen có mặt đồng thời cả hai alen trội A và B cho quả dẹt, khi chỉ có một trong hai alen trội cho quả tròn và khi không có alen trội nào cho quả dài Tính trạng màu sắc hoa do một gen có 2 alen

Ngày đăng: 06/06/2022, 07:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w