1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn ngữ văn lớp 12

22 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN 2022) Một Số Giải Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém Môn Ngữ Văn Lớp 12
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Mai Anh Tuấn
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 91,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn vậy, người giáoviên không chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huytính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.Việc phụ đạo học sinh học y

Trang 1

2.3.3 Phụ đạo chính tả và chữ viết cho học sinh 8

2.3.6 Phụ đạo kỹ năng viết mở bài trong bài nghị luận văn học 11

Trang 2

Trong quá trình giáo dục và đào tạo tri thức cho học sinh qua từng cấp bậc,thì việc nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinhyếu là mục tiêu cơ bản hàng đầu, là mối quan tâm lớn đối với sự nghiệp giáodục Có thể nói, vấn đề học sinh học yếu kém hiện nay đang được nhà trườngquan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này Muốn vậy, người giáoviên không chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huytính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.

Việc phụ đạo học sinh học yếu bộ môn là một trong những vấn đề rất quantrọng, cấp bách, cần thiết và không thể thiếu trong mỗi môn học ở các cấp họcnói chung và ở cấp THPT nói riêng Đối với bộ môn Ngữ văn rất cần phụ đạocho một số học sinh bị mất căn bản từ cấp dưới Bên cạnh đó cũng cần tạo hứngthú học tập môn Ngữ văn cho học sinh để các em tự mình khám phá tri thức, vậndụng được kiến thức vào các bài học có liên quan

Môn Ngữ văn có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho họcsinh Vậy là một giáo viên giảng dạy môn ngữ văn thì ta phải làm gì đối vớinhững học sinh yếu kém? Đó là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúctôi trong suốt quá trình dạy học

Thật khó nói phải có một kiến thức như thế nào cho đủ, nhưng dạy văn phải

có một kiến thức chuyên môn vững vàng Kiến thức ấy thể hiện ở chỗ nắm vữnglịch sử văn học, hệ thống được từng vấn đề cơ bản, chắc chắn ở từng phân môn.Chẳng hạn, cũng là văn nhưng văn thời trung đại khác thời hiện đại về quanniệm thẩm mĩ, về thi pháp Cũng là văn nhưng lối tư duy của văn học dân gian

và văn chương bác học không trùng nhau Kiến thức của người thầy mỏng sẽlàm loạn sự tiếp nhận của học trò, không thuyết phục được đối tượng tiếp nhận,nhất là đối tượng học sinh yếu kém

Trong quá trình công tác tại trường THPT Mai Anh Tuấn, tôi luôn được sựhướng dẫn tận tình của BGH nhà trường, sự hướng dẫn tận tình của tập thểHĐSP Đặc biệt là những khó khăn mà tôi gặp phải trong quá trình giảng dạy,kinh nghiệm phụ đạo học sinh yếu kém luôn được đồng nghiệp chia sẻ, quantâm Chính sự chia sẻ nhiệt tình đó cộng với lòng yêu nghề, luôn trăn trở trước

những học sinh học yếu đã giúp tôi đến với đề tài: “Một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn Ngữ văn lớp 12” Đề tài nhằm đưa ra những biện pháp

giúp các em học sinh học yếu không ngừng cố gắng học tập, góp phần đưa chấtlượng giáo dục dạy và học của nhà trường ngày một đi lên

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

2.1 Nâng cao chất lượng giáo dục môn Ngữ văn ở lớp 12 trường THPTMai Anh Tuấn.

2.2 Cung cấp tư liệu tham khảo giúp cho giáo viên và học sinh THPT nóichung, học sinh lớp 12 nói riêng dạy và học tốt hơn môn Ngữ văn, giảm thiểu sốlượng học sinh yếu kém môn Ngữ văn Từ đó góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục môn Ngữ văn

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, tôi đã áp dụng thực nghiệm trên các lớp 12 mà tôi đã đượcphân công giảng dạy tại trường THPT Mai Anh Tuấn năm học 2021-2022.Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài là triển khai các giải pháp để phụ đạo họcsinh yếu kém môn ngữ văn lớp 12 Nhưng không chỉ đơn thuần là những giảipháp mang tính lí luận mà là những giải pháp bắt nguồn từ thực tiễn giảng dạy,được soi chiếu bởi những tư tưởng tiến bộ và sự thôi thúc giải quyết những vấn

đề nội tại của thực tiễn

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài “Một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn Ngữ văn lớp 12”, tôi chọn phương pháp xây dựng cơ sở lí thuyết, phương pháp điều tra

khảo sát thực tế, phương pháp thống kê xử lí số liệu và phương pháp tổng kếtkinh nghiệm để nghiên cứu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

Trang 4

2.1 Cơ sở lý luận

Văn học vốn là một môn học có đặc thù riêng Bằng những hình tượng vàngôn từ phong phú sinh động của mình, nó cung cấp cho người đọc những kiếnthức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩn trong tâm hồn con người, khơi gợilên một thế giới kì ảo, huyền diệu và lung linh sắc màu bởi vẻ đẹp nhân văntrong mỗi sự vật, hiện tượng trong tác phẩm Từ đó nó tác động tới tâm tư, tìnhcảm và góp phần quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho conngười Chính vì lẽ đó nên môn văn là môn học ít có vẻ khô khan so với một sốmôn khoa học tự nhiên như toán, lí, hóa trong chương trình phổ thông Tuổi trẻ

là lứa tuổi giàu cảm xúc, dễ rung dộng trước cái đẹp nên nếu được thầy cô dẫndắt, hướng dẫn thì sự yêu thích cái CHÂN - THIỆN - MỸ (Những giá trị mà vănhọc đang hàm chứa) nhất định sẽ tăng lên, giúp các em học tốt hơn

2.2 Thực trạng vấn đề

* Thuận lợi

- Đối với học sinh THPT, các em cũng đã bước sang tuổi thanh niên, đa số

đã phát triển về tư duy nên hình thành ý thức và xác định cơ bản mục đích họctập tương đối cao

- Học sinh có thể nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía: gia đình, nhà trường

và xã hội hoặc học tập từ bạn bè

- Đội ngũ giáo viên luôn nhiệt tình, thân thiện và quan tâm giúp đỡ họcsinh đặc biệt là học sinh yếu kém

- Được sự quan tâm, phối hợp của Ban giám hiệu cùng các đoàn thể

- Đặc thù môn Ngữ văn cũng rất gần gũi, có thể vận dụng giải thích các vấn

đề trong thực tế

* Khó khăn

- Đối tượng học sinh yếu kém có những khác biệt về cách nhận thức, đaphần là do hoàn cảnh gia đình, kinh tế, lười học hoặc thiếu sự quan tâm của chamẹ, Những điều này đã ảnh hưởng nhiều đến vấn đề học tập của học sinh, từ đódẫn đến các em chán nản việc học, hổng kiến thức

- Đặc điểm của trường là ở nông thôn, điều kiện học tập của một số họcsinh còn khó khăn

- Mặt khác, còn một bộ phận học sinh ỷ lại, lười suy nghĩ, không chuẩn bịbài ở nhà, trong giờ học thì lơ là, không tập trung, làm giảm khả năng tư duycủa học sinh

* Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém

Về phía học sinh:

Trang 5

Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân họcsinh yếu kém có thể kể đến là do:

- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, nhận thấy rằng các em học

sinh yếu đa số là những học sinh cá biệt, trong lớp không chịu chú ý chuyên tâmvào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, không làm bài tập,

cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường Còn một bộ phận nhỏ thì các em chưaxác định được mục đích của việc học Các em chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáoviên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học để sau đó về nhà lấy ra “họcvẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì Chưa có phương pháp vàđộng cơ học tập đúng đắn

- Cách tư duy của học sinh: Môn ngữ văn được xem là một môn học cần

nhiều yếu tố để học tốt như: cách tư duy tinh tế, sự tỉ mỉ, cảm nhận từ xúc cảmcủa từng cá nhân nên một số em với lối tư duy sơ sài, lười nhác nên không cảmnhận được cái hay cái đẹp của ngôn ngữ cũng như văn chương Từ đó, một số

em dần mất đi hứng thú học và dẫn đến tình trạng yếu kém

- Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp dưới: Đây là một điều không thể phủ

nhận với chương trình học tập hiện nay Nguyên nhân này có thể nói đến bảnthân từng học sinh và cách đánh giá của giáo viên chưa hợp lí, chính xác

Về phía giáo viên:

Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà mộtphần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên:

- Còn một số giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức đến đối tượng họcsinh yếu kém Chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút củahọc sinh

- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho họcsinh yếu không theo kịp

- Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm huyết với nghề, chưa thật sựgiúp đỡ các em thoát khỏi yếu kém, như gần gũi, tìm hiểu hoàn cảnh để độngviên, hoặc khuyến khích các em khi các em có chút tiến bộ trong học tập như làkhen thưởng các em Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kémcủa chính mình và nhụt chí không tự vươn lên

Trang 6

- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào các em nênhọc sinh lười học, xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, giả bệnh, ) cha mẹcũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinhlười học, mất dần căn bản Từ đó dẫn đến tình trạng yếu kém.

Trên đây chỉ là một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng họcsinh yếu mà bản thân trong quá trình giảng dạy nhận thấy

* Kết quả của thực trạng.

Khi được phân công giảng dạy môn ngữ văn khối 12 ở các lớp 12B, 12D,12E, tôi từng bước nhận diện học sinh học yếu kém, phát hiện các nguyên nhândẫn đến tình trạng học sinh yếu kém trước khi tìm các biện pháp giúp đỡ các em.Ngay từ đầu năm học, sau khi tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm, phân tích,đánh giá kết quả đạt được của học sinh, tôi đưa ra các dự báo về học sinh yếukém cho môn ngữ văn của mình Kết quả của dự báo được cụ thể hơn khi tôi chocác em đọc bài trên lớp và viết bài kiểm tra chất lượng đầu năm Kết quả thuđược như sau:

2.3 Các giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề

2.3.1 Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và cách ghi nhớ cho học sinh

- Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền (những kiến thức cơ bản,

có nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu hỏi và bài tập)trong tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh

- Đối với học sinh yếu kém không nên mở rộng, chỉ dạy phần trọng tâm, cơbản, theo chuẩn kiến thức kĩ năng, hoặc làm bài tập nhiều lần và nâng dần mức

độ của bài tập sau khi các em đã nhuần nhuyễn dạng bài tập đó

- Nhắc lại kiến thức kiến thức cơ bản, công thức cần nhớ ở cấp THPT màcác em đã hổng, cho bài tập lý thuyết khắc sâu để học sinh nhớ lâu

Ví dụ:

Theo quan điểm tích hợp, giáo viên cần phải làm cho học sinh thấy đượcmối quan hệ chặt chẽ giữa kiến thức của 3 phân môn Văn - Tiếng Việt - Tập làm

Trang 7

văn Song đối với mỗi phần giáo viên phải đưa ra những tồn tại mà học sinh yếukém hay mắc phải để từ đó khắc phục sửa chữa.

*

Phần Văn bản:

+ Kiến thức: Đa phần học sinh yếu kém học trước quên sau, có khi dạyxong 1 bài các em chẳng nắm được gì ngay cả tên tác phẩm, tác giả, hoàn cảnh

ra đời của tác phẩm, thể loại, phương thức biểu đạt cũng không nhớ

- Còn chưa nắm chắc nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Còn yếu trong việc cảm thụ tác phẩm văn học

- Hướng dẫn các em soạn bài ở nhà: Đọc trước văn bản và trả lời đầy đủcác câu hỏi trong SGK

- Thường xuyên kiểm tra bài cũ, kiểm tra SGK, vở ghi (có nhiều em yếu rất ngại ghi bài)

- Hướng dẫn cách đọc các văn bản thơ hoặc truyện nên gọi các em đọckhoảng 1 khổ hoặc 1 đoạn, giáo viên nhận xét sửa chữa, uốn nắn cách đọc chocác em, kiểm tra các em về việc giải nghĩa từ

- Sau bài học để củng cố kiến thức giáo viên có bài tập trắc nghiệm cho họcsinh làm, giáo viên thu, chấm, nhận xét

- Đối với các em chữ xấu hoặc sai chính tả giáo viên thường xuyên cho các

em luyện chính tả, giáo viên thu, chấm, và nhận xét vào ngày cuối dạy hàngtuần

*

Phần Tiếng Việt.

- Phương pháp dạy Tiếng Việt hiện nay phải dựa trên quan điểm giao tiếp.Theo đó người giáo viên phải tăng cường các hoạt động giao tiếp, đàm thoạigiữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Nhưng còn một bộ phậnhọc sinh học yếu phần Tiếng Việt do các em còn yếu về việc nhận diện từ, câu,chưa biết vận dụng từ câu trong khi nói và viết

- Cách khắc phục như sau:

Trang 8

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh các kiến thức cơ bản về từ, câu trong SGK.+ Sau khi hoàn thành kiến thức bài học trên lớp giáo viên hướng dẫn họcsinh làm toàn bộ các bài tập đã có trong sách giáo khoa Từ bài tập nhận biết đếnbài tập vận dụng kỹ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn

*

Phần Tập làm văn:

Đối với phần tập làm văn, nhìn chung học sinh còn yếu trong việc xác địnhthể loại, cách viết bài, về cách diễn đạt, dùng từ, viết câu nên thường bài của emkhông đạt yêu cầu Để khắc phục học sinh yếu phân môn Tập làm văn, sau khihọc xong từng thể loại giáo viên ra đề cho học sinh làm và hướng dẫn các em từkhâu tìm hiểu đề, tìm ý, cách sắp xếp các ý, cách trình bày bài… Đặc biệt giáoviên phải chú trọng khâu chấm bài và trả bài

Đối với học sinh yếu, giáo viên cần chỉ ra những sai sót cơ bản, tránh gạchnát cả bài gây cho các em tâm lý thất vọng, chán nản Tất cả những ưu – khuyếtđiểm của học sinh nhất là học sinh yếu cần được giáo viên ghi toàn bộ trong sổchấm trả

Khi trả bài: Dựa vào sổ chấm trả, giáo viên đưa ra nhận xét về thể loại, nội

dung, hình thức trình bày

2.3.2 Phụ đạo kĩ năng đọc - hiểu.

Đọc hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trịvăn học Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểucảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chínhcũng như chủ đề của tác phẩm Lí giải là hiểu đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa

xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó Trong quá trình học đọcnhững học sinh khá giỏi sẽ biết cách đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sángtạo, phát hiện Còn học sinh yếu kém không phải hễ “đọc” là “hiểu” Làm sao đểbiến “cái hiểu của thầy” thành cái “tự hiểu” của trò Đọc là cả một núi kiến thức

và một núi công việc

Đối với học sinh yếu kém trong quá trình nhận thức, đọc hiểu văn bản.Một, tôi giúp học sinh phát hiện những chỗ không hiểu, đối thoại để bộc lộ chỗchưa hiểu Giúp học sinh phát hiện những chỗ mâu thuẫn, phi lí phi logich, khóhiểu trong văn bản, phải tìm cái chưa hiểu thì mới kích thích hứng thú tìm hiểu

Trang 9

của học sinh Hai, những chỗ học sinh đã hiểu mà cũng nêu vấn đề thì thực vôích và nhàm chán Vì thế không đòi hỏi cái gì cũng dạy Cần tập trung vào chỗhọc sinh khó hiểu hay không hiểu, tô đậm hay “lạ hóa” những chỗ ấy, tạo thànhvấn đề cho học sinh Ba, vận dụng những điều đã cung cấp, đã biết để lí giải chỗkhông hiểu đó Không bao giờ cung cấp sẵn ngay kết quả đọc- hiểu cho họcsinh.

Phụ đạo phương pháp đọc - hiểu cho học sinh đây cũng là một trong nhữngphương pháp đổi mới dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh khi làm việcvới văn bản Đối với học sinh yếu kém, tôi đặc biệt quan tâm nhiều đến phươngpháp dạy các em làm việc nhiều với văn bản văn học từ ba cấp độ của cấu trúcvăn bản: ngôn từ, hình tượng, ý nghĩa Trước hết học sinh phải hiểu nghĩa từ vànghĩa câu theo theo ngữ pháp Thứ hai phải hiểu nghĩa giữa các câu, tức là nghĩa

ngoài lời Ví dụ nghĩa của câu thơ:“Áo bào thay chiếu anh về đất” (Tây Tiến của

Quang Dũng) không phải chỉ nói đến sự ra đi của người lính Tây Tiến mà còn cangợi sự hi sinh cao cả, thầm lặng của họ, qua đó thể hiện nỗi đau xót, thươngcảm của nhà thơ đối với người lính Tây Tiến Nghĩa ngoài dòng gắn với ý nghĩacủa văn bản, gắn với ngữ cảnh của văn bản

2.3.3 Phụ đạo chính tả và chữ viết cho học sinh

Học sinh trường THPT Mai Anh Tuấn, có nhiều em, nhất là ở xã Nga Liênnói như thế nào thì viết như vậy Nên trong quá trình giảng dạy, tôi luôn chú ýrèn cách phát âm cho học sinh khi các em nói chưa chuẩn Ở lớp 12B, 12D,12E

mà tôi trực tiếp giảng dạy, tôi tập trung vào uốn nắn học sinh mắc những lỗi vềphát âm như:

Chưa chuẩn “n” và “ l”, “ x” và “s” “ ch” và Tr”

Chẳng hạn:

Con lợn => Con nợn

Sặc sỡ => xặc xỡ

Con trâu => con châu

Học sinh ngọng dấu ngã, nói “gỗ” thành “ gổ” “mỡ” thành “mở”… Có thểđưa ra các từ, các câu có dấu ngã để học sinh luyện

Chưa chuẩn âm cuối như “đêm khuya” thành “đêm khuê”, “thuyền” thành

“thuền”…

Giáo viên rèn cho học sinh cách phân biệt phụ âm đầu, các âm đệm, âmchính, âm cuối

Luyện phát âm:

Trang 10

Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm chohọc sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ

là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy

Ghi nhớ mẹo chính tả, giải nghĩa từ

Giáo viên phải đặc biệt chú ý rèn chữ cho học sinh Yêu cầu những em chữxấu, viết ẩu phải có vở tập viết Giáo viên thường xuyên giao bài và kiểm tra.Khen thưởng kịp thời những em có tiến bộ

2.3.4 Phụ đạo kĩ năng dùng từ cho học sinh.

Đây là một kĩ năng khó đòi hỏi người dạy và người học phải kiên trì Giáoviên sửa cách dùng từ cho học sinh khi ở trên lớp trả lời bài và sửa trong bài làmvăn của học sinh Khi chấm bài làm văn của các em, giáo viên đánh dấu nhữnglỗi dùng từ Sau đó yêu cầu học sinh sửa lại trong vở sửa lỗi Có thể đưa ranhững tình huống để học sinh tìm từ phù hợp Các em cũng có thể học cáchdùng từ của những bạn học tốt

2.3.5 Phụ đạo kỹ năng viết văn nghị luận.

Nghị luận là một hoạt động phức tạp, phong phú và đa dạng của tư duy vàngôn ngữ, là một năng lực rất tinh vi của trí tuệ con người Phải thông qua rènluyện lâu dài, bền bỉ mới đạt đến trình độ cao Ở trường phổ thông, học sinhphải kiên trì học tập để dần dần có năng lực và trình độ nghị luận ngày một nângcao Nghị luận thường xuất hiện dưới dạng bài văn nghị luận Đối với đối tượnghọc sinh yếu kém trước khi cho các em viết thành bài, nghị luận cần trải quabước thành câu và thành đoạn

* Câu nghị luận

Rèn luyện học sinh yếu kém là cả một quá trình Với những học sinh này,mỗi giáo viên cần có phương pháp dạy thích hợp Để viết được một đoạn vănnghị luận, khi dạy tôi đưa ra nhiều câu văn để các em so sánh đối chiếu từ đónhận biết được đâu là câu nghị luận

Ví dụ:

Tôi viết các câu:

Những giọt sương sớm mai đang long lanh trên những chùm lá biếc (câu 1) Trên những cành cây đan kết thành một tán rợp, những con chim vừa nhảy nhót chuyền cành vừa hót líu lo (câu 2).

Tình bạn là một trong những tình cảm tốt đẹp của con người (câu 3).

Những khi chúng ta phải sống trong cảnh vắng vẻ, cô đơn, chúng ta cảm thấy cần có những người bạn thân để trao đổi, giãi bày tâm sự (câu 4).

Trên đây là 4 câu văn, hai câu trên không phải là văn nghị luận Câu thứnhất là một câu miêu tả Câu thứ hai là một câu tự sự Cho nên hai câu trên có

Trang 11

thể gọi là hai câu miêu tả - tự sự Làm văn miêu tả hay tự sự, chúng ta thườngviết những câu tương tự như vậy Câu 3 và câu 4 là hai câu văn nghị luận Câu

thứ nhất là một câu phán đoán, đưa ra một nhận xét, một ý kiến về tình bạn Câu thứ hai là một câu suy luận, đặt ra một tình huống để làm nổi bật sự cần thiết

của bạn bè, của tình bạn đối với con người

Câu nghị luận có nhiều dạng khác nhau, song hai dạng nêu trên là tươngđối phổ biến Trong quá trình giảng dạy học sinh yếu kém, giáo viên có thể tómtắt dạng câu nghị luận thành hai công thức cho học sinh dễ hiểu: Câu phán đoán

và câu suy luận

(1) A là B (Câu phán đoán)

(2) Vì A nên B (Câu suy luận)

Công thức (1) cũng có thể có những dạng phán đoán khác như: Tuy Anhưng B; A có thể B vv…

Đối với học sinh khá giỏi, câu nghị luận hay không nhất thiết phải khuônvào một công thức có sẵn nào mà phải luôn sáng tạo Nhưng ở học sinh yếu kémyêu cầu các em tập viết đúng kiểu câu nghị luận đã là một thành công bước đầucủa người dạy

* Đoạn nghị luận

Đối với đối tượng học sinh yếu kém, rèn luyện cho các em viết được vàviết đúng một đoạn văn nghị luận là cả một quá trình nỗ lực không ngừng củathầy và trò

Có khi một ý nghị luận đòi hỏi nhiều câu hợp thành một đoạn nghị luận.Trở lại câu nghị luận về tình bạn ở phần trên, về tình bạn, chúng ta có thể viếtthành một đoạn Ví dụ:

Nhiều người nghĩ rằng sống không có bạn bè, không có tình bạn cũng không sao Thực ra, tình bạn là một trong những tình cảm tốt đẹp của con người Những lúc chúng ta phải sống trong cảnh vắng vẻ, cô đơn, chúng ta cảm thấy cần có những người bạn thân để trao đổi, giãi bày tâm sự Một người bạn tốt có thể giúp đỡ ta, an ủi ta, khuyến khích ta Ta cần đến bạn và ta cũng cần cho bạn nữa.

Trong quá trình giảng dạy học sinh yếu kém, ở đoạn văn nghị luận về tìnhbạn trên, tôi giúp học sinh phân biệt:

Ngày đăng: 06/06/2022, 07:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thực hành làm văn lớp 12 - NXBGD Hà Nội. Lê A (chủ biên), Phạm Thị Huệ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Văn Dụ (2009) Khác
2. Phương pháp dạy học văn, NXBQG Hà Nội. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (2008) Khác
3. Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 12, Bộ Giáo dục và Đào tạo Khác
4. Đổi mới giảng dạy văn trong nhà trường (ĐHSP Huế 2002) Khác
6. Một số kĩ năng cơ bản cần rèn luyện cho học sinh phổ thông trong dạy học làm văn nghị luận, Phạm Khánh Dương, Tạp chí giáo dục, số 462 Khác
7. Một số tài liệu khác khai thác trên mạng internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w