Tuynhiên, chương trình giảng dạy hiện nay nặng về lý thuyết, hànlâm, mang tính áp đặt, nhồi nhét, khô cứng, không gắn liền vớiđời sống, thiếu tính thực tế, thiếu vắng việc hình thành nhữ
Trang 11.Mở đầu.
1.1 Lí do chọn đề tài.
Đạo đức là một trong những phạm trù cơ bản của lý luậngiáo dục, là nội dung quan trọng trong rèn luyện phát triểnnhân cách của mỗi người Việt Nam Đạo đức của người ViệtNam rất giản dị, tự nhiên, trong sáng, đã trở thành một nhân tốkhông thể thiếu được trong đời sống tinh thần, là một tiêuchuẩn quan trọng trong đánh giá, xem xét về phẩm chất nhâncách của mỗi người Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước đang đặt ra những yêu cầu to lớn về chất lượngnguồn lực con người Đó là sự phát triển toàn diện về đạo đức,trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và nhân cách nói chung của conngười Việt Nam, mà trước hết là của thế hệ trẻ Tronghoạt độnggiáo dục đạo đức học sinh ở rường THPT hiện nay thì Ban giámhiệu, Đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn…đều có vai trò như nhau
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm định hướng, tạo điềukiện cho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt độngthực tiễn, qua đó tổ chức, khuyến khích, động viên và tạo điềukiện cho các em tích cực nghiên cứu và tìm ra những giải phápmới, sáng tạo những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trongnhà trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống
Từ đó hình thành những phảm chất, kỹ năng sống và năng lựccho học sinh
Ngày 4/12/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị
số 31/CT-TTg về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho họcsinh, sinh viên Trong đó nêu rõ: “tăng cường giáo dục đạo đức,lối sống cho học sinh, sinh viên thông qua các hoạt động giáo
dục, đào tạo và trải nghiệm”[1] Đây là một chủ trương của
Đảng và Nhà nước nhằm tạo ra những thay đổi lớn trong côngtác giáo dục đạo đức học sinh hiện nay Dạy đạo đức trong nhàtrường vẫn được coi là một trong những hướng đi quan trọng đểchống sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận học sinh Tuynhiên, chương trình giảng dạy hiện nay nặng về lý thuyết, hànlâm, mang tính áp đặt, nhồi nhét, khô cứng, không gắn liền vớiđời sống, thiếu tính thực tế, thiếu vắng việc hình thành nhữngthói quen đạo đức đúng đắn, chưa tạo dấu ấn trong tâm hồnhọc sinh khiến học sinh dễ bị tác động của hoàn cảnh xã hội.Việc tăng cường tính trải nghiệm trong giáo dục đạo đức chohọc sinh, hình thành nhân cách tốt đẹp được xem như là mộthướng đi đúng đắn trong giáo dục hiện đại
Trang 2Xuất phát từ cơ chế thị trường, nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần đang phát huy tác dụng tích cực, tạo nên sự pháttriển năng động và thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở nước
ta Nhưng, kinh tế thị trường cũng bộc lộ những mặt trái, gâyảnh hưởng tiêu cực tới đời sống tinh thần, sự cảm thụ văn hóa –nghệ thuật cũng như trong tâm lý – đạo đức của các tầng lớpdân cư trong xã hội Những ảnh hưởng tiêu cực đó len lỏi, thẩmthấu vào mọi quan hệ xã hội, làm sai lệch các chuẩn mực giátrị, dẫn tới sự suy thoái về đạo đức ở một bộ phận xã hội, ảnhhưởng xấu tới thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THPT
Trường THPT Cầm Bá Thước trong nhiều năm qua đã thựchiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình, đã có nhiềuthành tích trong hoạt động giáo dục nói chung và hoạt độnggiáo dục đạo đức học sinh nói riêng.Việc đánh giá đúng tìnhhình, nhận diện đúng các vấn đề và tình huống, phát hiện đượcnhững trở ngại và vướng mắc trong công tác giáo dục đạo đứchọc sinh để tìm ra các nguyên nhân và đề xuất các giải phápnhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường
sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực của đời sốngđạo đức và giáo dục đạo đức hiện nay Đó là một việc làm cầnthiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội
Xuất phát từ tình hình thực tế công tác giáo dục đạo đứccho học sinh ở trường THPT Cầm Bá Thước tôi lựa chọn vấn
đề:"Giải pháp nâng cao giáo dục đạo đức cho học sinh THPT thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhằm bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất, năng lực của học sinh tại trường THPT Cầm Bá Thước"làm đề tài
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu áp dụng giáo dục đạo đức học sinh nói chung và giáo dụcđạo đức học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói riêngtại trường THPT Cầm Bá Thước nói riêng
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Trang 3Thu thập và đọc các tài liệu lý luận, văn bản pháp qui, cáccông trình nghiên cứu khoa học Từ đó phân tích và tổng hợpcác vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
Phân tích và tổng hợp các kĩ thuật và phương pháp dạyhọc tích cực ở trường THPT
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu : giúp giáo viên
có cái nhìn theo hệ thống từ bao quát đến cụ thể khi xác lậpmục tiêu và các phương pháp thực hiện Phương pháp phân tíchthường được giáo viên sử dụng để phân tích đánh giá tình hìnhhọc sinh ở trong và ngoài nhà trường
- Phương pháp điều tra Thông qua hệ thống câu hỏi theonội dung xác định nhằm thu thập những thông tin khách quannói lên nhận thức và thái độ của học sinh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm Giáo viên thu thậpnhững thông tin về sự thay đổi nhận thức và hành vi của họcsinh
- Phương pháp trao đổi, phỏng vẫn theo chủ đề Sử dụng
hệ thống câu hỏi theo chủ đề xác định để nắm bắt được nhậnthức và thái độ của hock sinh
- Phương pháp so sánh: Giáo viên nên so sánh tình hìnhhọc tập, lực học của học sinh ở các lớp khác nhau trong mộtkhối, từ đó xác định mục tiêu, các hoạt động phù hợp
- Phương pháp cân đối: Giáo viên căn cứ vào các điều kiện,thế mạnh, khả năng học tập của từng lớp để đưa ra những chỉtiêu hợp lý, từ đó xác định các nhiệm vụ, giải pháp để phân phốitiềm lực cho loại hoạt động học nhằm thực hiện mục tiêu
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận.
2.1.1 Khái niệm về giáo dục đạo đức
Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm giáo dục đạo đứctrong các công trình nghiên cứu của mình
Theo Macarenko (1931): “giáo dục đạo đức có nghĩa là rèn luyện nhữngphẩm chất tốt cho học sinh (tính trung thực, tính thật thà, thái độ tận tâm, tìnhthần trách nhiệm, thức kỷ luật, lòng yêu thích học tập, thái độ xã hội chủ nghĩađối với người lao động, chủ nghĩa yêu nước) và trên cơ sở đó uốn nắn những sai
sót của chúng” [2].
Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987) thì “Giáo dục đạo đức là quátrình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với
cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu,
thói quen của người được giáo dục” [3].
Trang 4Như vậy, các tác giả đều thống nhất cho rằng giáo dục đạo đức là quátrình hình thành cho con người những quan điểm, những chuẩn mực đạo đức cơbản của xã hội Con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiệntượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thânmình Công tác giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành, phát triển nhâncách con người mới phù hợp với từng giai đoạn phát triển
2.1.2 Khái niệm về hoạt động trải nghiệm
Theo Đinh Thị Kim Thoa (2015), hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáodục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh đượctham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũngnhư ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, phát triển năng lực thựctiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình [4]
Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục phổthông, hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từlớp 1 đến lớp 12 Trong đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiềulĩnh vực giáo dục và nhóm kỹ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sốngnhà trường, gia đình và tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướngdẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất, năng lựcchung và năng lực đặc thù [5]
2.1.3 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông thông qua hoạt động trải nghiệm
Mục tiêu giáo dục đạo đức trong trường THPT là nhằm trang bị cho họcsinh những tri thức cần thiết về đạo đức nhân văn, văn hóa xã hội, tri thức vềcuộc sống, giao tiếp ứng xử, học tập, lao động, hoạt động xã hội Thông quahoạt động giáo dục này để hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn, tình cảm,niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người xung quanh, hình thànhthói quen tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, chấp hành quyđịnh của pháp luật, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệvào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.1.4 Mối liên hệ giữa giáo dục đạo đức cho học sinh với hoạt động trải nghiệm
Là quá trình tác động tới học sinh, nhằm hình thành cho học sinh ý thức,tình cảm, niềm tin đạo đức và xây dựng những thói quen, hành vi đạo đức trongđời sống xã hội thông qua các hoạt động giáo dục do giáo viên định hướng, thiết
kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệmcảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiếnthức, kỹ năng của các môn học để thể hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giảiquyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợpvới lứa tuổi
Chuẩn đầu ra của Chương trình giáo giáo dục phổ thông sau 2018 (Banhành kèm theo Thông tư của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo số32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018) xác định sau khi học xong
Trang 5chương trình giáo dục phổ thông học sinh cần đạt được 5 phẩm chất (yêu nước;
nhân ái; chăm chỉ; trách nhiệm; trung thực) và 10 năng lực [5] Căn cứ vào
mục tiêu của giáo dục phổ thông, căn cứ vào chuẩn đầu ra về 5 phẩm chất cầnhình thành, phát triển cho học sinh phổ thông, căn cứ vào những yêu cầu cầnđạt được của hoạt động trải nghiệm ở trường phổ thông và đặc điểm của họcsinh phổ thông trong giai đoạn hiện nay, có thể xác định nội dung giáo dục đạođức cho học sinh phổ thông hiện nay gồm: Giáo dục lòng yêu nước: yêu thiênnhiên, di sản, yêu con người; tự hào và bảo vệ thiện nhiên, di sản, con người.Giáo dục lòng nhân ái: yêu con người, yêu cái đẹp, yêu cái thiện; tôn trọng sựkhác biệt giữa con người, nền văn hóa; sẵn sàng học hỏi, hòa nhập và giúp đỡmọi người; cảm thông, độ lượng; ghét cái xấu, cái ác Giáo dục tính chăm chỉ:chăm học, ham học, có tinh thần tự học; chăm làm, nhiệt tình tham gia cáccông việc của tập thể; vượt khó trong công việc Giáo dục tính trung thực: tôntrọng lẽ phải; Lên án sự gian lận; thật thà, ngay thẳng trong học tập và làmviệc Giáo dục tính trách nhiệm: bảo vệ bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội,môi trường; không đổ lỗi cho người khác
2.2 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh tại trường THPT Cầm Bá Thước.
2.2.1 Thuận lợi – Khó khăn
- Thuận lợi.
Đối với trường THPT Cầm Bá Thước, bên cạnh công tácgiảng dạy, công tágiáo dục đạo đức học sinh luôn được nhàtrường luôn quan tâm, chú trọng Đồng thời, lãnh đạo nhàtrường luôn thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục đạođức cho học sinh thông qua các hoạt động trait nghiệm để cónhững chiến lược mới nhằm thực hiện tốt tiêu chí “xây dựngtrường học thân thiện, học sinh tích cực”
Các đoàn thể trong nhà trường luôn quan tâm đến côngtác giáo dục đạo đức của học sinh, luôn có tinh thần hợp tác đểcông tác giảng dạy và công tác giáo dục đạo đức của học sinhđạt kết quả tốt nhất
Gia đình học sinh phần lớn quan tâm đến việc học tập vàrèn luyện của học sinh ở trường, nên sự phối kết hợp giữa nhàtrường với phụ huynh học sinh có nhiều thuận lợi Bản thân các
em đa phần có nhận thức khá, tương đối ngoan, có ý thức vươnlên trong học tập và rèn luyện,
- Khó khăn.
Trường THPT Cầm Bá Thước, nằm trên địa bàn trung tâmkinh tế, chính trị, văn hóa của huyện Thường Xuân, bên cạnhnhững mặt tích cực còn rất nhiều tác động của mặt trái đến các
em như các quán internet, nhiều trò chơi lôi cuốn các em Địa
Trang 6bàn kéo dài cũng là một khó khăn trong quản lí học sinh, nhất làsau giờ tan trường.
Đa số học sinh là con em gia đình làm nông nghiệp, một số
em hoàn cảnh gia đình còn khó khăn, có em bố mẹ đi làm xa, ởvới ông bà Đặc biệt một bộ phận không nhỏ các em phải ở trọnên thiếu sự quan tâm thường xuyên của bố mẹ, một số phụhuynh chưa thật sự để tâm đến việc học tập và giáo dục concái, phó mặc cho nhà trường Điều này cũng là một khó khănđối với công tác dạy và học tại trường THPT Cầm Bá Thước
2.2.2 Ưu điểm – Hạn chế
- Ưu điểm
Về phía nhà trường: Ban giám hiệu nhà trường và phần lớngiáo viên trong nhà trường đã nhận thức được vai trò vị trí củacông tác giáo dục đạo đức học sinh trong trường phổ thông xemđây là mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện học sinh làtrách nhiệm của toàn xã hội
Về học sinh: Phần lớn học sinh thấy được tầm quan trọngcủa công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông, giúpcác em hiểu được giá trị bản thân
Về phụ huynh và lực lượng ngoài xã hội: Xem đây là mộthoạt động cần thiết, bổ ích giúp các em hiểu biết cơ bản về bảnthân để các em lựa chọn đúng đắn cho tương lai sau này
Giáo dục đạo đức học sinh thông qua các hoạt động trảinghiệm gắn với các nội dung liên quan đến học tập và trảinghiệm có tác dụng cao nhất nhằm phát triển phẩm chất vànăng lực học sinh Thông qua các hoạt động trải nghiệm có tácdụng hỗ trợ cho giáo dụcgiúp các em trở thành người có ích khicác em rời ghế nhà trường
- Hạn chế.
Về phía nhà trường: GVCN, GVBM chỉ quan tâm đến chấtlượng các bộ môn văn hoá, chưa quan tâm nhiều đến giáo dụcđạo đức học sinh Giáo dục đạo đức học sinh thông qua các hoạtđộng trải nghiệm đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị rất kỹ lưỡng vàtrong quá trình thực hiện phải thường xuyên chú ý tới nhiệm vụgắn các hoạt động trải nghiệm với nội dungmà các em quantâm hiện nay Giáo viên phải tổ chức thật khoa học tất cả cáckhâu: từ việc đưa đón học sinh đi lại, giao nhiệm vụ, theo dõihoạt động của học sinh để có kết quả học tập mong muốn saumỗi hoạt động
Về học sinh: Một số học sinh cho rằng công tác giáo dụcđạo đức không liên quan đến kết quả học tập, trong giờ học
Trang 7không chú ý Đa số học sinh Trường THPT Cầm Bá Thước là họcsinh ở trọ nên vẫn theo nếp sống cũ của bản thân, chưa tự giác,chưa chủ động phối hợp với giáo viên nên kết quả học tập chưacao.
Về phụ huynh và lực lượng ngoài xã hội: Một số phụ huynhcho rằng chỉ cần học văn hoá cho tốt là được, còn việc giáo dụcđạo đức học sinh thì có cũng được mà không cũng không saochỉ cần các em ngoan là được
2.2.3 Nguyên nhân và các yếu tố tác động
Có nhiều nguyên nhân và yếu tố tác động đến kết quả củagiáo dục đạo đức học sinh, có nguyên nhân chủ quan như điềukiện kinh tế của gia đình học sinh, độ tuổi, địa bàn sinh sốngcủa học sinh Cũng có những nguyên nhân khách quan như:nhận thức của gia đình học sinh đối với việc học của con cái,tính cách ham chơi và nhận thức chậm của các đối tượng họcsinh, địa bàn sinh sống của học sinh luôn tiềm ẩn nhiều trò chơi,lôi kéo, cám dỗ các em (Thị trấn Thường Xuân rất nhiều cácquán internet, các quán bi-a )…tất cả là những yếu tố có tácđộng lớn đến công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
Tuy nhiên, đó chỉ là những nguyên nhân từ phía học sinh,còn để làm tốt công tác giáo dục đạo đức thì chính người giáoviên mới thật sự là yếu tố có tính tác động, quyết định nhất đến
sự thành công hay thất bại của công tác giảng dạy và giáo dụchọc sinh Vì thế, người làm công tác giáo dục phải là nhữngngười luôn nhiệt huyết, năng động, chuyên cần và luôn cónhững thay đổi trong quá trình công tác để có thể đạt đượcnhững kết quả tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
* Kết quả khảo sát thực trạng.
Trước khi áp dụng giải pháp tôi tiến hành khảo sát tại thời điểmtháng 9 năm 2021 với tổng số 6 lớp với 242 học sinh
Kết quả khảo sát như sau:
TT Nội dung khảo sát
Tổng số học sinh
Mức độ
Số lượn g
Phầ n trăm
Số lượn g
Phần trăm
Trang 8Thời gian thực hiện kế hoạch từ tháng 9 năm 2021 đếntháng 4 năm 2022 (đây là thời gian hợp lí để các em học sinhtham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong năm học trừ thờigian ôn thi).
Việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cụ thểchohọc sinhđược tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm
sáng tạo Công việc này bao gồm một số việc như: căn cứnhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, giáo viên cần tiếnhành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành; xác định rõ đốitượng thực hiện; việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia giúpgiáo viên thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi THPT
Bước 2: Xác định mục tiêu của hoạt động trải nghiệm
sáng tạo Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả củahoạt động Các mục tiêu hoạt động cần được xác định rõ ràng,
cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêucầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ và định hướng giá trị.Khi xác định mục tiêu phải trả lời các câu hỏi sau: Hoạt độngnày có thể hình thành cho học sinh những kiến thức, giá trị vàthái độ ở mức độ nào? Những thái độ, giá trị nào có thể đượchình thành hoặc thay đổi ở học sinh sau hoạt động? Ví dụ như:Trong một nhóm học sinh có tương tác với nhau hay không?
Trang 9Những tương tác đó có phát huy được năng lực, phẩm chất củacác thành viên trong nhóm không?.
Bước 3: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện,
hình thức của hoạt động Căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu
đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nhà trườngcủalớp, và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợpcho từng hoạt động Liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phảithực hiện Từ đó lựa chọn hình thức cho đến nội dung hoạt độngtương ứng
Bước 4: Lập kế hoạch Căn cứ vào nội dung hoạt động,
trên cơ sở đó lập kế hoạch hoạt đọng phù hợp với mục tiêu củatừng hoạt động, tức là tìm các nguồn lực và thời gian, khônggian,…cần cho việc hoàn thành các mục tiêu đề ra Tính cân đốicủa kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực vàđiều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu Ví dụ như: Đối tượng thamgia là học sinh, thời gian tham gia là ngoài giờ lên lớp hay giờhọc chính khóa,không gian tổ chức các hoạt động là trongtrường hoặc ngoài trường Nguồn lực cần có là giáo viên, họcsinh, cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhàtrường,…Cơ sở vật chất,trang thiết bị, kinh phí cho cho hoạtđộng
Bước 5: Thiết kế chi tiết hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Bước này cần xác định: Bao nhiêu việc phải thực hiện? Nội dungcủa mỗi việc đó ra sao? Tiến trình và thời gian thực hiện cácviệc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các nhóm hay cánhân mỗi họ sinh? Yêu cầu cần đạt của mỗi việc? Ví dụ như:Những nội dung chính, những chủ đề chính, thời gian tiến hành,không gian tổ chức, phương tiện hỗ trợ, mục tiêu cần đạt trongnăm học, mức độ đạt được về kỹ năng làm việc nhóm qua mỗilần hoạt động như: nghe, nói, diễn đạt,tình cảm, thái độ, sự hiểubiết…
Bước 6: Trải nghiệm (thu thập thông tin) Giáo viên triển
khai cho học sinh tìm hiểu các kiến thức liên quan đến chủ đềtrong một hoạt động cụ thể Tìm hiểu kiến thức đã có của họcsinh liên quan đến nội dung hoạt động Có thể giáo viên thựchiện việc này bằng cách sử dụng các câu hỏi được chuẩn bịtừtrước Nếu giáo viên sử dụng nhiều câu hỏi thì in thành phiếuhọc tập và yêu cầu học sinh trả lời cá nhân hay nhóm Nếu giáoviên sử dụng ít câu hỏi thì có thể hỏi trước lớp và yêu cầu họcsinh trả lời Nếu giáo viên đã dự đoán được những khó khăn,chướng ngại mà học sinh sẽ gặp phải thì không cần thực hiệnviệc này.Tổ chức cho học sinh tiếp xúc với các tình huống học
Trang 10tập Các tình huống học tập được giáo viên in thành các phiếuhọc tập hay trình bàytrước lớp Học sinh nhận phiếu học tập vàtìm hướng giải quyết các vấn đề được nêu ra.
Bước 7: Phân tích trải nghiệm, rút ra bài học Giáo viên
yêu cầu học sinh tổng hợp kiến thức thu được từ các hoạt động
cụ thể ở trên Tổ chức và điều tiết cho học sinh trao đổi, thảoluận theo nhóm Giáo viên thúc đẩy các nhóm thực hiện giảiquyết các tình huống đã đề ra các cấutrúc nhóm tùy thuộc vàodạng tình huống Thời gian thảo luận nhóm theo hạn địnhđã dựkiến.Hướng dẫn, khuyến khích học sinh trình bày kết quả thảoluận, đặt vấn đề, ýtưởng mới Giáo viên điều khiển, khuyếnkhích học sinh đại diện học sinh trong nhóm hay cả nhómtrìnhbày kết quả giải quyết tình huống Các học sinh khác lắngnghe, tranh luận tìm ra cách giảiquyết hợp lý và rút ra kiến thứcthu được trong nội dung hoạt động.Thảo luận với cả lớp vàthống nhất những vấn đề còn tranh luận Giáo viên đóng vai tròchủ tọa điều khiển tranh luận trong một khoảng thời gian cóhạnđịnh Giáo viên giúp học sinh nhận ra những kiến thức cần tiếpthu và xây dựng nên các sơ đồ nhận thức Giáo viên tổng kết,kết luận những vấn đề còn tranh cãi.Hướng dẫn học sinh tựđánh giá, đánh giá lẫn nhau về kiến thức, kĩ năng vừa thu được.Giáo viên phát các phiếu trắc nghiệm khách quan và yêu cầuhọc sinh tự lực trả lời Saukhi học sinh trả lời giáo viên nêu đáp
án và yêu cầu học sinh tự chấm điểm Giáo viên cũng có thểcho học sinh tự chấm điểm lẫn nhau Giáo viên thu nhận kếtquả và kiểm tra lại
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có vai trò quan trọng trongcông tác giáo dục đạo đức cho học sinh Do đó đòi hỏi nộidung, các hình thức và phương pháp tổ chức của hoạt động trảinghiệm sáng tạo phải được thiết kế theo hướng tích hợp nhiềulĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hìnhthức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phúvề khônggian, thời gian, đối tượng để học sinh có nhiều cơ hội trảinghiệm, từng bước tự hoàn thiện nhân cách của bản thân
2.3.2 Biện pháp thực hiện
2.3.2.1 Mục tiêu.
Kiến thức: Học sinh có kiến thức đầy đủ về vai trò và tầm
quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh Bên cạnh
đó là những kiến thức cơ bản về hoạt động trải nghiệm sáng tạocủa học sinh trong cuộc sống hằng ngày
Kĩ năng: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành
và phát triển năng lực phẩm chất, nhân cách, các năng lực tâm
Trang 11lý-xã hội…giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như pháthuy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình Chính vì vậy công tácgiáo dục đạo đức học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệmsáng tạo giúp các em học sinh hình thành được các nhóm kĩ năng
cơ bản sau:
– Nhóm kĩ năng học tập, làm việc, vui chơi giải trí, gồm: kĩnăng làm việc theo nhóm, các kĩ năng tư duy logic, sáng tạo,suy nghĩ đa chiều
– Nhóm kĩ năng giao tiếp, hòa nhập, ứng phó với các tìnhhuống trong cuộc sống, gồm: kĩ năng ứng sử ở nơi công cộng; kĩnăng kiểm soát tình cảm, kìm chế bản thân, kĩ năng trình bày ýkiếntrước đám đông, kĩ năng ứng phó với với một số tình huốngbạo lực trong trường học
Thái độ: Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động trải
nghiệm sáng tạo giúp các em khơi dậy tính tự lập, có tinh thầntrách nhiệm Có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, xãhội; tích cực tham gia hoạt động tập thể, lựa chọn nghề nghiệptương lai
2.3.2.2 Hoạt động giáo dục đạo đức học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Hoạt động:Giáo dục đạo đức học sinh thông qua tiết sinh hoạt cuối tuần.
Phần lớn các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hiện nay chủ yếu được thực hiệndưới hình thức là tổng kết, đánh giá và đề ra phương hướng tuần tới Hình thứcsinh hoạt này dễ gây cho học sinh sự nhàm chán, đặc biệt là gây áp lực về cáclỗi mà các em mắc phải trong tuần qua Vì lẽ đó mà một số em cảm thấy khôngthích tiết sinh hoạt chủ nhiệm, thậm chí là sợ hãi Biện pháp thường được ápdụng là xử lí kỉ luật, viết bản kiểm điểm, hạ hạnh kiểm
Điều này dễ dẫn đến việc học sinh không tin vào thầy cô, bạn bè và có khi
là không tin vào bản thân mình Các em cần sự hướng dẫn và giáo dục của giáoviên chủ nhiệm Trong tiết sinh hoạt lớp, GVCN sẽ cung cấp cho học sinh nhữnghiểu biết thông qua các hoạt động sinh hoạt chuyên đề sinh động và vui nhộn Sựsinh động và hứng thú của việc được tham gia vào các hoạt động có liên quan sẽgiúp học sinh nâng cao ý thức một cách tự nhiên và dễ dàng Cũng nhờ vào cáchoạt động này cùng với sự tin tưởng và sẻ chia của thầy cô mà các em sẽ có đượcniềm tin, định hướng và nghị lực để phát triển toàn diện về nhân cách
Thông qua tiết sinh hoạt cuối tuần giáo viên chủ nhiệmgiao nhiệm vụ cho các nhóm chuẩn bị các chuyên đề như giáodục kĩ năng sống hay kĩ năng phân tích và chọn nghề
Thứ nhất: Thông qua các buổi sinh hoạt cuối tuần GVCN có thể lồng ghép các chuyên đề giáo dục KNS cho học sinh
Trang 12Trong giờ sinh hoạt cuối tuần GVCN dành 15 hoặc 20 phút để tổng kếttuần và đề ra phương hướng cho tuần sau, hoặc xử lý học sinh vi phạm Thờigian còn lại( hoặc có thể là cả buổi tuỳ theo công việc của tuần ít hay nhiều)GVCN có thể lồng ghép các chuyên đề giáo dục KNS cho HS GVCN có thểdùng các phương pháp sau:
Phương pháp “trò chơi”:
Những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp này tôi đã vận dụng linhhoạt trong các giờ sinh hoạt Để thành công khi áp dụng phương pháp này trongbuổi sinh hoạt cuối tuần GVCN cần phải làm tốt công việc sau:
GVCN phải đưa ra trò chơi mang tính cộng đồng, tập thể, kích thíchkhả năng tư duy, động não của các em
GVCN phải tìm ra một người điều khiển trò chơi có khả năng giao tiếp tốt
và đóng vai trò như một MC để dẫn dắt trò chơi
GVCN nên áp dụng phương pháp này nhiều trong các buổi sinh hoạt cuốituần
Ví dụ:Để giáo dục kỹ năng “Tự nhận thức bản thân” GVCN tiến hành
hoạt động trò chơi “Người khác nghĩ về mình”.( thời gian 20phút)
Dụng cụ: giấy A0 khổ to, bút dạ màu, giấy khổ to cắt thành chiếc áo khoác Tiến hành: Cho HS khoác lên mình chiếc áo giấy Chia lớp thành bốn
nhóm, cho các thành viên trong nhóm viết lên lưng nhau, những ưu điểm, nhượcđiểm, tính cách của bạn mình trong vòng 20 phút .( Tinh thần góp ý, không phêphán, không làm trò cười cho nhau)
Sau đó GVCN cho một số HS mạnh dạn đứng dậy trình bày những đặcđiểm của mình, vừa được bạn viết lên áo HS trình bày xong GV đưa ra kết luận:
Một điểm quan trọng của tự nhận thức bản thân đó nhận biết sự đánh giá , nhìn nhận của mọi người về mình Sau trò chơi này GVCN lưu ý HS giữ và đọc
những ưu điểm, nhược điểm của mình đã được bạn chỉ ra để có hướng phát huy,đồng thời khắc phục những điểm còn thiếu sót để hoàn thiện mình hơn
Thứ hai:Thông qua các buổi sinh hoạt cuối tuần GVCN có thể lồng ghép các chuyên đề về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.
Ví dụ: Chuyên đề: Tìm hiểu về nghề sửa xe máy.[6]
Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm:
Nhóm 1: Tìm hiểu thông tin nghề và cơ sở đào tạo nghề.
Học sinh có thể tìm hiểu thông tin qua sách báo, qua thông tintuyển sinh, qua mạng Internet Ngoài ra học sinh còn có thể tìmhiểu thông tin qua các trung tâm kĩ thuật tổng hợp và hướngnghiệp, qua cha mẹ và người thân hoặc qua các thực tiễn xãhội, qua các buổi giao lưu Đê làm tốt điều nàyhọc sinh cần xâydựng bản câu hỏi dựa trên nội dung của “Bản mô tả nghề”,hoặc lấy chính nội dung đó làm phiếu điều tra Sau khi có đượcthông tin, học sinh cần xử lí, sàng lọc lược bỏ những thông tin