1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) dạy học ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học qua tác phẩm chữ người tử tù nguyễn tuân

21 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn giúp học sinh hứng thú hơn với môn học, từ đó có thể hình thành và phát huy được những năng lực và phẩm chất cần thiết từ việc học Văn, người viết chọn đề tài “Dạy học Ngữ

Trang 1

Để khắc phục tình trạng này, ngành giáo dục đã đưa ra nhiều biện phápkhắc phục Đề án đổi mới Chương trình và Sách giáo khoa (CT&SGK) giáo dụcphổ thông sau 2015 nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển

Chương trình theo định hướng năng lực Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố

(phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông quacác hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó

Nắm bắt được tinh thần đổi mới, trong những năm qua ngành giáo dụctỉnh Thanh Hóa nói chung và tập thể giáo viên trường THPT Hậu Lộc 3 nóiriêng đã và đang nghiên cứu đề xuất và thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trongviệc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đạt được không ítnhững thành công Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để ngành giáo dục thựchiện mục tiêu đổi mới Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của đơn vị cho thấy sựsáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực củahọc sinh chưa nhiều Dạy học vẫn mang tính hàn lâm, chưa phát huy được tínhtích cực, sáng tạo Với mong muốn giúp học sinh hứng thú hơn với môn học, từ

đó có thể hình thành và phát huy được những năng lực và phẩm chất cần thiết từ

việc học Văn, người viết chọn đề tài “Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát

triển năng lực và phẩm chất người học qua tác phẩm Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân” nhằm đề xuất một số giải pháp dạy học tác phẩm văn học nói

chung và tác phẩm Chữ người tử tù nói riêng qua đó phát huy sự sáng tạo,

năng lực của học sinh, đặc biệt là giáo dục ý thức đạo đức, vận dụng vào cuộcsống thực cho học sinh trường THPT Hậu Lộc 3

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra những nhóm năng lực và phẩm chất cần hướngđến của môn Ngữ văn Từ đó, vận dụng những biện pháp đổi mới phương phápdạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực củangười học để góp phần hình thành ở học sinh những năng lực cần thiết Ngườiviết chỉ xin tập trung làm rõ một số phương pháp, kỹ thuật dạy học của mônNgữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh

1 3 Đối tượng nghiên cứu.

Trang 2

Trong phạm vi đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu một số phương phápdạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực và phẩm

chất của người học để vận dụng vào việc dạy - học truyện ngắn Chữ người tủ tù- Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn 11 (chương trình chuẩn) Từ đó

đưa ra những cách tiếp cận, giảng dạy tác phẩm khác có hiệu quả hơn

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Với đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp sau: Phươngpháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp lí luận chung, phương pháp phân tíchtổng hợp, phương pháp thống kê và xử lí số liệu (thông qua bài kiểm tra)

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lý luận.

2.1.1 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học

- Năng lực: là một khái niệm then chốt chi phối việc đổi mới căn bản chương

trình giáo dục mới Nội hàm khái niệm năng lực cũng tùy vào cách tiếp cận vàlĩnh vực áp dụng mà hiểu khác nhau Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên

có giải thích: Năng lực là:“ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có

để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.Định hướng chương trình giáo dục phổ thông(GDPT) sau năm 2015 đã

xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải

+ Năng lực quản lý bản thân

- Năng lực xã hội, bao gồm:

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực hợp tác

- Năng lực công cụ, bao gồm:

+ Năng lực tính toán

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ

+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ICT)

- Về phẩm chất: Phẩm chất (giá trị) của cá nhân là động cơ, ý thức trách

nhiệm, hứng thú hành động, đạo đức, niềm tin….của cá nhân đó Những phẩmchất cần rèn luyện cho người học bao gồm: Yêu đất nước; Yêu con người;Chăm học, chăm làm; Trung thực, trách nhiệm

2.1.2 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học

Dạy học là tổ chức các hoạt động học tập của HS: Trong phương pháp dạyhọc tích cực, HS được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức

và hướng dẫn, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ mà

Trang 3

không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặtvào những tình huống của đời sống thực tế, học viên trực tiếp quan sát, thảoluận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ

đó vừa biết, hiểu được kiến thức, kĩ năng mới, vừa vận dụng được phương phápchiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng đó, không theo những khuôn mẫu sẵn có, đượcbộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này, giáo viên không chỉgiản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Dạy học Ngữ văntheo hướng phát triển năng lực nghĩa là thông qua bộ môn, học sinh có khả năngkết hợp một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cánhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trongmột số hoàn cảnh nhất định Ngoài những năng lực chung mà môn Ngữ văncũng như các môn học khác đều hướng đến, môn Ngữ văn còn hướng đếnnhững năng lực chuyên biệt:

+ Năng lực đọc hiểu văn bản

+ Năng lực tạo lập văn bản:

+ Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ

2.2 Cơ sở thực tiễn

Nói đến phương pháp dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện naykhông thể không nhắc tới các hiện tượng rất phổ biến trong các giờ học văn hiệnnay: dạy học đọc chép, dạy nhồi nhét, học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo,thiếu hứng thú đam mê Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học tập trìtrệ, thụ động, thiếu hào hứng của học sinh Xét về xã hội, thời đại chúng ta đangsống là thời đại khoa học công nghệ, dể hiểu là đại đa số HS chỉ muốn học cácngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế…ít có HS hứng thú học văn, bởi phầnđông HS nghĩ rằng năng lực văn là năng lực tự nhiên của con người xã hội,không học vẫn biết đọc, biết nói cho nên học văn không thiết thực Có thể đó là

lí do làm cho đa số HS không cố gắng học ngữ văn

Về phía giáo viên, xã hội ta là xã hội tư duy theo kiểu giáo điều đã lâunăm, không biết đối thoại, không cho đối thoại, thậm chí theo lối phong kiếnxưa, coi đối thoại là hỗn, là láo, thầy bảo gì chỉ biết cắm đầu nghe Xã hội nhưthế thì nhà trường như thế không sao khác được Nếu trong giờ học mà tổ chứcđối thoại, thảo luận thì cũng là thảo luận vờ vịt Xã hội sao thì nhà trường nhưvậy Nếu không thay đổi xã hội khó mà thay đổi giáo dục

Thực trạng dạy học văn như trên không phải do một lí do cục bộ nào,không phải do giáo viên thiếu nhiệt tình dạy học, không cố gắng, mà chủ yếu là

do vẫn tồn tại một quan niệm sai lầm, cũ kĩ, lạc hậu về việc dạy học nói chung

và dạy học văn nói riêng Với HS, năng lực đọc hiểu, tạo lập văn bản và cảmthụ thẩm mĩ văn học còn rất kém Nguyên nhân xuất phát từ hai phía: người dạy(GV) và người học (HS) Học sinh đa phần có xuất phát điểm, mặt bằng kiếnthức, năng lực tự học yếu kém Về phía người dạy còn thiếu kỹ năng, phươngpháp Vì vậy, vấn đề đặt ra làm làm sao tạo được sự hứng thú và phát huy đượcnăng lực cho học sinh là điều cần thiết

Trang 4

2.3 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học truyện ngắn " Chữ người tử tù" theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học.

Dạy học một tác phẩm là việc làm đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt cácthao tác, phương pháp dạy học sao cho học sinh cảm nhận thấy hết những vẻđẹp về nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật của nó Dạy học theo theo địnhhướng phát triển năng lực của người học lại cần ứng dụng phương pháp, kỹthuật dạy học tích cực để phát huy tối đa việc hình thành các năng lực cho họcsinh Tức là làm thế nào để học sinh tự học, tự tìm hiểu để hình thành kỹ năngđọc hiểu tất cả các tác phẩm ngoài chương trình; vận dụng kiến thức, kỹ năng

đã học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, đồng thời lại phải vận dụngkiến thức xã hội, kiến thức các môn học khác để khám phá tác phẩm Để hướngtới mục đích đó, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp dạy học tích cực của

bộ môn cũng như phương pháp chung cho tác phẩm Chữ người tử tù như saunhư sau:

2.3.1.Tạo hứng thú thông qua phần khởi động

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có

ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trìnhhoạt động Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởinội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú Hứng thú là mộtthuộc tính tâm lí - nhân cách của con người Hứng thú có vai trò rất quan trọngtrong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh

hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp HS

học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo

Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê củachủ thể hoạt động Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động

cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Người học chỉ tựgiác, tích cực học tập khi họ thấy hứng thú Hứng thú được hình thành, duy trì

và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chứccủa giáo viên Giáo viên là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện,hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS

Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho HS ý thứcđược lợi ích của việc học để tạo động cơ học tập Ngoài việc khai thác sự lí thútrong chính nội dung dạy học, hứng thú của HS còn được hình thành và pháttriển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sởthích của các em Đó chính là cách tổ chức dạy học dưới dạng các trò thi đố, cáctrò chơi, tổ chức hoạt động sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chứcdạy học dự án, tổ chức dạy học ngoài không gian lớp học, xem các trích đoạn

phim, video clip

Trang 5

Hình ảnh minh họa

Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây đượckhông khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn Nghiên cứu cho thấy, trò chơihọc tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng, kích thích sự pháttriển trí tuệ của các em Để tạo cho học sinh hứng thú với bài học tôi tổ chứcmột trò chơi ô chữ:

2.3.2 Kết hợp linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật dạy học giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung và nghệ thuật tác phẩm

2.3.2.1 Hoạt động nhóm

Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh củamột lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn,mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợptác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giátrước cả lớp Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nênhình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và phát huy sựsáng tạo Điều quan trọng là HS cần phải biết mình làm gì và làm như thế nàokhi tham gia làm việc nhóm Tùy theo hoạt động học tập, có lúc HS sẽ làm việctheo cặp trong nhóm Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm là những hoạt độngnhằm giúp HS phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộngđồng

Những lưu ý khi tổ chức hoạt động nhóm:

+ Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 -6 học sinh Nhiệm vụ của cácnhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là cácphần trong một chủ đề chung

+ Để hoạt động nhóm thực sự có hiệu quả, ngay từ đầu GV nên tìm hiểu vàphân loại HS về nhận thức, năng lực, phẩm chất làm tiền đề cho việc chia nhóm.Các thành viên trong nhóm cần có vai trò, nhiệm vụ rõ ràng

Trang 6

+ Sau mỗi hoạt động nhóm, các thành viên cần thay đổi vai trò cho nhau, tránhtình trạng mỗi thành viên chỉ đảm nhiệm một vai trò trong thời gian quá lâu.+ Khi giao nhiệm vụ cho HS, câu hỏi của Gv phải rõ ràng, mạch lạc để đảm bảocho HS hiểu rõ yêu cầu của nhiệm vụ GV có thể hỏi thêm những câu hỏi phụ

để kiểm tra xem HS đã nắm được nhiệm vụ hay chưa

+ Các vấn đề đưa ra cho HS hợp tác nhóm dược biên soạn trong phiếu học tậphoặc bảng phụ và chỉ giao cho HS một làn Các phiếu được biên soạn đơn giản,

rõ mục đích, có tính trực quan cao, không gây khó hiểu hoặc mất thời gian.+ Trong thời gian HS làm việc, GV phải thường xuyên theo dõi để hướng dẫn,giúp đỡ các nhóm trao đổi, thảo luận đúng yêu cầu bài học, hoặc GV gợi mởthêm kiến thức và giáo dục kỹ năng sống cho HS

Ví d ụ : GV tổ chức thảo luận nhóm: Chia lớp thành 4 nhóm, phát phiếu học tập

và cùng thảo luận một nội dung :

Nhóm 1: Tìm những chi tiết trong tác phẩm để chứng minh vẻ đẹp tài năng của

Huấn Cao

Nhóm 2: Tìm những chi tiết trong tác phẩm và phân tích để chứng minh vẻ đẹp

khí phách của Huấn Cao ?

Nhóm 3: Tìm những chi tiết trong tác phẩm chứng minh vẻ đẹp tâm hồn của

Huấn Cao?

Nhóm 4: Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật? Có thể đánh giá khái quát

gì về nhân vật Huấn Cao? Qua việc xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao,nhà văn Nguyễn Tuân muốn gửi gắm những quan niệm gì về cái Đẹp?

2.3.2.2 Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua hình thức đối thoại

Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học ngày nay, mục tiêu hướngđến là những sản phẩm giáo dục năng động, sáng tạo, tự tin, có kỹ năng trìnhbày, diễn đạt vấn đề, kỹ năng hùng biện, tranh luận giải quyết vấn đề, đối thoại,hợp tác, làm việc nhóm và khả năng thích ứng với môi trường thực tiễn sản xuất

và đời sống Sống và làm việc trong môi trường, giải quyết vấn đề và những vachạm có tính toàn cầu Quan trọng hơn là dạy học dựa vào nhu cầu của ngườihọc, lấy người học làm trung tâm thì hình thức và phương pháp dạy học đã đếnlúc phải đổi mới, cải tiến - phải thay đổi từ quan niệm - tư duy - đến hành độngthực tiễn.Việc tìm tòi nghiên cứu, cải tiến phương pháp dạy học sẽ góp phầnnâng cao chất lượng dạy học

Đối thoại là một hình thức giao tiếp trong xã hội để giải quyết các vấn đềcủa thực tiễn kinh tế xã hội và cuộc sống đặt ra Hình thức này rất phổ biến vàhiệu quả Ngày nay, hình thức này đã được áp dụng ở hầu hết các lĩnh vực, cácvấn đề Đưa hình thức này vào trong dạy học sẽ tạo ra một hiệu quả mới gópphần thay đổi hình thức và phương pháp dạy học

Đối thoại - lắng nghe là một hình thức phổ biến trong mọi hoạt động sống

và làm việc trong xã hội hiện nay Các hình thức đối thoại được áp dụng và sử

dụng để giải quyết các vấn đề xã hội có thể là giữa cá nhân cá nhân, cá nhân

Trang 7

-tập thể, -tập thể - -tập thể, nhằm tìm ra một tiếng nói chung, giải quyết các công

việc nhằm thỏa mãn được mọi nhu cầu của các bên tham gia Trong dạy học,đối thoại là cách tốt nhất để giáo viên thu nhận thông tin ngược về những vấn đề

có nhiều người học quan tâm, mảng kiến thức người học còn thiếu, còn yếu,

Từ đó có những cơ sở đề vạch ra hướng điều chỉnh phương pháp, giải pháp chophù hợp với sự phát triển tư duy, kiến thức và nhu cầu của người họcGiáo viên

có thể tổ chức cho HS đối thoại về các vấn đề mà tác phẩm đặt ra như: nhan đề,tình huống truyện, nội dung tư tưởng của tác phẩm hoặc đối thoại về các nhân

vật, các vấn đề nhân văn đặt ra trong truyện ngắn Chữ người tử tù nhằm tạo

bầu không khí thân thiện, không gian đậm chất văn học Với phương pháp này,

HS được thỏa sức tranh luận , trình bày ý kiến, quan điểm của mình, giúp pháttriển năng lực giao tiếp, tư duy, khả năng hùng biện, sự tự tin khi trình bày quanđiểm cá nhân

Tuy nhiên, do kiến thức, sự hiểu biết của HS còn hạn chế vì vậy người

GV cần chủ động trong cách hỏi, lắng nghe, đánh giá, ghi nhận những phát biểumang tính khám phá và điều chỉnh hành vi, thái độ của HS sao cho vừa đúngchuẩn mực vừa tạo sự dân chủ trong các nhóm tham gia đối thoại

2.3.2.3 Đặt học sinh vào những câu hỏi khám phá, tình huống có vấn đề để giáo dục ý thức, phẩm chất.

Hệ thống câu hỏi là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động dạy học nêuvấn đề Tuy nhiên người giáo viên cần có sự lựa chọn các câu hỏi khai thác nộidung sao cho phù hợp Các kỹ năng đặt câu hỏi cần được chú ý Câu hỏi phảibám sát nội dung bài học và có sự mở rộng vấn đề để kích thích sự tìm tòi củacác em Trên cơ sở những hiểu biết vừa được trang bị, các em giải quyết đượccác vấn đề đi từ tác phẩm văn học ra hiện thực đời sống, áp dụng vào nhữngtình huống thiết thực trong đời sống đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực của

HS, đổi mới kiểm tra đánh giá của ngành giáo dục Thông qua dạy tác phẩm vănhọc để dạy các kỹ năng sống

Trong một giờ dạy học văn, câu hỏi đóng vai trò hết sức quan trọng Nếunhư trước đây chúng ta quan niệm câu hỏi là sự đặt ra một cách ngẫu hứng đểgiáo viên kiểm tra kiến thức của HS thì giờ đây câu hỏi được đưa ra để dẫn dắt

HS đi tìm hiểu ngọn nguồn của chân lí Câu hỏi chính là sự trao đổi kiến thức,các nguồn thông tin giữa GV và HS, tạo ra một cuộc đối thoại trong văn chươnggiữa giáo viên - nhà văn (tác phẩm) - học sinh Ở lứa tuổi THPT, kiến thức,kinh nghiệm đời sống xã hội các em còn hạn chế cho nên trong quá trình dạyhọc GV cần đi từ cái có sẵn, dần dần tới mức độ cao hơn Việc xây dựng hệthống câu hỏi phục vụ cho bài học cũng cần tuân theo nguyên lí đó Với hệthống câu hỏi nêu vấn đề, GV có thể xây dựng câu hỏi ở các mức độ với cácdạng như dạng câu hỏi tái hiện kiến thức; dạng câu hỏi nêu vấn đề, mang tínhnhận xét, khám phá

Trang 8

Ví d ụ 1 : Nếu là Huấn Cao, em có cho viên quản ngục chữ không? Hành động

cho chữ của Huấn Cao cho thấy vẻ đẹp nào trong tâm hồn và tính cách của nhân vật?

Ví d ụ 2 : Khi nhận phiến trát thứ hai mang nội dung bắt giải Huấn Cao vào

kinh nhận án chém VQN có thái độ như thế nào? Tại sao VQN lại có thái độ đó? Trong tình huống nguy cấp này, VQN đã có hành động như thế nào?Hành

Giáo viên chuẩn bị những tình huống mà học sinh có thể đưa ra sau câu hỏinày Học sinh sẽ có nhiều phương án trả lời nhưng người giáo viên cần phải có

sự định hướng cuối cùng để các em có những suy nghĩ tích cực, đúng đắn, từ đóthấy được hành vi cao đẹp của nhân vật văn học nhằm rèn luyện đạo đức, pháttriển nhân cách của các em Tuy nhiên, để dẫn dắt được HS hiểu và trả lờinhững câu hỏi mang tính khám phá như thế này đòi hỏi GV phải nắm vững nộidung bài giảng và trọng tâm bài dạy để đặt câu hỏi hướng vào nội dung bài học.Việc đặt câu hỏi nêu vấn đề phải phù hợp với từng điều kiện có thể có Tránhđặt câu hỏi máy móc, đơn điệu Nêu vấn đề phải hết sức hợp lí Nội dung câuhỏi phải đảm bảo các yêu cầu về cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng; giáodục tư tưởng, nhân cách ở học sinh

2.3.2.4.Thiết kế và sử dụng phiếu học tập

Phiếu học tập( PHT) là phương tiện định hướng hoạt động độc lập củahọc sinh trong quá trình dạy học Trên cơ sở của phiếu học tập, HS độc lập tiếpthu kiến thức mới hoặc củng cố kiến thức đã học Phiếu học tập còn là phươngtiện rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nhận thức như: Phân tích - so sánh, kháiquát hoá, trừu tượng hoá phiếu học tập đưa học sinh vào hoạt động tìm tòi,khám phá Trên cơ sở đó rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh Thông qua tổchức các hoạt động bằng phiếu học tập, giáo viên có thể thu được thông tinngược về kiến thức và kĩ năng của học sinh để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.Phiếu học tập phải được thiết kế sẵn trước giờ dạy Nội dung phiếu học tập phảivừa đủ, bám sát mục tiêu bài học và chuẩn kiến thức kĩ năng, phù hợp đối tượnghọc sinh lớp giảng dạy, phù hợp với trình độ, hoạt động của học sinh, với lượngthời gian thích hợp Hình thức phiếu học tập phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu thểhiện tính sư phạm, tạo hứng thú cho học sinh

Để thiết kế một PHT tốt, đáp ứng được các vai trò trên, theo tôi phải tuânthủ các quy tắc sau:

- Có mục đích rõ ràng, nội dung ngắn gọn, chính xác trong diễn đạt ý

- Có khối lượng công việc vừa phải, có phần chỉ dẫn nhiệm vụ rõ ràng

- Có khoảng trống phù hợp để học sinh điền kết quả của công việc đã làm

- Có quy định thời gian hoàn thành

- Trình bày phiếu khoa học

- Có đánh số thứ tự nếu biên soạn nhiều phiếu học tập trong một tiết học+ Phát phiếu học tập

Trang 9

VD:

2.3.2.5 Phát triển năng lực tư duy, sáng tạo bằng Bản đồ tư duy.

Bản đồ tư duy (iMindMap) là phương pháp được đưa ra như là mộtphương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây làcách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành mộtdạng của lược đồ phân nhánh Bản đồ tư duy giúp học sinh có phương pháp họchiệu quả hơn, việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ làmột biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Bản đồ

tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, não hiểu sâu, nhớ lâu và in đậmcái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình

Trang 10

Bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liêntưởng (các nhánh) Do đó, chúng ta có thể vận dụng Bản đồ tư duy vào tất cả

các khâu trong quá trình dạy học Phương pháp này khai thác khả năng ghi nhớ

và liên hệ các dữ kiện lại với nhau bằng cách sử dụng màu sắc, một cấu trúc cơbản được phát triển rộng ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểutượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ các quy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và

dễ hiểu So với các cách thức ghi chép truyền thống, thì phương pháp Bản đồ tưduy có những điểm vượt trội như sau:

+ Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng

+ Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọngthì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính

+ Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thịgiác

+ Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn

Bản đồ tư duy có thể thực hiện bằng phần mềm trên máy tính hoặc có thểsáng tạo trên giấy, kết hợp trang trí những hình ảnh, màu sắc sống động, thu hút

sự quan tâm của HS trong quá trình dạy học

GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM

Tiết 34-35 - 36

Ngày đăng: 06/06/2022, 07:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh minh họa - (SKKN 2022) dạy học ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học qua tác phẩm chữ người tử tù nguyễn tuân
nh ảnh minh họa (Trang 5)
Bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) - (SKKN 2022) dạy học ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học qua tác phẩm chữ người tử tù nguyễn tuân
n đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) (Trang 10)
- Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại. - (SKKN 2022) dạy học ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học qua tác phẩm chữ người tử tù nguyễn tuân
g ôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại (Trang 19)
Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm: - (SKKN 2022) dạy học ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học qua tác phẩm chữ người tử tù nguyễn tuân
ng đối chiếu kết quả thực nghiệm: (Trang 23)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w