theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đã có những tác động tích cực đối với các nhà trường nói chung và t
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài.
Mục tiêu của giáo dục THPT là nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thành học vấn phổ thông tạo tiền đề cơ
sở để các em tiếp tục học nghề nghiệp thực tế cho tương lai Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi nhà trường theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đã có những tác động tích cực đối với các nhà trường nói chung và trường THPT Hậu Lộc I nói riêng, đặc biệt trong công tác quản lí, chỉ đạo dạy và học, ôn thi của giáo viên và học sinh Kết quả của kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục nhà trường, khẳng định sứ mệnh và uy tín nhà trường trong giai đoạn hiện nay
Qua quá trình giảng dạy và ôn thi THPT quốc gia và một số năm giảng dạy ở các lớp có điểm đầu vào thấp, tôi nhận thấy tầm quan trọng của việc ôn tập, củng cố kiến thức cũng như việc bồi dưỡng để nâng cao điểm số bài thi cho các
em học sinh lớp 12 trước kỳ thi THPT quốc gia đặc biệt là nâng cao điểm số cho học sinh các lớp có đầu vào thấp Vấn đề đặt ra ở các lớp này là: trong số 6 môn thi tốt nghiệp, đa số học sinh đều học yếu các môn Toán, Tiếng anh hoặc ngay cả Lịch sử (Môn học được các em xem là rất khó nhớ) Chính vì vậy, nếu không cố gắng các em sẽ rất dễ rớt tốt nghiệp Tuy nhiên, với các môn Toán, Tiếng Anh khi các em đã bị “mất gốc” thì khả năng đạt điểm trên TB là rất khó Chính vì thế, trong quá trình dạy ở các lớp này, tôi rất chú trọng đến việc làm sao để nâng cao điểm số bài thi môn GDCD cho các em, để lấy điểm môn GDCD “bù” cho các môn các em học yếu Bên cạnh đó, thời điểm nước rút có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tiến trình ôn thi, không những thế còn ảnh hưởng lớn đến việc chủ động sẵn sàng tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh, do đó tôi đã
nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng ôn thi THPT môn GDCD cho học sinh các lớp có chất lượng đầu vào thấp tại trường THPT Hậu Lộc I để chia sẻ với đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả các tiết
ôn tập của giáo viên trong những lớp có học sinh đầu vào thấp, cũng như nâng cao chất lượng bài thi môn GDCD cho học sinh trong các kỳ thi THPT quốc gia
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng ôn thi TN môn GDCD cho các lớp có chất lượng đầu vào thấp ở trường THPT Hậu Lộc 1 làm cơ sở cho các giải pháp nâng cao điểm số môn GDCD nói riêng và điểm TB tốt nghiệp nói chung cho học sinh
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ôn thi TN môn GDCD trong trường THPT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng tích cực và hình thành năng lực cho học sinh
Trang 21.3 Đối tượng nghiên cứu.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT quốc gia cho học sinh các lớp có chất lượng đầu vào thấp tại trường THPT Hậu Lộc I
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp điều tra giáo dục
- Phương pháp trực quan, hình ảnh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp, thống kê số liệu
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
So với sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp nâng cao chất lượng ôn thi THPT quốc gia môn GDCD cho học sinh lớp 12 trường THPT Hậu Lộc I” viết năm 2020 – 2021, điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm lần này tôi tập trung vào các biện pháp nâng cao chất lượng ôn thi cho học sinh các lớp có chất lượng đầu vào thấp tại trường THPT Hậu Lộc I
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Năm 2017, Bộ GD & ĐT ban hành Thông tư 04/2017/TT- BGDĐT ban hành quy chế thi Trung học phổ thông (THPT) Quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT Đây là năm đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi mới hình thức thi THPT Quốc gia với mục đích xét tốt nghiệp và xét đại học Thí sinh sẽ làm 4 bài thi trong đó có 3 môn thi bắt buộc (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ) và 1 bài thi tổ hợp tự nhiên (Lý, Hóa, Sinh) hoặc tổ hợp xã hội (Sử, Địa, GDCD) Môn GDCD
là môn học đầu tiên đưa vào tổ hợp thi xét Tốt nghiệp và đại học nên đa số giáo viên còn lúng túng trong việc lựa chọn và định hình cho mình một phương pháp
ôn tập có hiệu quả
Năm học 2021 - 2022, năm học thứ 5 môn GDCD nằm trong tổ hợp xét tuyển Cơ bản giáo viên và học sinh đã làm quen với cách học, phương thức thi, cách thức ra đề của Bộ và tìm ra cho mình một phương pháp ôn tập có hiệu quả Tuy nhiên, bản thân tôi nhận thấy tâm lý của học sinh trong việc ôn tập môn GDCD còn chủ quan, lơi là, coi môn học là môn phụ, không học cũng đạt điểm trung bình, chỉ tập trung vào các môn học chính khối Vì vậy, để nâng cao chất lượng các buổi ôn thi bộ môn này cho học sinh, giáo viên cần có những phương pháp hiệu quả, phù hợp với tâm lý học sinh nhưng cũng không nên quá áp lực đối với các em
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Môn GDCD được đưa vào kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia từ năm 2017 Những năm đầu ôn tập, học sinh và giáo viên còn khá nhiều bỡ ngỡ Giáo viên chưa định hình được cách ôn tập, học sinh cũng chưa tìm ra cho mình được phương pháp học tối ưu nhất Hai năm đầu, ở trường chúng tôi thường có khoảng 2 đến 5 lớp học ban KHXH Chúng tôi cũng thường chú ý đẩy điểm số ở những lớp có nền đầu vào cao hơn như các lớp chính khối C, D mà chưa quan
Trang 3tâm nhiều đến các lớp có nền đầu vào thấp Điều này dẫn đến chất lượng đại trà của bộ môn chưa đạt ở mức cao so với một số trường trong tỉnh Vấn đề cần đặt
ra ở đây là làm sao để nâng cao chất lượng bộ môn kể cả mũi nhọn cũng như chất lượng đại trà
Bắt đầu từ năm 2018, Sở GD ĐT đã lấy chất lượng, kết quả ôn thi THPT quốc gia để đánh giá chất lượng giảng dạy và học tập của học sinh đối với môn GDCD, có sự xếp loại, thứ hạng, so sánh giữa các trường với nhau Nhà trường cũng lấy kết quả thi TN của bộ môn để đánh giá, phân loại, so sánh giữa lớp này với lớp khác Điều này đã tạo động lực, thôi thúc giáo viên nói riêng và nhóm tổ
bộ môn nói chung tìm ra những biện pháp làm sao để nâng cao chất lượng ôn thi, không chỉ nhóm lớp đầu khối mà còn đẩy điểm ở các lớp có nền đầu vào thấp hơn, giúp nâng cao chất lượng các môn thi THPT quốc gia nói riêng và điểm bình quân thi TN của nhà trường nói chung
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Tạo tâm thế cho học sinh và giáo viên trước kỳ thi.
Trước những kỳ thi quan trọng, tâm lý của học sinh và ngay cả giáo viên có tác động rất lớn đến cả quá trình ôn và thi Khi được giao giảng dạy những lớp
có đầu vào thấp, tâm lý của giáo viên đa số là ngại, lo lắng về chất lượng Bản thân tôi qua những năm ôn thi cho học sinh nhận thấy: hiệu quả, chất lượng cao hay thấp một phần quan trọng do cách tiếp cận của giáo viên và học sinh
Người giáo viên nếu tạo được tâm thế tốt cho học sinh trước khi vào kỳ thi
sẽ giúp các em định hướng tốt cho cả quá trình ôn tập của mình Để làm được điều này, đòi hỏi bản thân người giáo viên phải tự tạo được tâm thế cho mình trước, xem việc ôn thi cho học sinh là niềm vui, là trách nhiệm và cả niềm vinh
dự
Năm học 2018 – 2019, năm đầu tiên tôi được phân công giảng dạy 2 lớp 12, trong đó có 1 lớp khối C (12A7), đầu vào thấp hơn so với các lớp đầu khối D Kết quả thi THPT năm đó đạt điểm TB: 8,87 cao thứ 2 trong 6 lớp
Năm học 2019 - 2020, tôi được giao giảng dạy và ôn thi cho lớp 12A11, là lớp có đầu vào thấp nhất (Từ trường THPT Đinh Chương Dương chuyển về năm lớp 11), nhiều học sinh chưa chăm ngoan Tuy nhiên, ngay khi bắt đầu vào đầu năm 12, tôi đã quán triệt tinh thần học tập cho lớp, lấy kết quả của năm học trước để tạo động lực cho các em Luôn nhắc nhở học sinh rằng môn GDCD không hề khó như các em nghĩ, nếu chú tâm vào học sẽ rất dễ lấy điểm 8, 9, thậm chí là điểm 10 Cùng với đó, qua mỗi lần thi bồi dưỡng do trường hoặc Sở
tổ chức, tôi luôn cho các em đăng ký điểm của mình, đặt mục tiêu phấn đấu Khi
có kết quả, giáo viên sẽ trực tiếp thưởng cho các em bằng tiền của cô nếu đạt điểm cao hoặc có cố gắng phấn đấu Có thể có em không đạt điểm cao nhưng có
sự cố gắng nỗ lực phấn đấu, tôi vẫn tuyên dương học sinh trước lớp và trao thưởng Học sinh của lớp tâm sự với cô: “Nếu cô không dạy chắc chúng em bỏ môn GDCD không học” Đây cũng chính là động lực để tôi luôn cố gắng trong mỗi lần lên lớp Kết quả cuối cùng của kỳ thi TN năm đó: lớp đạt điểm TB là
Trang 49.13, có tới 7 điểm 10 trên tổng số 23 con điểm 10 của cả trường Điểm TB của toàn trường môn GDCD năm này là 9,02, xếp thứ 1 toàn tỉnh
Kết quả 2 năm ôn thi cho các lớp nói trên đã tạo thêm động lực và tinh thần cho giáo viên trong năm tiếp theo Năm học 2020 - 2021 tôi tiếp tục được giao phụ trách giảng dạy 3 lớp 12, trong đó có 1 lớp 12A7 là lớp có nền đầu vào gần như thấp nhất khối Kết quả thi tốt nghiệp năm 2021 điểm TB chung của lớp đạt 9,76 cao nhất trong khối Bộ môn GDCD đạt điểm TB toàn trường : 9,50 xếp ở
vị trí thứ 2 của tỉnh
Có được kết quả này, tôi thấy rằng sự phối kết hợp giữa học sinh và giáo viên rất quan trọng Giáo viên phải hiểu được tâm lý của học sinh đặt niềm tin
ở các em Đặc biệt với những lớp có nền thấp, các em thường có tâm lý tự ti, nhưng người giáo viên biết định hướng tốt là người biết đặt niềm tin vào các em
và khẳng định với học sinh: Cô sẽ nhiệt tâm nếu các em nhiệt tình Các em sẽ làm được, các em sẽ có thể đạt điểm 9, điểm 10 Khi học sinh đã tin tưởng, có tình cảm với thầy cô, các em sẽ học không chỉ với suy nghĩ là học cho bản thân
mà còn học vì sự tin tưởng của thầy cô đối với mình Có như vậy, các em mới thực sự cố gắng
2.3.2 Phân loại đối tượng học sinh
Để nâng cao chất lượng ôn thi, giúp học sinh đạt điểm cao của môn thi thành phần GDCD, việc giáo viên phân loại được đối tượng học sinh sẽ giúp cho học sinh dễ dàng tiếp cận với mức độ, cấp độ kiến thức trong đề thi Phân loại
HS, đây là khâu quan trọng nhất quyết định chất lượng Phân chia đúng đối tượng sẽ giúp giáo viên có kế hoạch và biện pháp ôn tập cho HS Sau từng đợt, các đối tượng đó được phân chia lại cho phù hợp để ôn tập giai đoạn tiếp theo Căn cứ vào kế hoạch của nhà trường để chia ra 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1 tiến hành ôn tập củng cố trọng tâm, hệ thống hóa kiến thức đã học; giai đoạn 2 rèn luyện kĩ năng làm bài thi và cho HS làm bài thi thử; giai đoạn 3 tổng kết có
hệ thống kiến thức đã học và chỉ ra các sai sót mà HS hay mắc phải để tránh Ôn tập cụ thể cho từng nhóm đối tượng phù hợp với khả năng tiếp thu của HS giúp
HS tự ôn tập bài, tự rèn luyện ở trường cũng như ở nhà Đối với học sinh có học lực TB hoặc yếu các em sẽ nhanh chóng định hình cho mình phương pháp ôn tập sao cho hiệu quả, nhanh bắt kịp với các bạn khá, giỏi Tuy nhiên đối với các lớp có đầu vào thấp, có nhiều đối tượng học sinh, có những học sinh có học lực yếu hoặc khả năng học các môn Toán, Ngoại rất yếu Để đạt được điểm 7,8 các môn này các em rất ít có khả năng Nhưng đối với môn GDCD, nếu chú ý các
em sẽ rất dễ đạt điểm 8,9 bởi kiến thức thực tế cuộc sống của các em có thể vận dụng để giải quyết các tình huống
Ở các lớp có chất lượng đầu vào thấp, trong quá trình ôn tập, tôi thường phân lớp ra làm 2 hoặc 3 nhóm Nhóm 1 là những học sinh có khả năng đạt điểm
TB đến khá Nhóm 2 là những đối tượng học sinh có thể đạt điểm TB Nhóm 3
là nhóm học sinh điểm dưới TB và yếu Việc chia nhóm chúng tôi thường kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên các bộ môn khác như Sử, Địa để phân chia nhóm cho đúng đối tượng và hài hòa giữa môn này với môn kia
Trang 5Khi đã phân chia được nhóm đối tượng, tôi dành thời gian, cách thức ôn tập khác nhau đối với từng nhóm Nhóm 1 các em có năng lực nhận thức và tư duy tốt hơn, vì vậy chỉ cần hướng dẫn và giao đề các em có thể tự làm Riêng đối với nhóm 2 và 3, đây là nhóm học sinh mà giáo viên phải đầu tư khá nhiều công sức
và thời gian, ôn thi tỉ mỉ, dạy đi dạy lại nhiều lần, hướng dẫn chi tiết cho các em, động viên các em nỗ lực học tập Khi các em đã có sự cố gắng và tiến bộ rõ rệt, tôi sẽ chuyển các em sang nhóm 2 hoặc nhóm 1 Giáo viên tiếp cận với đối tượng học sinh này nên động viên và khích lệ là chủ yếu Quan tâm đến những học sinh này bằng cách thường xuyên nhắc nhở các em trong các giờ trên lớp Theo dõi cách làm đề của các em, phát hiện chỗ sai, những nội dung kiến thức các em còn hổng để kịp thời bổ sung Một số giáo viên sẽ xem những đối tượng học sinh này là “cá biệt” nhưng đối với tôi, tôi lại rất quan tâm đến các em Tôi thường trò chuyện, động viên, khích lệ các em bằng cách đặt mục tiêu cho các
em Nếu đạt được mục tiêu tôi đặt ra, tôi sẽ thưởng cho các em và trao phần thưởng trước lớp
Một minh chứng cụ thể, năm học 2019 - 2020, ở lớp 12A11, nhiều đối tượng học sinh có học lực yếu Khi mới nhận lớp, tôi cũng rất lo lắng về chất lượng Lần thi học kỳ 1, điểm thi TB cả lớp chỉ đạt trên 6 điểm
Sau khi có kết quả thi, tôi phân lớp ra làm 2 nhóm, 1 nhóm điểm cao và 1 nhóm cần phụ đạo, lập danh sách gửi cho giáo viên chủ nhiệm và BGH để xếp lịch học phụ đạo miễn phí cho các em vào chiều tối từ 5 -7h sau khi các em tan giờ trên lớp Sau những buổi phụ đạo đó, kết quả thi bồi dưỡng lần 1 đã có sự vượt trội, được nhà trường khen thưởng và cô Hiệu trưởng trực tiếp lên lớp động viên, khích lệ Đây là động lực to lớn để giúp cô trò hoàn thành tốt mục tiêu của năm học Kết quả cuối cùng của các em đã đền đáp xứng đáng cho những cố gắng của cô trò và mong muốn của BGH
Tổ bộ môn chúng tôi còn thực hiện việc tương trợ nhau trong quá trình ôn tập Ở những lớp có nền đầu vào thấp nếu giáo viên đứng lớp có khó khăn trong việc ôn tập cho học sinh như thường xuyên ốm đau, không giành được nhiều thời gian cho việc kèm cặp nhóm học sinh yếu thì chúng tôi đã lập nhóm , lên lịch hỗ trợ dạy kèm miễn phí cho các em vào ca từ 17 đến 19h
2.3.3 Hệ thống hóa kiến thức
Trong việc dạy học của giáo viên và ôn luyện của học sinh, hệ thống hóa kiến thức có vị trí quan trọng trong phát triển năng lực tư duy lý thuyết cho học sinh Điều này thể hiện rõ ở những ưu điểm của việc hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy và học Khi ghi chép cũng như khi đọc thông tin dưới dạng
hệ thống hóa kiến thức, học sinh sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian học Học sinh dễ dàng nhận biết những nội dung chính của bài học, cải thiện được sức sáng tạo và trí nhớ nhờ khả năng tập trung vào những từ khóa thiết yếu
Chính vì những ưu điểm như trên, trong quá trình ôn luyện, tôi thường dùng phương pháp hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài học hoặc sau một chuyên đề Việc hệ thống hóa có thể thực hiện bằng các sơ đồ tư duy hoặc bằng các đơn vị kiến thức với các từ khóa giúp học sinh dễ dàng nắm được nội dung chính
Trang 6Ngoài cách hệ thống hóa kiến thức bằng cách dùng sơ đồ và các cụm từ chốt, giáo viên cũng có thể tìm những sơ đồ tư duy trong các trang học liệu để
sử dụng
Sơ đồ tư duy bài 6 – Tiết 1
Việc hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy theo tôi không nên quá cầu
kỳ vì sẽ mất nhiều thời gian GV và học sinh có thể lên mạng xem lại các bài giảng của các thầy cô trên truyền hình dạy hoặc sử dụng những sơ đồ tư duy đơn giản nhưng dễ nhớ Tôi thường ôn tập cho học sinh xen kẽ giữa việc làm đề và
hệ thống hóa kiến thức Sau 3 đến 5 tiết học sinh luyện đề tôi sẽ xen kẽ vào 1 tiết
ôn tập theo kiểu hệ thống hóa kiến thức của 1 bài nào đó Điều này sẽ giúp học sinh cảm thấy việc ôn tập không bị nhàm chán
2.3.4 Luyện đề, rèn luyện kỹ năng giải quyết đề
Trong quá trình ôn thi, việc rèn luyện kỹ năng làm giải quyết đề cho học sinh
là một việc làm vô cùng quan trọng, theo tôi là quyết định đến việc học sinh đạt điểm cao hay thấp Luyện đề giúp học sinh kiểm tra lại được kiến thức của mình Từ đó, các em sẽ thấy được mình chắc kiến thức đến đâu, còn hổng chỗ nào, có kế hoạch ôn tập để bổ sung kiến thức kịp thời Đồng thời, việc luyện đề còn giúp các em rèn luyện kĩ năng , tốc độ làm bài Thời gian làm trắc nghiệm cho các môn trung bình là 1,25p/ 1 câu, vì thế học sinh cần luyện nhiều đề chuẩn cấu trúc để đảm bảo tốc độ làm bài Luyện đề cũng là 1 cách để các em tái hiện,
hệ thống lại tất cả các kiến thức mình có Học sinh được “va chạm” với nhiều
đề thi cũng như các câu hỏi có trong đề, một trong những nền tảng giúp các em
tự tin hơn khi làm bài thi thật Quan trọng hơn cả, các em sẽ thấy được những lỗi sai mà mình hay mắc phải để kịp thời sửa chữa
Trong quá trình ôn tập, đầu tiên tôi thường cho học sinh luyện đề ở 4 cấp độ theo từng chuyên đề trước Đề luyện ở giai đoạn đầu này là những đề bao gồm phần lớn các câu hỏi ở dạng nhận biết, thông hiểu và một số ít câu ở dạng vận dụng thấp Thời gian luyện đề dạng này thường là từ khi bắt đầu ôn đề đến
Trang 7khoảng sau gần 1 tháng Thời gian tiếp theo, chúng tôi tiếp tục cho học sinh làm
đề tổng hợp với số lượng các câu vận dụng tăng dần Tùy theo sự tiến bộ của từng nhóm học sinh tôi sẽ tăng hay giảm mức độ của đề
Hiện nay,với sự tiến bộ của công nghệ thông tin, hơn nữa bộ môn GDCD đã
3 năm có mặt trong kỳ thi TN, vì vậy việc tìm cho mình một bộ đề ôn thi cũng không mấy khó khăn như những năm trước Tuy nhiên, các đề ôn tập có sẵn trên mạng thường là độ chính xác không cao, giáo viên khi lấy các đề này về cần biên soạn lại cho phù hợp với đối tượng học sinh mình dạy, cũng không nên phụ thuộc vào đáp án có sẵn mà nên đọc từng câu và tự mình làm đáp án, chỉnh sửa lại nội dung các đáp án cho đúng rồi mới cho học sinh làm
Đối với các câu hỏi ở dạng nhận biết và thông hiểu, khi làm đề tôi thường yêu cầu học sinh học kỹ phần lý thuyết, phần nào còn chưa hiểu cặn kẽ nên hỏi
để giảng lại cho các em Khi làm các câu tình huống, vì có nhiều thông tin, nhiều phương án nhiễu nên các em luôn phải có giấy nháp Đọc tình huống thì nên đọc câu hỏi chốt trước, sau đó mới quay lên đọc tình huống Câu hỏi hỏi về nhân vật nào, dữ kiện gì thì ghi luôn ra giấy nháp dữ kiện, nhân vật đó để tránh nhầm lẫn
Ví dụ : Với câu hỏi tình huống sau:
Do toàn tỉnh đang thực hiện giãn cách xã hội nên ít người đến liên hệ công tác vì vậy sau khi đến cơ quan, anh Q chở H đi uống cà phê Do không đeo khẩu trang nên khi bị lực lượng chức năng truy đuổi, anh Q đã va chạm với chị
N bán hàng rong dưới lòng đường làm hàng hoá của chị bị dập nát Thấy anh H
và anh Q không thu dọn hàng hoá cho chị N mà còn quát nạt chị, ông P là lái xe
ôm gần đó ra can ngăn nhưng anh Q và anh H không dừng lại mà còn xúc phạm ông P Quá bức xúc, ông P đã đánh anh Q và anh H Những ai dưới đây vừa vi phạm kỉ luật, vừa vi phạm hành chính?
A Anh Q, anh H và ông P B Chị N và ông P.
C
Anh Q và anh H D Anh Q, anh H và chị N.
Đối với câu tình huống này, tôi thường hướng dẫn học sinh đọc câu hỏi
trước, nghĩa là đọc câu: “Những ai dưới đây vừa vi phạm kỷ luật, vừa vi phạm
hành chính?” Dữ liệu cần chú ý là vi phạm kỷ luật, vi phạm hành chính Sau
đó đọc lên phần tình huống, chỗ nào có nhân vật nào vi phạm hành chính và kỷ luật thì ghi ra giấy nháp Q chở H đi uống cà phê trong giờ hành chính là cả 2 đã
vi phạm kỷ luật Q, H do không đeo khẩu trang bị lực lượng chức năng truy đuổi thì Q, H vi phạm hành chính Chị N bán hàng rong dưới lòng đường chỉ vi phạm hành chính, ông P không vi phạm kỷ luật Như vậy xác định đáp án đúng là đáp
án C: Q và H
Đối với những câu hỏi nhiều dữ kiện, nhiều tên nhân vật, nếu học sinh không làm như trên thì sẽ rất dễ bị lẫn lộn tên nhân vật và dữ kiện
Với những câu thông hiểu, vận dụng cần suy luận, yêu cầu học sinh phải nhớ
và huy động toàn bộ đơn vị kiến thức đã học Chính vì vậy trong quá trình làm
đề, tôi thường yêu cầu học sinh nhắc lại những đơn vị kiến thức có liên quan đến
Trang 8câu hỏi đó Điều này giúp học sinh một lần nữa tái hiện lại kiến thức, nhớ sâu và nhớ kỹ hơn
2.3.5 Hướng dẫn giải đề, làm đáp án chi tiết, sửa sai
Trong quá trình ôn thi, có một số giáo viên không quan tâm nhiều đến việc hướng dẫn học sinh giải đề , sửa sai mà chỉ cung cấp đáp án cho học sinh đối chiếu Nhưng tôi thì thấy việc hướng dẫn học sinh giải đề , đặc biệt là sửa sai cũng là một khâu hết sức quan trọng Nếu chỉ đơn thuần là cung cấp đề cho học sinh làm, sau đó tung đáp án thì có lẽ việc ôn thi chưa bao giờ là khó Đối với việc này, tôi thường cho học sinh làm đề, hết thời gian làm đề tôi sẽ cho học sinh tự giải Thường là 1 lớp làm 1 đề sẽ hết khoảng 30 đến 35 phút (Nếu là 1 tiết) 10 đến 15 phút cuối tôi sẽ cho học sinh giải đề Mỗi học sinh sẽ giải 10 câu Trong khi học sinh đưa đáp án, tôi sẽ yêu cầu học sinh đó lý giải tại sao lại chọn đáp án đó, kể cả đáp án của học sinh là đúng thì cũng phải lý giải được vì sao đáp án đó đúng Nếu sai, tôi sẽ yêu cầu học sinh khác sửa và cô giáo sẽ chốt
Để sửa được 1 đề theo kiểu như vậy, cần có 2 tiết liên tục hoặc 1 buổi ôn tập riêng cho học sinh Điều này tùy thuộc vào việc xếp thời khóa biểu ở mỗi trường Ở trường tôi thường xếp tiết ôn thi TN là 2 tiết liên tục
Khi giải đến câu nào, tôi thường yêu cầu học sinh nhắc lại nội kiến thức liên quan đến câu đó Ví dụ như những câu hỏi về vi phạm hành chính thì tôi thường yêu cầu học sinh nhắc lại luôn nội dung của vi phạm hình sự, dân sự, kỷ luật Hoặc khi có câu liên quan đến các hình thức thực hiện pháp luật, tôi sẽ yêu cầu học sinh nhắc lại nội dung của cả 4 hình thức thực hiện pháp luật Điều này sẽ giúp học sinh một lần nữa tái hiện lại nội dung kiến thức đã học để ghi nhớ Năm học 2019 - 2020, có một thời gian học sinh toàn tỉnh phải nghỉ học vì dịch bệnh, không học trực tiếp trên lớp và chuyển sang học online, tôi vẫn áp dụng phương pháp sửa đề bằng cách giao đề cho học sinh làm tại nhà trước, sau
đó đến giờ học giáo viên sẽ hướng dẫn giải đề Giáo viên sẽ yêu cầu học sinh trình bày đáp án của mình Khi 1 học sinh trình bày thì các học sinh khác có nhiệm vụ theo dõi và phát hiện ra lỗi sai của bạn Sau khi cả lớp đã sửa xong, tôi thường yêu cầu một số học sinh cho biết số câu sai trong đề của mình Tiết này
sẽ gọi mấy em tổ 1, tiết sau lại gọi những học sinh khác Đặc biệt quan tâm đến
số câu sai của những học sinh hay bị điểm thấp trong những lần thi bồi dưỡng hoặc thi thử Sai những câu nào, nguyên nhân vì sao sai, từ đó tôi tiếp tục hướng dẫn các em nhận ra lỗi sai và sửa sai, những lần làm đề sau nếu gặp phải những câu tương tự, các em sẽ nhớ lỗi và không lặp lại
2.3.6 Giải đáp thắc mắc
Trong quá trình ôn tập, luyện đề và giải đề cho học sinh, khâu “giải đáp thắc mắc” cho học sinh tôi nghĩ cũng là một khâu cần thiết Tôi thường khuyến khích học sinh đặt câu hỏi hoặc có những vấn đề gì còn băn khoăn, chưa hiểu rõ, chưa hiểu hết các em cần mạnh dạn trao đổi với giáo viên hoặc bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề, khuyến khích học sinh không được “giấu dốt” Giải đáp thắc mắc cho học sinh sẽ giúp các em nắm chắc kiến thức Việc khuyến khích học sinh đặt câu hỏi hoặc thắc mắc về một tình huống hay một vấn đề nào đó
Trang 9cũng giúp cho giáo viên phải tìm tòi, khai thác nội dung các đơn vị kiến thức, hay phải tìm những văn bản Luật có liên quan để trả lời cho học sinh Giáo viên cần trả lời vấn đề học sinh thắc mắc một cách cặn kẽ, thuyết phục, có cơ sở để giúp học sinh tự tin hơn trong quá trình làm bài thi
Qua hoạt động tương tác giữa cô và trò, học sinh sẽ mạnh dạn, cởi mở hơn, giáo viên cũng từ đó mà mở rộng thêm kiến thức phục vụ cho việc giảng dạy của mình Muốn cho học sinh mạnh dạn trong việc đặt câu hỏi hoặc nêu vấn
đề cần giải đáp, người giáo viên phải là người tâm lý, hòa đồng, gần gũi với học sinh, tránh việc học sinh có tâm lý “sợ” thầy, sợ cô không giám hỏi, lâu dần sẽ rất “nguy hiểm” bởi những điều học sinh không biết, không hỏi cứ “tích tụ” dần dần, dẫn đến việc học sinh càng ngày càng chán học Tôi thường động viên học sinh hỏi bài bằng cách đưa ra điều kiện: Nếu học sinh nào đặt ra được câu hỏi hay, thắc mắc vấn đề đúng và trúng là cô giáo sẽ thưởng điểm Điều này đã tạo nên không khí học tập sôi nổi hơn, giúp học sinh tiếp thu bài một cách tốt nhất
2.4 Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Đối với người giáo viên, niềm vui lớn nhất là khi mình trang bị tri thức,
kỹ năng cho học sinh mà các em lĩnh hội được và những tri thức, kỹ năng đó được phản ánh qua kết quả cuối cùng mà các em đạt được Qua những năm ôn tập cho học sinh tham gia thi THPT quốc gia, tôi đã áp dụng những biện pháp đã nêu trên, hiệu quả mang lại tương đối khả quan
Nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám hiệu, đặc biệt là tổ nhóm bộ môn
đã đưa ra nhiều giải pháp, cộng với sự cố gắng của giáo viên, học sinh Điểm thi môn GDCD các năm 2019, 2020, 2021 của trường đều cao hơn so với điểm TB toàn tỉnh Ở một số lớp có nền đầu vào thấp nhưng các em đã nỗ lực để đạt điểm
9, 10 như lớp 12A11 năm 2020, đạt 7 điểm 10, điểm từ 9 trở lên là 30/47 học sinh Lớp 12A7 năm học 2020 – 2021 có 20/41 học sinh dự thi đạt điểm 10 Chỉ
có 3 học sinh đạt 9 – 9,25 còn lại toàn bộ đạt điểm từ 9,5 trở lên Toàn trường có
70 điểm 10 môn GDCD và là trường có số điểm 10 nhiều nhất trong tỉnh Trong
2 năm học gần đây, môn GDCD đã có mặt trong các tổ hợp xét tuyển Đại học Một số trường Đại học xét tuyển như Đại học Luật TP HCM, ĐH Kinh doanh và
CN Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội, Đại học SP Huế…Nhiều học sinh cũng đã lựa chọn tổ hợp có môn GDCD để xét tuyển và đạt được nguyện vọng mong muốn Không những thế, trong những năm qua, môn GDCD cũng đóng góp một phần không nhỏ vào tỉ lệ học sinh đạt 27 điểm trở lên trong kỳ thi TN THPT của trường THPT Hậu Lộc I, góp phần đưa trường THPT Hậu Lộc 1 là 1 trong những trường có số lượng thí sinh đạt 27 điểm trở lên cao nhất trong huyện và top đầu trong tỉnh
Những kết quả thi THPT các năm của môn GDCD đã giúp cho thứ hạng bộ môn luôn đứng ở top đầu trong tỉnh góp phần nâng cao thứ hạng điểm TB thi
TN của toàn trường nói riêng cũng như toàn tỉnh nói chung Kết quả này cũng một phần tạo nên động lực cho học sinh các khóa sau tiếp tục nỗ lực phát huy
Trang 10những thành quả của các anh chị khóa trước Tạo niềm tin cho giáo viên trong tổ
bộ môn trong hoạt động giảng dạy và ôn tập cho học sinh khối 12
2.4.1 Các kết quả, minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Dưới đây là một số kết đạt được và những minh chứng về sự tiến bộ của học sinh sau khi tôi áp dụng các biện pháp đã nêu trong quá trình ôn thi cho học sinh lớp 12
Kết quả thực nghiệm
Kết quả đối chứng
2017 - 2018 2018
-2019
2019 -2020
2020 -2021 Điểm TB toàn
trường
Bảng 1 Điểm TB và thứ hạng bộ môn so với các trường trong tỉnh
qua các năm (Số liệu tự tổng hợp)
-<9
Điểm 9
-<10
Điểm 10 Điểm TB
2018 - 2019
47.6%
18 – 42.8%
34.8%
2019 - 2020
34.0%
23- 48.9% 7 – 14.8% 9.13
30.5%
13 – 36.1%
1 - 2.7% 8.49
2020 - 2021
51.2%
20 – 48.7%
9.76
Bảng 2: Bảng đối chiếu tỉ lệ điểm cao giữa lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
tổ hợp xét tuyển ĐH
2018 - 2019
2019 - 2020
2020 - 2021
Bảng 3 So sánh tỉ lệ học sinh đạt 27 điểm trong tổ hợp xét tuyển ĐH