1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 5,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu hướng ra đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo những năm gần đây, do rút ngắn thời lượng làm bài xuống còn 120 phút, nên có xu hướng thiên về kiểu đề nghị luận về một đoạn trích tro

Trang 1

MỤC LỤC

Tra

ng

1 Mở đầu 1

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5

2.3 Các giải pháp đã áp dụng trong việc vận dụng kiến thức ……… 6

2.4 Hiệu quả của việc vận dụng sáng kiến kinh nghệm trong giảng dạy 14

3 Kết luận và kiến nghị 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay đòi hỏi giáo viên không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức mà còn phải hình thành cho các em kỹ năng cần thiết, đặc biệt là kỹ năng làm văn nghị luận Đối với học sinh khối 12, rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận lại càng cần thiết hơn cả bởi các em chuẩn bị phải trải qua một kì thi vô cùng quan trọng của đời học sinh, Kì thi tốt nghiệp THPT, mà trong kì thi đó, phần nghị luận văn học chiếm tới 5/10 điểm toàn bài thi môn Ngữ văn Nếu không có kỹ năng làm bài phần này, học sinh sẽ không đạt được điểm số cao, không có cơ hội xét tuyển vào những trường đại học như mong muốn, thậm chí có thể trượt tốt nghiệp

Trong xu hướng ra đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo những năm gần đây,

do rút ngắn thời lượng làm bài xuống còn 120 phút, nên có xu hướng thiên về kiểu đề nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm chứ không phải là vấn đề lớn như trước kia Đối với thơ, đây là kiểu đề quen thuộc và cũng thường trùng với lối khai thác cắt ngang khi học tác phẩm nên các em cơ bản chủ động được kiến thức, kỹ năng khi làm bài Còn đối với văn xuôi, đây được xem là kiểu đề khó hơn đối với các em bởi đa phần văn bản văn xuôi đều được khai thác theo phương pháp bổ dọc, tức là theo vấn đề Bởi thế cho nên các em không khỏi lúng túng khi thực hiện kiểu bài nghị luận này

Có thể khẳng định rằng, kiểu đề nghị luận về một nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi là khó viết Học sinh gặp khó khăn trong việc xác định luận đề, cách nêu và triển khai luận điểm, khó khăn trong việc vươn dung lượng và rất

dễ rơi vào kể, chép lại đoạn trích, thậm chí là lạc đề Kể cả khi các em vững kiến thức về bài học nhưng không có kỹ năng kiểu bài thì cũng không thể làm tốt được Điều này đã diễn ra trong các kì kiểm tra tại trường và trong cả kì thi THPT Quốc Gia 2019 khi các em phải đối diện với kiểu đề này

Xét thấy việc tăng cường ôn tập, rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về một nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi là vô cùng cấp thiết, bản thân tôi đã chủ động thiết kế đề cương, trao đổi cách thức làm bài, rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh Từng bước một, học sinh đã quen dần cách làm, từng bước nâng cao chất lượng bài viết Sau một năm áp dụng biện pháp, tôi thấy kết quả bài kiểm tra của các lớp tôi giảng dạy đã cải thiện đáng kể, học sinh thì không còn tâm lý “sợ” khi bắt gặp kiểu đề này nữa Đây là hành trang rất hữu ích giúp các em tự tin trinh phục kì thi cuối cấp của mình

Vì những lý do trên, tôi xin phép được chia sẻ những kinh nghiệm của mình khi áp dụng sáng kiến “Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I”

đến các quý đồng nghiệp cùng tham khảo, góp ý Tôi rất mong nhận được sự phản hồi góp ý của các quý đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện sáng kiến của mình hơn trong thực tiễn giáo dục

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

Bản thân tôi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm nhằm những mục đích sau:

1.3 Đối tượng ngiên cứu

- Nhân vật trong tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ văn khối 12

- Các văn bản:

+ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Vợ nhặt (Kim Lân), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), (Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục Việt

Nam)

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- PP nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

- PP thu thập tài liệu

- PP thống kê, xử lý số liệu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Vấn đề nhân vật trong tác phẩm văn xuôi

Trong tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm văn xuôi nói riêng, nhân ật đóng vai trò vô cùng quan trọng, là trụ cột của tác phẩm, nơi thể hiện rõ nhất tư tưởng và tài năng của nhà văn Nhân vật văn học giữ vai trò quyết định nội dung

tư tưởng trong tác phẩm, vì vậy nhà văn luôn dồn tâm huyết và tài năng của mình vào việc khắc hoạ nhân vật

Chính vì lẽ đó, khi đọc - hiểu tác phẩm văn xuôi, chúng ta thường tiếp cận phương diện nhân vật, coi đó như là “chìa khóa” để ta “giải mã” những tư tưởng

mà nhà văn “mã hóa” trong tác phẩm

2.1.2 Xu hướng ra đề thi Tốt nghiệp THPT của môn Ngữ văn hiện nay

Như đã nói ở trên, trong xu hướng ra đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo những năm gần đây, do rút ngắn thời lượng làm bài xuống còn 120 phút, nên có

xu hướng thiên về kiểu đề nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm chứ không phải là vấn đề lớn như trước kia

Trong chương trình Ngữ văn 12, những văn bản thuộc loại hình văn xuôi chiếm thời lượng lớn trong tổng thể chương trình của năm học Vì vậy kiểu đề nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi là kiểu đề phổ biến, có khả năng bắt gặp trong các kì thi, nhất là kì thi Tốt nghiệp THPT Có thể khẳng định rằng, kiểu đề nghị luận về một nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi là khó viết Học sinh gặp khó khăn trong việc xác định luận đề, cách nêu và triển khai luận điểm, khó khăn trong việc vươn dung lượng và rất dễ rơi vào kể, chép lại đoạn trích, thậm chí là lạc đề Kể cả khi các em vững kiến thức về bài học nhưng không có kỹ năng kiểu bài thì cũng không thể làm tốt được Điều này đã diễn ra trong các kì kiểm tra tại trường và trong cả kì thi THPT Quốc Gia 2019 khi các em phải đối diện với kiểu đề này

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thuận lợi

- Đa phần học sinh trong các lớp giảng dạy đều có kiến thức vững vàng về tác phẩm, là lớp theo khối C, D nên các em rất miệt mài, hứng thú với môn học

Trang 4

- Đa phần các em đã có kỹ năng làm văn nghị luận tốt, đặc biệt kỹ năng cảm nhận đoạn thơ đã thạo Đây là nền tảng quan trọng để giáo viên có thể đối chiếu những nét giống và khác nhau giữa hai kiểu đề, từ đó hình thành kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về một nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi thuận lợi hơn

- Trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển, việc tìm tòi, thu thập tài liệu trở nên dễ dàng Điều này giúp học sinh có thể chủ động tự tìm hiểu, tham khảo thêm tài liệu trên mạng

2.2.2 Khó khăn

- Học sinh các lớp tôi giảng dạy là các lớp 12a5, 12a8 khóa học 2018-2021có đầu vào thấp (điểm trung bình đầu vào môn Ngữ văn của các lớp lần lượt là 6,22 và 6,46) Điều này khó khăn cho việc giải quyết những kiểu đề khó Các em cần có thời gian để tiếp cận và rèn luyện kiểu đề này nhiều hơn theo tinh thần “Trăm hay không bằng tay quen”

- Năm học diễn ra trong tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp Sở Giáo dục và Đào tạo phải nhiều lần cho học sinh nghỉ học để chống dịch, rồi vừa học vừa chống dịch Điều này khiến hạn chế việc việc ôn luyện, viết bài của học sinh Vì vậy rất khó hình thành cho các em những kỹ năng mới

- Khi chưa áp dựng biện pháp, học sinh bắt gặp kiểu đề này đã vô cùng lúng túng, đa phần các em xác định sai luận đề (thường cảm nhận nhân vật trong cả tác phẩm hoặc cảm nhận không đúng với đặc điểm của nhân vật trong đoạn trích đó), đa phần các em không biết dẫn dắt, chuyển ý trước khi vào cảm nhận cụ thể, đa phần các em không biết nêu luận điểm và phát triển luận điểm… Bài viết rơi vào lan man, kể lể, trích dẫn đi trích dẫn lại nhiều lần, thậm chí có em sau khi mở bài, giới thiệu xong tác giả, tác phẩm thì chép nguyên văn lại đoạn trích vì không biết làm như thế nào

- Năm học 2019-2020, trong các bài khảo sát chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT tại trường, kết quả khảo sát của các lớp giữa các bài kiểm tra có sự chênh lệch khá lớn Đối với các bài viết nghị luận về đoạn thơ thì điểm tương đối ổn định, trung bình khoảng 7,5 Nhưng khi tổ ra đề khảo sát nghị luận về nhân vật trong đoạn trích văn xuôi thì điểm số của các lớp tụt xuống rõ rệt, chỉ trung bình trên 6 điểm Điều này khiến BGH nhà trường lo lắng, học sinh cũng mất tự tin, lo sợ, trong khi kì thi đang đến gần

Vì những mặt tồn tại trên nên bản thân tôi đã lựa chọn biện pháp này vào cuối năm học 2019-2020 và trong các năm học 2020-2021, 2021 - 2022 Sau đây là những biện pháp cụ thể tôi đã thực hiện tại đơn vị công tác

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1.Hệ thống hóa toàn bộ nội dung kiến thức của bài học và cách cắt đoạn thành từng đề:

Trang 5

Giới thiệu tác giả: Giáo viên định hướng cho học sinh viết một đoạn văn

hoàn chỉnh khoảng 10 đến 12 dòng giấy thi, chủ yếu nhấn mạnh tên tuổi, vị trí, phong cách nghệ thuật của tác giả trong nền văn học Có thể thêm những nhận định, đánh giá của các nhà phê bình về nhà văn để tăng tính truyền cảm

Giới thiệu tác phẩm: Giáo viên cũng định hướng cho học sinh viết một

đoạn văn ngắn giới thiệu về tác phẩm: giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và xuất

xứ, nội dung cơ bản, vị trí, giá trị của tác phẩm trong nền văn học

Khái quát nhân vật: Giáo viên cũng định hướng cho học sinh viết một

đoạn văn ngắn giới tiệu về nhân vật: Vai trò của nhân vật, hoàn cảnh, số phận,

vẻ đẹp và ý nghĩa của nhân vật

Dự đoán các đề: Dựa vào đặc trưng của truyện là xây dựng nhân vật

xoay quanh chuỗi các sự việc cụ thể Vì vậy có thể cắt mỗi sự việc thành một đoạn trích, thành một đề để nghị luận Ví dụ trong tác phẩm vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, chúng ta có thể bắt gặp một số đề cơ bản sau:

-Đề 1:

Đọc đoạn trích sau:

“Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc Một hôm, Mị trốn về nhà, hai tròng mắt còn đỏ hoe Trông thấy bố, Mị quỳ, úp mặt xuống đất, nức nở Bố Mị cũng khóc, đoán biết lòng con gái:

- Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người t, tao thì ốm yếu quá rồi Không được, con ơi!

Mị chỉ bưng mặt khóc Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã đi tìm hái trong rừng, Mị vẫn giấu trong áo Thế là Mị không đành lòng chết Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần nữa Mị đành trở lại nhà thống lí.

Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.

Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.”

(Trích Vợ chồng A Phủ, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam 2020,

tr 6)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét tư

tưởng của nhà văn Tô Hoài khi viết về người lao động miền núi.

-Đề 2:

Đọc đoạn trích sau:

Trang 6

Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho.Trẻ em đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều quanh nương để sưởi lửa.Ở Hồng Ngài, người ta thành lệ cứ ăn Tết thì gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào Ăn Tết như thế cho kịp mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới Hồng Ngài năm ấy

ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội.

Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm

đá xòe như con bướm sặc sỡ (…) Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi.Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi.

"Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu".

Tiếng chó sủa xa xa Những đêm tình mùa xuân đã tới.

Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm sân chơi chung ngày tết Trai gái, trẻ con ra sân ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn và nhảy

Cả nhà thống lý ăn xong bữa cơm tết cúng ma Xung quanh chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn nhảy lên xuống, run bần bật Vừa hết bữa cơm tiếp ngay cuộc rượu bên bếp lửa

Ngày tết, Mị cũng uống rượu Mỵ lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị đang sống

về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi

lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.

Rượu đã tan lúc nào Người về, người đi chơi đã vãn cả Mị không biết Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà.Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường Mị từ từ bước vào buồng Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước.

Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau!Nếu

có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Anh ném pao,em không bắt

Em không yêu,quả pao rơi rồi

(Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr

7,8)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét sự

tinh tế khi diễn tả sự hồi sinh trong tâm hồn nhân vật của nhà văn Tô Hoài.

-Đề 3:

Đọc đoạn trích sau:

Trong bóng tối, Mị đứng im lặng,như không biết mình đang bị trói Hơi rượu còn nồng nàn Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi "Em không yêu, quả pao rơi rồi Em yêu người nào, em bắt pao nào!" Mị

Trang 7

vùng bước đi Nhưng tay chân đau không cựa được Mị không nghe tiếng sáo nữa Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.

Chó sủa xa xa Chừng đã khuya Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi.

Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ Hơi rượu toả Tiếng sáo Tiếng chó sửa xa

xa Mỵ lúc mê, lúc tình Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ.

Mị bàng hoàng tỉnh Buổi sáng âm sâm trong cái nhà gỗ rộng Vách bên cũng

im ắng Không nghe tiếng lửa réo trong lò nấu lợn Không một tiếng động Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi chơi hay cũng đang phải trói như Mị Mị không thể biết Ðời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài, một đời người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt.

(Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 8,9)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét

cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài.

-Đề 4:

Đọc đoạn trích sau:

Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn Nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mỵ cũng đến chết héo Mỗi đêm, Mỵ dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần.

Thường khi đến gà gáy, Mỵ dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu, các chị em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn.

Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, a Phủ lại mở mắt Ngọn lửa bùng lên, cùng lúc ấy Mỵ cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng Mới biết nó còn sống Mấy đêm nay như thế.

Nhưng Mỵ vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay nếu A Phủ là cái xác chết đứng chết đấy, cũng thế thôi Mỵ vẫn trở dậy, vẫn sưởi, Mỵ chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa Có đêm A Sử chợt về thấy Mỵ ngồi đấy, A Sử ngứa tay đánh Mỵ ngã xuống cửa bếp Nhưng đêm sau Mỵ vẫn ra sưởi như đêm trước.

Lúc ấy đã khuya Trong nhà ngủ yên Mỵ trở dậy thổi lửa, ngọn lửa bập bùng sáng lên Mỵ trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hóm má đã xám đen Thấy tình cảnh thế, Mỵ chợt nhớ đêm năm trước, A Sử trói Mỵ, Mỵ cũng phải trói đứng thế kia Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết Nó bắt mình chết cũng thôi Nó đã bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước ở cái nhà này Chúng nó thật độc ác Chỉ đêm mai là người ta chết, chết đau, chết đối, chết rét, phải chết Ta là thân phận đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì mà phải chết A Phủ Mỵ phảng phất nghĩ như vậy.

Ðám than đã vạc hẳn lửa Mỵ không thổi cũng không đứng lên Mỵ nhớ lại đời mình Mỵ tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng trốn được rồi,

Trang 8

lúc đó bố con thống lý sẽ đổ là Mỵ đã cởi trói cho nó, Mỵ liền phải trói thay vào đấy.

Mỵ chết trên cái cọc ấy Nghĩ thế, nhưng làm sao Mỵ cũng không thấy sợ

Trong nhà tối bưng, Mỵ rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt Nhưng Mỵ tưởng như A Phủ biết có người bước lại Mỵ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây A Phủ thở phè từng hơi như rắn thở, không biết mê hay tỉnh Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mỵ cũng hốt hoảng Mỵ chỉ thì thào được một tiếng "Ði đi " rồi Mỵ nghẹn lại A Phủ khuỵu xuống không bước nổi.

Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vung lên, chạy.

Mỵ đứng lặng trong bóng tối.

Trời tối lắm Mỵ vẫn băng đi Mỵ đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy xuống tới lưng dốc.

Mỵ thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

- A Phủ cho

A Phủ chưa kịp nói, Mỵ lại vừa thở vừa nói:

- ở đây chết nất,

A Phủ chợt hiểu.

Hai người đỡ nhau lao xuống dốc núi

(Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 13)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét

cách nhìn của nhà văn Tô Hoài đối với người lao động.

Việc thống kê các đề đối với mỗi tác phẩm là rất cần thiết, giúp học sinh có tâm thế chủ động trong ôn luyện và làm bài.

2.3.2 Định hướng dàn ý kiểu bài

Việc hình thành dàn ý cho kiểu bài này là vô cùng quan trọng, giúp học sinh nắm được trọng tâm của bài nghị luận là chỗ nào, hình dung hệ thống luận điểm cần triển khai để làm rõ về nhân vật trong đoạn trích ấy

a.Cách mở bài

“Vạn sự khởi đầu nan”, trong một bài văn nghị luận, khâu mở bài quyết định sự thành bại của cả bài văn Mở bài luôn phải đạt bốn yêu cầu: “đủ” (đầy

đủ các yêu cầu về nội dung), “đúng” (đúng quy cách, đúng kiến thức),

“trúng” (nêu trúng luận đề), “hay” (sự hấp dẫn, truyền cảm).

Tuy nhiên, trong thực tế, khi viết kiểu bài này, học sinh thường chưa

đảm bảo hai yêu cầu quan trọng của mở bài là “chưa đủ” và “chưa trúng” Vì:

- Học sinh thường chỉ giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật chứ chưa giớ

thiệu nhân vật gắn với đoạn trích, nên “chưa trúng” (có thể coi là lạc đề).

- Học sinh thường không dẫn đoạn trích cần nghị luận vào trong phần mở

bài, nên “chưa đủ”

Từ thực trạng đó, tôi định hướng cho học sinh các mở bài như sau:

Mở bài = Dẫn dắt + nêu vấn đề + trích dẫn đoạn trích

Phần dẫn dắt học sinh có thể lựa chọn theo hướng trực tiếp hoặc gián tiếp, tùy vào khả năng và văn phong của từng em (khoảng hai câu)

Trang 9

Phần nêu vấn đề, học sinh phải nêu được tên nhân vật, nét đặc điểm cơ bản nhất của nhân vật rồi nhấn mạnh đặc điểm của nhân vật được biểu hiện trong đoạn trích (khoảng 2 đến 3 câu)

Phần trích dẫn thì học sinh không nên trích dẫn nguyên văn vì đoạn văn

rất dài Giáo viên hướng dẫn học sinh cách trích dẫn như sau: trích dẫn nguyên văn câu đầu đoạn -> sử dụng […] đặt ở giữa để thay thế cho các câu giữa đoạn -> trích dẫn nguyên văn câu cuối đoạn

Ví dụ minh họa:

Vận mệnh đích thực của văn chương không gì khác ngoài việc ca ngợi sự sống của con người Sứ mệnh của nhà văn không gì khác ngoài việc tái sinh sự

sống cho những người “cùng đường tuyệt lộ” Những ai đã đọc “Vợ chồng A

Phủ” chắc hẳn phải thấy rằng Tô Hoài xứng đáng là nghệ sĩ chân chính khi kiên quyết bảo vệ sự sống, hồi sinh cho Mị, nhân vật tiêu biểu cho số phận và khát vọng sống của những người lao động miền núi trước cách mạng tháng Tám

Đoạn trích “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu […] Em không yêu, quả pao rơi

rồi ” đã tập trung làm nổi bật vẻ đẹp sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân Qua đó, ta thấy được sự tinh tế khi diễn tả sự hồi sinh trong tâm hồn nhân vật của nhà văn Tô Hoài (Mở bài cho đề 2 mục 2.2.1)

Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh phần mở bài cho đề cảm nhận về nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (“Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài)

b Cách triển khai phần thân bài

Phần này học sinh cũng phải tuân thủ 3 bước cơ bản:

Giới thiệu chung -> cảm nhận nhân vật trong đoạn trích -> đánh giá

nâng cao vấn đề

b1 Phần giới thiệu chung

- Giới thiệu tác giả: Giáo viên định hướng cho học sinh viết một đoạn văn

hoàn chỉnh khoảng 10 đến 12 dòng giấy thi, chủ yếu nhấn mạnh tên tuổi, vị trí,

Trang 10

phong cách nghệ thuật của tác giả trong nền văn học Có thể thêm những nhận định, đánh giá của các nhà phê bình về nhà văn để tăng tính truyền cảm

Ví dụ minh họa:

Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về tác giả Kim

Lân

- Giới thiệu tác phẩm: Giáo viên cũng định hướng cho học sinh viết một

đoạn văn ngắn giới thiệu về tác phẩm: giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và xuất

xứ, nội dung cơ bản, vị trí, giá trị của tác phẩm trong nền văn học

Ví dụ minh họa:

Ngày đăng: 06/06/2022, 07:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh phần mở bài cho đề cảm nhận về nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (“Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài) - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh phần mở bài cho đề cảm nhận về nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (“Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài) (Trang 9)
Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về tác giả Kim Lân - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về tác giả Kim Lân (Trang 10)
Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (Trang 11)
Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân (Trang 11)
Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về đoạn trích từ “Bữa cơm ngày đói…” đến hết  trong “Vợ nhặt” của Kim Lân  b2 - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về đoạn trích từ “Bữa cơm ngày đói…” đến hết trong “Vợ nhặt” của Kim Lân b2 (Trang 12)
Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về đoạn trích miêu tả diễn biến tâm trạng bà cụ Tú vào buổi tối khi Tràng - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi giới thiệu về đoạn trích miêu tả diễn biến tâm trạng bà cụ Tú vào buổi tối khi Tràng (Trang 12)
Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi liên hệ sự hồi sinh trong tâm hồn của Mị với nhân vật Chí trong “Chí Phèo” của Nam Cao - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi liên hệ sự hồi sinh trong tâm hồn của Mị với nhân vật Chí trong “Chí Phèo” của Nam Cao (Trang 15)
Hình ảnh chụp phần kết bài từ bài luyện viết của học sinh đối với đề cảm nhận về nhân vật Mị trong “Vợ chồng A phủ” của Tô Hoài - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp phần kết bài từ bài luyện viết của học sinh đối với đề cảm nhận về nhân vật Mị trong “Vợ chồng A phủ” của Tô Hoài (Trang 16)
Hình ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi đánh giá nâng cao về nhân vật Tràng trong đoạn trích từ “Bữa cơm ngày đói…” đến hết   - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
nh ảnh chụp từ bài luyện viết của học sinh khi đánh giá nâng cao về nhân vật Tràng trong đoạn trích từ “Bữa cơm ngày đói…” đến hết (Trang 16)
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT - (SKKN 2022) Rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài nghị luận về nhân vật trong một đoạn trích văn xuôi cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Hậu Lộc I
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w