Một trong những quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo là “ Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOÀNG LỆ KHA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM THỰC TIỄN CHƯƠNG
NITƠ – PHOTPHO HÓA HỌC 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH
Người thực hiện: Trương Thị Hồng Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Hoàng Lệ Kha SKKN thuộc lĩnh vực ( môn ): Hóa học
THANH HÓA NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU….….……… …… 3
1.1 Lý do chọn đề tài……… 3
1.2 Mục đích nghiên cứu……….…… 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu……….…… 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu……… ……….4
II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINHNGHIỆM……… …4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.2 Thực trạng vấn đề……… ……… … 6
2.3 Các giải pháp thực hiện……… ……… … 6
2.4 Hiệu quả của sáng kiến………… ……… 16
III KẾT LUẬN……… ……….……… 17
Trang 3I MỞ ĐẦU.
1.1 Lý do chọn đề tài.
Một trong những quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông
2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo là “ Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn
đề trong học tập và đời sống”
Từ đó ta thấy rằng tư tưởng cốt lõi của chương trình giáo dục năm 2018 là hướng đến quá trình giáo dục hình thành năng lực chung, năng lực chuyên biệt
để con người có tiềm lực phát triển, thích nghi với hoàn cảnh sống, học tập và làm việc luôn biến đổi trong cả cuộc đời
Là một môn khoa học vừa lý thuyết, vừa thực nghiệm, hóa học có rất nhiều khả năng trong việc phát triển những năng lực nhận thức cho học sinh
Nó cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về các chất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môi trường và con người Việc vận dụng những kiến thức lý thuyết này vào cuộc sống, việc giải các bài tập có nội dung gắn với thực tiễn sẽ làm phát triển ở các em tính tích cực, tự lập, óc sáng kiến, những hứng thú nhận thức, tinh thần vượt khó, tức là những phẩm chất quí báu đối với cuộc sống, lao động sản xuất
Thực tế dạy học cho thấy, bài tập hóa học nói chung và bài tập hóa học thực tiễn có tác dụng giúp học sinh rèn luyện và phát triển tư duy Thông qua việc giải những bài tập sẽ giúp các em say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực vận dụng kiến thức hóa học để giải quyết vấn đề trong cuộc sống B ê n c ạ n h đ ó , trong quá trình dạy và học môn hóa học, nếu giáo viên chỉ ra được sự gần gũi giữa môn học với thực tế cho học sinh thấy thì các
em sẽ yêu thích môn hóa học hơn
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Bài tập trắc nghiệm
thực tiễn chương nito-photpho- hóa học 11nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh” để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Đề tài nhằm tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn chương nito-photpho giúp phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông
Trang 41.3 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh thực hiện nội dung này: học sinh lớp 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lý luận : Nghiên cứu các tài liệu liên quan như lý luận dạy học, chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sách giáo khoa hóa học 11, …
Phương pháp điều tra quan sát : Tìm hiểu về việc sử dụng bài tập thực tiễn hóa học ở một số trường phổ thông
Phương pháp thực nghiệm : Tiến hành thực nghiệm ở các lớp 11B1, 11B2, trường THPT Hoàng Lệ Kha
II NỘI DUNG.
2.1 Cơ sở lí luận.
2.1.1 Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn
Trong các năng lực chuyên biệt về môn Hóa học thì năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn là một trong những năng lực quan trọng cần được hình thành và phát triển trong dạy học hóa học ở trường phổ thông Từ khái niệm về năng lực, có thể thấy rằng năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn là khả năng chủ thể vận dụng tổng hợp những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú, để giải quyết có hiệu quả các vấn đề của thực tiễn có liên quan đến hóa học Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của học sinh THPT được mô tả gồm các năng lực thành phần và các mức độ thể hiện như sau:
- Năng lực hệ thống hóa kiến thức Năng lực này có các mức độ thể hiện:
Hệ thống hóa, phân loại được kiến thức hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức hóa học đó Khi vận dụng kiến thức chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy
ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
- Năng lực phân tích, tổng hợp các kiến thức hóa học vận dụng vào cuộc sống thực tiễn Các mức độ thể hiện của năng lực này gồm: Định hướng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi vận dụng kiến thức hóa học có ý
Trang 5thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụng trong các lĩnh vực gì, ngành nghề gì, trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
- Năng lực phát hiện các nội dung kiến thức hóa học được ứng dụng trong các vấn đề, các lĩnh vực khác nhau Năng lực này thể hiện ở các mức độ: Phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các vấn đề thực phẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, khoa học thường thức, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp
và môi trường
- Năng lực phát hiện các vấn đề trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa học để giải thích Năng lực này được thể hiện: Tìm mối liên hệ và giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên và các ứng dụng của hóa học trong cuộc sống dựa vào các kiến thức hóa học và các kiến thức của các môn khoa học khác
- Năng lực độc lập sáng tạo trong việc xử lí các vấn đề thực tiễn Mức độ thể hiện của năng lực này là: Chủ động sáng tạo lựa chọn phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề; Có năng lực hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn
đề hóa học liên quan đến cuộc sống thực tiễn và bước đầu biết tham gia nghiên
cứu khoa học để giải quyết các vấn đề đó
2.1.2 Bài tập thực tiễn
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học”
Bài tập hóa học là phương tiện chính và hết sức quan trọng để rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức cho học sinh Là nhiệm vụ học tập mà giáo viên đặt cho người học, buộc người học vận dụng các kiến thức, năng lực của mình
để giải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tích cực, hứng thú và sáng tạo
Bài tập hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định
Bài tập thực tiễn là những bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến
thức, kĩ năng hóa học (những điều kiện và yêu cầu) cùng với các kiến thức của các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một số vấn đề đặt ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ thực tiễn Đây là bài tập mở, tạo cơ hội cho học sinh có nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
Trang 62.1.3 Nguyên tắc xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập thực tiễn
Khi xây dựng dạng bài tập này cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nội dung bài tập hóa học thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và tính hiện đại
- Bài tập hóa học thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của học sinh
- Bài tập hóa học thực tiễn phải dựa vào nội dung học tập
- Bài tập hóa học thực tiễn phải đảm bảo logic sư phạm
Bài tập hóa học thực tiễn phải có tính hệ thống, logic
2.2 Thực trạng vấn đề
Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong những môn học khó Một bộ phận không nhỏ học sinh có tâm lý ngại khó, ngại tư duy nên không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học Ngay
cả với những học sinh chọn môn hóa học để thi đại học, cao đẳng và thậm chí đã đạt điểm số cao nhưng khi hỏi đến những hiện tượng gần gũi trong đời sống hằng ngày thì rất lúng túng, khả năng am hiểu sâu rộng và đúng bản chất hóa học, vận dụng hóa học còn rất hạn chế Có thể chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng này như sau:
Số lượng bài tập hóa học thực tiễn đặc biệt là bài tập hóa học vô cơ trong sách giáo khoa quá ít, trong đó chủ yếu là dạng tự luận Kiến thức lý thuyết về bài tập thực tiễn rất ít, ví dụ như kiến thức về quan sát hiện tượng trong cuộc sống sinh hoạt ( đồ ăn, đồ uống, vệ sinh ) chỉ được đưa ra khi học xong một vài chất cụ thể, hoàn toàn không được trình bày trong sách giáo khoa mà do giáo viên tự biên soạn về nội dung để dạy cho học sinh
Việc dạy học của giáo viên thường chỉ tập trung vào các chuẩn kiến thức
và kỹ năng để phục vụ cho kiểm tra, cho thi cử Bên cạnh đó, số câu hỏi thực tiễn trong đề thi tốt nghiệp THPT cũng không nhiều, đề vẫn thiên về tính toán lý thuyết Điều này dẫn đến cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học chưa chú ý dành thời gian để cho học sinh đưa ra những khúc mắc để giải đáp cho các em về những hiện tượng các em quan sát được trong đời sống Trong các giờ học nói chung, những mâu thuẫn mà học sinh tìm được trong các tình huống, các vấn đề thường là mâu thuẫn giữa lý luận với lý luận là chính, còn việc liên hệ giữa lý luận và thực tiễn còn hạn chế Chính vì vậy mà học sinh dù rất thích vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn nhưng vẫn chưa hình thành được thói quen liên hệ giữa những kiến thức lý thuyết học được với thực tế xung quanh các em
Trang 72.3 Các giải pháp thực hiện.
2.3 1 Quy trình thiết kế bài tập thực tiễn
Theo thực tiễn dạy học, bài tập thực tiễn được xây dựng theo các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn đơn vị kiến thức, hiện tượng, bối cảnh/tình huống thực tiễn có liên quan
Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức, xây dựng mâu
thuẫn nhận thức từ bối cảnh/tình huống lựa chọn và xác định các điều kiện (kiến thức, kĩ năng…) cần thiết để giải quyết mâu thuẫn này
Bước 3: Thiết kế bài tập theo mục tiêu.
Bước 4: Xây dựng đáp án, lời giải và kiểm tra thử
Ví dụ :
Bước 1: Lựa chọn đơn vị kiến thức: Chọn kiến thức về tính chất hóa học
của phân đạm ure (Bài phân bón hóa học)
Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức.
Mục tiêu của bài tập là xác định phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn thông qua việc nhận biết về các tính chất của đạm ure, từ
đó biết sử dụng một cách hợp lý giúp tăng năng suất cây trồng
Bước 3: Thiết kế bài tập theo mục tiêu
Ruộng lúa nhà bạn Bình mới cấy được một tháng Lúa đã cứng cây và đang trổ giò cần được bón thúc bằng phân đạm (bạn Bình đã chọn phân ure) Vậy mà rêu xanh đã phủ kín mặt đất, cần phải bón vôi để diệt rêu Theo em, bạn Bình nên lựa chọn phương án nào trong số các phương án dưới đây để diệt được rêu và làm lúa được tốt hơn?
A Bón vôi bột trước một lát rồi bón đạm
B Bón đạm trước một lát rồi bón vôi bột
C Trộn đều vôi bột với đạm rồi bón cùng một lúc
D Bón vôi bột trước, vài ngày sau mới bón đạm
Bước 4: Xây dựng đáp án, lời giải
Dự kiến câu trả lời
Chọn đáp án D
Khi bón đạm ure vào ruộng lúa, ure tác dụng với nước:
(NH2)2CO + H2O CO3
Trang 8Vôi bột có thành phần hóa học chính là Ca(OH)2 Khi bón vôi bột cùng với đạm ure sẽ xảy ra phản ứng:
Ca(OH)2 + CO3 + CaCO3
Do đó sẽ mất đạm và làm cho đất bị cứng
2.3.2 Xây dựng các bài tập thực tiễn
Tôi đã xây dựng được khoảng 20 bài tập thực tiễn Dưới đây là một số bài tập ví dụ
2.3.2.1 Bài tập về nito và hợp chất của nito.
Câu 1: Hệ thống túi khí (Supplementary Restraint System – SRS) là thiết bị tự
động được trang bị để hạn chế tổn thương cho người ngồi trên xe khi có tai nạn xảy ra Khi va chạm đủ mạnh, khí X sinh ra trong túi khí bởi sự phân hủy NaN3
(natri azit) Khí này cũng có trong thành phần của không khí Khí X là
Hướng dẫn giải
Chọn đáp án B
Túi khí xe ô tô
Khi xe bị tai nạn, những va chạm đột ngột sẽ được ghi nhận bởi 1 bộ cảm ứng,
từ đó kích hoạt loạt phản ứng hóa học cực nhanh trong túi khí (car airbag) Túi khí bung ra sẽ tránh cho người lái xe những va chạm trực tiếp vào các bộ phận phía trước xe và hầu hết các trường hợp là giúp họ tránh khỏi những chấn
thương mạnh, thậm chí là cái chết thảm khốc Trong thiết bị car airbag hóa chất được dùng là NaN3, KNO3 và SiO2
Trong quá trình túi khí bung ra (detonation) thì hàng loạt các phản ứng đã diễn
ra một cách cực kỳ nhanh chóng Ban đầu, bộ cảm ứng kích thích bằng nhiệt được khơi mào khi có va chạm, NaN3 phân hủy cực nhanh tạo khí N2
Trang 9Tiếp đó, Na là kim loại hoạt động mạnh và có khả năng nổ, người ta sử dụng KNO3 và SiO2 như là chất để ngăn cản sự gây hại từ Na bằng cách tạo thành
Na2O rồi tạo thành thủy tinh silicate và cả khí N2 Toàn bộ phản ứng tạo khí N2
làm căng đầy túi khí diễn ra 1 cách rất nhanh có thể mô tả bằng 3 giai đoạn:
1 NaN3 Na + 3/2N2
2 2Na + 2KNO3 K2O + Na2O + 2O2 + N2
3 K2O + SiO2 K2SiO3 Na2O + SiO2 Na2SiO3
Câu 2: Bóng cười, khí cười hiện nay được nhiều người trẻ sử dụng với
mục đích giải trí, mang lại những cảm giác thăng hoa, phấn khích trong những cuộc ăn chơi.Các bác sĩ trên thế giới cũng từng cảnh báo rằng, nếu lạm dụng việc hít bóng cười hay khí cười ảnh hưởng trực tiếp tới tim mạch, hệ thần
kinh mà hậu quả xấu nhất là dẫn tới trầm cảm hoặc thiệt mạng
Bóng cười tràn ngập tại phố Tây Bùi Viện- TP HCM hồi tháng 9.1019.
Khí cười còn thường được dùng trong y tế, khi dùng với oxy sẽ có tác dụng giảm đau và vô cảm nhẹ tại vị trí bị chấn thương hay trong các thủ thuật răng, sinh nở và tiểu phẫu Khi hít vào bệnh nhân thấy cơ thể và tinh thần thư giãn, không lo lắng Khí cười là:
A CO2 B N2O C NO D NO2 Hướng dẫn giải
Chọn đáp án B
Câu 3: Trong khí thải của quá trình sản xuất thuốc trừ sâu, phân bón hóa học có
lẫn khí NH3 Khí này rất độc đối với sức khỏe con người và môi trường, hít phải khí này với lượng thấp có cảm giác cay buốt, hàm lượng cao có thể làm mù mắt
Trang 10hoặc gây dị ứng nghiêm trọng khi ngửi Để khử NH3 có lẫn trong không khí, người ta có thể dẫn khí thải đi qua bể chứa chất nào trong các chất sau:
A Dẫn hỗn hợp khí qua dung dịch Ca(OH)2
B Dẫn hỗn hợp khí qua ống sứ đựng bột CuO nung nóng
C Dẫn hỗn hợp khí qua dung dịch axit clohidric
D Dẫn hỗn hợp khí qua dung dịch NaOH
Hướng dẫn giải
Chọn đáp án C
Câu 4: Một trong những thành phần khí thải của nghành công nghiệp sản xuất
xi măng là khí NO2 Khí NO2 là khí ảnh hưởng rõ rệt đối với sức khỏe vì khi nó
ở phổi sẽ chuyển hóa thành các nitrosamin, một trong số các chất có khả năng gây ung thư Ngoài ra NO2 có thể được chuyển vào máu tạo ra hợp chất
methemoglobin có hại cho sức khỏe con người Để loại bỏ khí NO2 trong công nghiệp người ta dùng hóa chất nào trong các hóa chất sau?
A dung dịch NaOH B CaO ( bột)
C dung dịch Ca(OH)2 D Cả A và B
Hướng dẫn giải
Chọn đáp án C
NO2 bị hấp thụ bởi dung dịch kiềm Sử dụng dung dịch Ca(OH)2 vì giá thành rẻ hơn dung dịch NaOH
2NO2 + 2OH-
Câu 5: Nồng độ ion NO3- trong nước uống tối đa cho phép là 9 mg/l Nếu thừa ion NO3- sẽ gây ra một loại bệnh thiếu máu hoặc tạo thành nitrosamin (một chất gây ung thư đường tiêu hóa) Để nhận biết ion NO3- người ta dùng các hóa chất nào dưới đây?
A.dung dịch NaOH và CuSO4 B Cu và H2SO4 loãng
C Cu và NaOH D CuSO4 và H2SO4 loãng
Hướng dẫn giải
Chọn đáp án B
Cu + H+ + NO3- Cu2+ + NO + H2O
NO + O2 NO2