Trong chương trình giảng dạy mới, đặc biệt là trong các đề thi, nghị luận xã hội đã thật sự được chú trọng nhằm mục đích tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội, tạo cho họ
Trang 1I Lí do chọn biện pháp
Môn Ngữ văn (Bao gồm ba phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn) là một môn học quan trọng trong nhà trường Môn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp nên có vị trí quan trọng trong các môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh Cùng với việc rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt thì phần làm văn cần được chú trọng nhất vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng vận dụng thực hành, sáng tạo của học sinh Làm tốt phần này sẽ giúp các em ứng dụng vào tạo lập văn bản và trình bày một vấn đề thành công trong cuộc sống sau này Phân môn Làm văn gồm hai dạng: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội Trong chương trình giảng dạy mới, đặc biệt là trong các đề thi, nghị luận xã hội đã thật sự được chú trọng nhằm mục đích tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội, tạo cho học sinh năng lực chủ động đề xuất, phát biểu những suy nghĩ của chính mình trước nhiều vấn đề của cuộc sống Nhưng khi phải trình bày những ý kiến, suy nghĩ cá nhân về các vấn đề tư tưởng, đạo lí, những hiện tượng xã hội… đa số học sinh rất lúng túng và sợ kiểu bài này Nguyên nhân học sinh yếu kiểu bài này là do văn nghị luận xã hội yêu cầu kiến thức rộng hơn Các em phải có kiến thức thực tế, phải độc lập suy nghĩ Chính vì vậy mà kiểu bài này ít gợi được sự hứng thú cho học sinh Thực ra, thì sách giáo khoa và sách giáo viên đều có hướng dẫn phương pháp làm bài cụ thể nhưng nhiều học sinh vẫn thấy khó khăn khi viết dạng bài này Mặt khác, giáo viên muốn cung cấp kiến thức đầy
đủ cho học sinh cũng là điều rất khó vì số tiết trong chương trình có giới hạn Vì
những lí do trên, bản thân tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học viết đoạn văn nghị luận xã hội ở trường trung học phổ thông” nhằm
góp phần giúp học sinh và giáo viên khắc phục những khó khăn khi dạy và học dạng bài nghị luận xã hội cho học sinh
II Nội dung
1) Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp:
Trước khi áp dụng:“Một số biện pháp nâng cao chất lượng viết đoạn văn nghị luận xã hội ở trường trung học phổ thông” học sinh làm phần nghị luận xã hội
chưa đạt kết quả cao do chưa biết cách triển khai vấn đề và chưa nắm được cách sử dụng dẫn chứng nghị luận xã hội Học sinh còn có tâm lí ngại học môn văn, lúng túng trước những vấn đề mới mẻ được đặt ra trong ngữ liệu đọc hiểu Đặc biệt là hầu hết các em rất lúng túng trong cách triển khai vấn đề, chưa hiểu được bản chất của văn nghị luận Các đoạn văn nghị luận xã hội các em viết chưa hoàn thiện, chưa sử dụng dẫn chứng phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận Các câu văn
Trang 2viết chưa tạo nên độ sắc nét, phần dẫn dắt chưa tạo ấn tượng Chính những điểm này sẽ khiến đoạn văn nghị luận xã hội đơn điệu, chưa thực sự thuyết phục với người đọc Bởi vậy, điểm của phần này chưa cao, khiến cho điểm của tổng bài thi chưa cao
2 Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.1 Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu rõ bản chất của văn nghị luận xã hội:
Văn nghị luận là một dạng văn mà trong bài người viết, người nói, tác giả bài viết dùng lí lẽ, các dẫn chứng, sau đó lập luận chỉ ra những điểm nhấn, vấn đề nhằm mục đích xác lập chỉ ra cho người đọc, người nghe thấy được tư tưởng, quan điểm của tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm Văn nghị luận xã hội có nét đặc thù hoàn toàn khác biệt với nghị luận văn học ở chỗ: Vấn đề đặt ra trong văn nghị luận
xã hội là các vấn đề thực tế từ đời sống xã hội, được mọi người quan tâm Đời sống
xã hội phong phú đa dạng ra sao thì các vấn đề xã hội cũng vậy Vấn đề đó có thể được chỉ rõ trong đề, nhưng có khi là do người đọc tự rút ra từ ngữ liệu đọc hiểu Vậy nên việc cảm thụ ngữ liệu mới để tìm ra vấn đề nghị luận là yêu cầu hết sức cần thiết Muốn làm tốt điều này, giáo viên cần luyện nhiều đề, cho học sinh tiếp cận với nhiều ngữ liệu mới mẻ, rèn luyện khả năng cảm thụ cho các em
Bên cạnh đó, mỗi đoạn văn nghị luận xã hội đều phải có luận điểm rõ ràng Luận điểm là quan điểm bộc lộ tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận Để làm rõ luận điểm thì người viết phải sử dụng luận cứ, dẫn chứng và lí lẽ nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề Cách thức lập luận cũng rất quan trọng để tăng sức thuyết phục của đoạn văn Lập luận bao gồm cách suy lí, qui nạp, diễn dịch, so sánh, nghiên cứu và phân tích, tổng hợp sao cho vấn đề đưa ra hợp lí và hài hòa, không thể bác bỏ
2.2 Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về khái niệm đoạn văn, từ ngữ chủ đề, câu chủ đề và quan hệ giữa các câu trong đoạn văn nghị luận xã hội.
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành
Các đoạn văn nghị luận thường có câu chủ đề Câu chủ đề có nhiệm vụ thông báo luận điểm của đoạn văn một cách rõ ràng, chính xác Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn Các câu còn lại trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai làm rõ
Trang 3nội dung của câu chủ đề Từ đó sẽ tạo nên một đoạn văn hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu của đoạn văn nghị luận xã hội đúng và hay
2.3 Giáo viên hướng dẫn học sinh cách trình bày nội dung đoạn văn
Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày nội dung đoạn văn theo một số cách cơ bản sau:
Đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch: là đoạn văn trong đó câu chủ đề đứng
ở đầu đoạn, các câu còn lại mang ý nghĩa giải thích, chứng minh để làm rõ nội dung của câu chủ đề
Đoạn văn trình bày theo cách quy nạp: là đoạn văn được trình bày từ các ý
chi tiết cụ thể nhằm minh họa cho câu chủ đề ở cuối đoạn
Đoạn văn trình bày theo cách song hành: là đoạn văn được sắp xếp các ý
ngang nhau, bổ sung cho nhau và phối hợp với nhau
Đoạn văn trình bày theo cách móc xích: là đoạn văn trong đó cách sắp xếp ý
nọ tiếp theo ý kia theo lối ý sau móc nối vào ý trước (qua những từ ngữ cụ thể) để
bổ sung, giải thích… cho ý trước
(Giáo viên có thể định hướng cho các học sinh viết theo lối diễn dịch vì đó là cách viết dễ triển khai, phù hợp dung lượng thời gian khá ngắn để viết đoạn văn nghị luận xã hội)
Xuất phát từ thực tế là các vấn đề nghị luận xã hội rất phong phú, đa dạng Học sinh hoàn toàn có khả năng sẽ phải tiếp cận một ngữ liệu hoàn toàn mới mẻ, vấn đề nghị luận chưa từng gặp Bởi thế, trong quá trình giảng dạy tôi rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn theo nội dung trên một cách thuần thục kết hợp với kĩ năng triển khai ý một cách linh hoạt Để triển khai các ý trong đoạn văn nhằm làm rõ câu chủ đề (luận điểm) đưa ra theo nội dung trình bày của đoạn văn, tôi tập trung hướng dẫn các em triển khai ý trong đoạn văn theo cấu trúc của mỗi dạng bài cụ thể là:
- Đối với đoạn văn Nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống cần tập trung vào hai điểm cơ bản sau:
+ Một là hình dung cho rõ sự việc hiện tượng cần nghị luận Người viết bài cần nêu được sự việc, hiện tượng cần nghị luận, nêu cụ thể tên vấn đề nghị luận, Việc gọi tên hiện tượng, sự việc đòi hỏi phải có năng lực khái quát nhất định Tên gọi có thể trở thành chủ đề của đoạn văn
+ Hai là phân tích, đánh giá tính chất tốt – xấu, lợi – hại, hay – dở của sự việc hiện tượng, chỉ ra nguyên nhân của sự việc, hiện tượng đó và bày tỏ thái độ đồng tình, biểu dương hay lên án, phê phán
Trang 4+ Chỉ rõ hướng khắc phục vấn đề trên cơ sở căn cứ vào phần nguyên nhân (Nguyên nhân nào thì giải pháp ấy)
+ Rút ra bài học nhận thức và hành động
- Đối với đoạn văn Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có phần giống với đoạn văn nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống ở chỗ sau khi phân tích sự việc, hiện tượng người viết có thể rút ra những tư tưởng và đạo lí đời sống Nhưng nó khác
về xuất phát điểm và lập luận Về xuất phát điểm, đoạn văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống xuất phát từ sự thực đời sống mà nêu ra tư tưởng, bày tỏ thái độ Đoạn văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí, trái lại, xuất phát điểm từ tư tưởng đạo lí, sau khi giải thích, phân tích thì vận dụng các sự thật trong đời sống để chứng minh nhằm trở lại khẳng định (hay phủ định) một tư tưởng nào đó Đây là nghị luận nghiêng về tư tưởng, khái niệm, lí lẽ nhiều hơn Các phép lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, tổng hợp thường được sử dụng nhiều hơn
- Hiện nay, xu hướng ra đề thi viết đoạn văn nghị luận xã hội thường hướng
về vấn đề về tư tưởng đạo lí được rút ra từ ngữ liệu đọc hiểu Vậy nên giáo viên cần cho học sinh nắm vững các bước triển khai các đoạn văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí Cụ thể:
+Bước 1: Dẫn dắt, giới thiệu về vấn đề nghị luận:
Học sinh có thể dẫn dắt trực tiếp, những có thể chọn lối dẫn gián tiếp để tạo sự lôi cuốn hấp dẫn Giáo viên có thể cho Hs tham khảo vài mẫu mở bài lôi cuốn hấp dẫn:
Mở bài về lối sống thẳng mình:
Rousia May Allcot đã từng nói: “Đừng quan trọng người khác nói gì, quan trọng
là bạn sống thẳng” Vâng! Trong cuộc sống hôm nay và cả mai sau, việc sống
thẳng mình của con người là rất quan trọng và ý nghĩa Vậy sống thẳng mình là gì?
Mở bài về tinh thần lạc quan:
Ronsard có câu nói:
“Hãy sống đi, hãy hái từ bây giờ Bông hồng thắm của cuộc đời đáng sống”
Cuộc sống luôn vận động, niềm vui qua đi, thử thách sẽ tới, chúng ta bắt buộc phải chạy theo những thay đổi ấy nhưng sẽ có một điều không thay đổi đó là hãy hái và giữ vững bông hồng thắm cho đời, hãy giữ vững lấy sự lạc quan để sống vui vẻ, tin yêu hết mình với cuộc đời
Trang 5Từ đó, giáo viên khuyến khích học sinh đọc thêm các tài liệu, biết nhiều các ý kiến, nhận định để có thể linh hoạt vận dụng vào việc dẫn dắt vấn đề ở các đề bài mới mẻ, vừa tiết kiệm thời gian, vừa hấp dẫn và hiệu quả
+Bước 2: Giải thích vấn đề
Là việc các em phải làm rõ vấn đề, trả lời cho câu hỏi: “Nó là cái gì, nó như thế nào”? Các em cần tích lũy kiến thức và vốn sống để có thể giải thích vấn đề thấu
đáo hơn
+ Bước 3: Nêu rõ tác dụng (hoặc tác hại) của vấn đề nghị luận
Nếu vấn đề nghị luận là tích cực: Học sinh chỉ rõ các tác dụng (nếu vấn đề nghị luận là tích cực) của vấn đề đối với đời sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng – Vấn đề này cần được lan tỏa, nhân rộng – Sử dụng dẫn chứng phù hợp để làm sáng
tỏ vấn đề- Lật ngược vấn đề - Rút ra bài học về nhận thức và hành động
Nếu vấn đề nghị luận là tiêu cực: Nêu rõ tác hại của vấn đề đối với đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng – vấn đề cần phải lên án, phê phán Sau đó rút ra bài học về nhận thức và hành động
2.4 Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng dẫn chứng hiệu quả, chính xác:
Các vấn đề nghị luận xã hội rất phong phú, đa dạng nên việc vận dụng dẫn chứng cũng rất cần sự chính xác và linh hoạt Khi đưa dẫn chứng, học sinh tóm tắt
về dẫn chứng để làm minh chứng rõ cho vấn đề nghị luận Giáo viên đưa ra một số chủ đề tiêu biểu với các dẫn chứng phù hợp, hướng dẫn học sinh tự sưu tầm thêm các dẫn chứng mới cho các chủ đề mới để khi viết các em chủ động hơn
Ví dụ: * Nghị lực sống
- Walt Disney là con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo, cha nghiện
rượu, bài bạc 6 tuổi đã phải ra đồng làm việc Mê vẽ nhưng vì không có tiền nên ông dùng than vẽ lên giấy vệ sinh Sau này cái tên Walt Disney đã trở nên nổi tiếng thế giới với bộ phim hoạt hình đỉnh cao
W Disney đã từng nói về 4 điều làm nên cuộc đời mình:
Tin tưởng: Tin vào bản thân mình
Suy nghĩ: Suy nghĩ về những giá trị mà mình muốn có
Mơ ước: Mơ về những điều có thể đến dựa trên niềm tin vào bản thân và
những giá trị của chính mình
Can đảm: Can đảm để biến ước mơ thành hiện thực, dựa trên những niềm
tin vào bản thân và những giá trị của chính mình
- Nick là diễn giả nổi tiếng sinh ra thiếu hai tay, hai chân, nhưng anh đã vượt qua trở ngại bệnh tật, tốt nghiệp đại học tài chính năm 21 tuổi, trở thành nhà diễn
Trang 6thuyết nổi tiếng và truyền cảm hứng tới 3 triệu người trên thế giới Anh nổi tiếng
với phương châm “Cuộc sống không giới hạn”.
- Stephen William Hawking là nhà vật lý người Anh, là “Ông hoàng” vật lý
lý thuyết của thế giới Hawking mắc bệnh thần kinh có tên Lou Gehrig, khiến ông gần như mất hết khả năng cử động Sau đó, ông phẫu thuật cắt khí quản và không thể nói chuyện bình thường Ông luôn gắn chặt với chiếc xe lăn, chỉ có thể nói được qua một thiết bị tổng hợp tiếng gắn với một máy tính mà ông gõ chữ vào đó Hawking hiện là Giáo sư Lucasian, chức danh dành cho Giáo sư Toán học của Đại học Cambridge Từng đảm nhiệm vị trí này là những nhà khoa học xuất chúng như
Isaac Newton và Paul Dirac Ông có những bài học sâu sắc cho giới trẻ: "Một là, hãy nhớ nhìn lên các vì sao và đừng nhìn xuống chân của mình Hai là, không bao giờ từ bỏ làm việc Làm việc sẽ giúp con cảm thấy có ý nghĩa và mục đích Cuộc sống sẽ trở nên trống rỗng nếu không có công việc Ba là, nếu con đủ may mắn để tìm thấy tình yêu, hãy nhớ rằng mình có nó và đừng để nó vuột mất khỏi tầm tay".
- Helen Keller (27/6/1880 – 1/6/1968) là một nhà văn, nhà hoạt động xã hội
mù, điếc người Mỹ Bà là người mù điếc đầu tiên trên thế giới tốt nghiệp một trường cao đẳng Tuy sống trong thế giới không ánh sáng, không âm thanh nhưng Keller vẫn là một phụ nữ tràn đầy tinh thần lạc quan, thiết tha yêu cuộc sống Trong Thế chiến thứ I và thứ II, bà đến hơn 70 bệnh viện để an ủi bệnh nhân, động viên họ Bà dành trọn cuộc đời cho Hội người mù Mỹ Bài học mà Keller rút ra:
“Lạc quan là niềm tin dẫn tới thành tựu Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu
đi hy vọng và sự tự tin”.
*Sự dũng cảm
- Malala Yousafzai, được biết đến với hoạt động nữ quyền của mình, đặc biệt tại thung lũng Swat, nơi Taliban đã từng cấm nữ giới đi học Bất chấp sự uy hiếp của tổ chức khủng bố, Malala vẫn mạnh mẽ đấu tranh đòi quyền đi học cho các em gái nơi cô sinh sống Malala trở thành người trẻ tuổi nhất nhận giải Nobel Hòa
Bình Bài phát biểu của cô tại lễ trao giải rất ấn tượng: “Bất kể con người ta mang màu da gì, nói tiếng gì và theo tôn giáo gì, chúng ta nên coi nhau là những con người và tôn trọng lẫn nhau, đấu tranh vì quyền của chúng ta, vì quyền của trẻ em, quyền của phụ nữ và quyền của tất cả mọi người.”
- Nguyễn Văn Nam (học sinh lớp 12T7, Trường THPT Đô Lương 1, Nghệ An) Khi đi ngang qua sông Lam thấy nhóm học sinh chới với giữa dòng nước, nam sinh không hề đắn đo mà nhanh chóng lao xuống cứu người Sau khi đã cứu được 4 em học sinh vào bờ, Nam thấy vẫn còn một em đang dần bị ngạt nước, cậu
Trang 7bạn đã dùng hết sức lực giúp em nhỏ được vào bờ Nhưng tiếc thay, chàng trai trẻ
đã bị kiệt sức rồi dần bị nước cuốn trôi
- Bạn có sợ những tia sét khi trơi giông bão Chắc hẳn nhiều bạn sẽ bảo rằng không vì ông trời hơi đâu mà để ý tới mình nhỉ Thế nhưng trước đây khi chưa hề
có cột thu lôi được phát minh thì rất nhiều người đã trở thành nạn nhân của các tia sét Và Franklin – nhà bác học Mĩ đã dũng cảm thực hiện thí nghiệm làm cột thu lôi Công việc đó có thể gây ra cái chết cho ông bất kì lúc nào Sau nhiều năm đương đầu với sấm sét, năm 1752 Franklin đã thành công
- Anh hùng La Văn Cầu: Khao khát được giải phóng đất nước, La Văn Cầu mới 16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để vào bộ đội Anh tham gia chiến đấu 29 trận trong các cương vị chiến sĩ và chỉ huy Tấm gương La Văn Cầu cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công và trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn, một hình thức chiến thuật mới quân đội ta mở ra từ chiến dịch Biên giới 1950
* Tha thứ và chuộc lỗi
- Thay vì trừng phạt những kẻ bại trận (Liên minh miền Nam ủng hộ chế độ
nô lệ), trong buổi lễ sau khi cuộc nội chiến Mỹ kết thúc, Abraham Lincoln đã phát
biểu: “Chúng tôi không ác tâm với bất kỳ ai, hãy để chúng tôi nỗ lực làm trọn công việc của mình để hàn gắn đất nước.”
- John Wast, cựu binh Mỹ, sau cuộc chiến đã mang trả lại kỉ vật cho gia đình liệt sĩ Bùi Đức Hưng, người lính Bắc Việt đối đầu với ông năm xưa Khi đó, cánh chim bồ câu được khắc khéo léo ở mặt trong chiếc mũ lỗ chỗ vết đạn ấy làm ông giật mình, nhận ra tình yêu hòa bình lớn lao trong lòng người lính bên kia chiến tuyến Suốt 46 năm qua, cựu binh Mỹ đặt kỷ vật chiến trường ấy trên kệ sách và coi như lời nhắc về giá trị của hòa bình, cho đến khi trao trả lại cho gia đình liệt sĩ Hưng, như một lời tạ tội
- Alfred Nobel, nhà khoa học lỗi lạc, người chế ra thuốc nổ, về cuối đời đã rất ân hận vì phát minh của mình được sử dụng trong chiến tranh, mang lại nhiều đau thương, mất mát cho nhân loại Do đó, trong di chúc của mình, Nobel đã dành toàn bộ tài sản của mình thành lập giải Nobel để tôn vinh những đóng góp khoa học cho nhân loại, như một cách chuộc lại lỗi lầm của mình
* Lưu ý:
- Đây là phần dễ lấy điểm nhưng dung lượng hạn chế khoảng 200 chữ, vì vậy cần viết ngắn gọn, súc tích trong thời gian khoảng 20 - 25 phút, luận điểm luận cứ thật
rõ ràng
Trang 8- Khuyến khích các em sáng tạo trong cách viết, trong việc bày tỏ quan điểm cá nhân nhưng cần nhớ là phải đảm bảo chuẩn mực về đạo đức, pháp luật
- Dẫn chứng đưa ra trong bài nghị luận xã hội phải là dẫn chứng lấy từ thực tế xã hội chứ không lấy từ các sáng tác văn chương
Ví dụ 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của niềm đam mê trong cuộc sống.
Gv hướng dẫn Hs tiến hành các bước theo trình tự như sau:
- Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của niềm đam mê trong cuộc sống
- Thân đoạn:
+ Giải thích: Niềm đam mê là sở thích ở mức độ cao và khát khao đạt được mục đích mà mình theo đuổi Những niềm đam mê tích cực luôn cần thiết cho tất cả chúng ta
+ Phân tích: Đam mê biểu hiện ở việc dồn hết tâm huyết và tình cảm cho một sở thích, luôn suy nghĩ để tìm cách thực hiện mong muốn và khát khao đạt được sở nguyện như: Đam mê thể thao, đam mê sáng tạo, đam mê nghệ thuật, đam
mê một môn học Đó là những đam mê tích cực
Tác dụng: Có đam mê thì con người sẽ có sức mạnh để vượt qua mọi trở ngại, thực hiện mục đích trong cuộc sống Vì thế, mỗi người cần theo đuổi những đam mê riêng của mình bằng tất cả sự nỗ lực
+ Mở rộng bàn bạc (Lật ngược vấn đề): Nếu không có đam mê, con người sống nhạt nhòa, không có lí tưởng, mất đi nỗ lực để chinh phục đỉnh cao
Chúng ta cần ca ngợi, tôn vinh những người theo đuổi đam mê và đem đam
mê của mình phục vụ cộng đồng; Phê phán những kẻ yếu hèn đã sớm từ giã đam
mê khi gặp trở ngại
+ Bài học nhận thức và hành động, liên hệ bản thân: Cần phải nuôi dưỡng đam mê lành mạnh và theo đuổi đam mê đến cùng để cống hiến cho cuộc đời
- Kết đoạn: Kết thúc vấn đề
Ví dụ 2:
“Tất cả chúng ta ai cũng mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp, và chúng ta biết phải làm gì để đạt được điều đó Nhưng trước khi bắt tay vào việc, ta lại quyết định rằng mình cần có một kì nghỉ nho nhỏ ở vùng đất nho nhỏ mang tên: Một – Ngày – Nào = Đó” Chúng ta nói rằng: Một ngày nào đó, mình sẽ đọc quyển sách này Một ngày nào đó, mình sẽ bắt đầu chương trình luyện tập kia Một ngày nào
đó, mình sẽ nâng cao kĩ năng kiếm tiền nhiều hơn Một ngày nào đó, mình sẽ thực
Trang 9hiện hết những việc cần làm để đạt được mục tiêu Một ngày nào đó, mình sẽ thực hiện hết những việc cần làm để đạt mục tiêu Một ngày nào đó Có khoảng 80% dân số dành phần lớn thời gian sống trên hòn đảo “Một – Ngày- Nào - Đó” Họ nghĩ ngợi, mơ mộng và tưởng tượng những thứ họ sẽ thực hiện vào “một ngày nào đó” Họ đều mắc phải căn bệnh “viện cớ”, thứ âm thầm giết chết thành công Tất
cả họ đều có dự định tốt đẹp, nhưng nói thì phải làm, nếu không chỉ là lời nói gió bay mà thôi.
Nguyên tắc thành công đầu tiên rất đơn giản: Hãy cuốn gói khỏi đảo Một – Ngày – Nào – Đó! Ngừng viện cớ! Làm hoặc không làm – Chứ đừng viện cớ Đừng nghĩ ra lí lẽ hay lời biện minh vòng vo cho việc mình không chịu hành động Hãy bắt tay vào thực hiện Làm bất cứ việc gì Hãy hành động! Lặp đi lặp lại điều này: Nếu điều đó xảy ra, thì tôi phải là người làm cho nó xảy ra!
Nếu người ta dốc sức để chinh phục mục tiêu cũng như khi người ta biện hộ cho sự thất bại, thì họ sẽ bất ngờ về chính mình Nhưng trước hết, bạn phải thoát khỏi đảo Một – Ngày – Nào – Đó đã”.
(Trích “Ngừng viện cớ”, Brian Tracy, TGM Book dịch”, NXB Phụ nữ, tr.2)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh (chị) hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sự trì hoãn trong cuộc sống của con người.
Gv hướng dẫn Hs tiến hành các bước theo trình tự như sau:
- Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Sự trì hoãn trong cuộc sống của con người
- Thân đoạn:
+ Giải thích về sự trì hoãn:Trì hoãn trong công việc là chần chừ, lề mề, rề rà, chưa muốn bắt tay vào ngay một công việc nào đó hoặc có tâm lí chờ và để một thời gian mới làm và giải quyết
+ Phân tích: Khi trì hoãn thì công việc lùi lại, không có động lực giải quyết công việc nhanh, ỉ lại, lười biếng, ngại việc Công việc dồn lại nhiều, không trôi chảy, hiệu quả công việc không cao
-> Tác hại của vấn đề: Giẫm chân tại chỗ, không nỗ lực bắt tay vào hành động,
do đó không đạt được điều mìnnh muốn; Bị tụt hậu, thái độ sống tiêu cực
+ Mở rộng bàn bạc: Giá trị trong mắt người khác bị hạ thấp, đánh mất niềm tin và gây sứt mẻ, đổ vỡ mối quan hệ
Trở nên hèn nhát, ích kỉ bởi thay vì nhận trách nhiệm thì lại tìm cách đổ lỗi cho người khác, đổ lỗi cho hoàn cảnh
Trang 10+ Bài học về nhận thức và hành động:
Tuổi trẻ cần học tập, tu dưỡng, rèn luyện kĩ năng, tiếp thu lĩnh hội kiến thức mới mẻ để không trì hoãn công việc khi gặp khó khăn
Nỗ lực học hỏi, sáng tạo, giải quyết công việc nhanh, không để tồn đọng công việc gây ảnh hưởng đến người khác
3) Hiệu quả của biện pháp đối với yêu cầu nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, phù hợp với đối tượng học sinh và thực tiễn nhà trường, địa phương:
Qua các kì thi tôi nhận thấy chất lượng bài làm của học sinh tăng lên rõ rệt Trước khi áp dụng biện pháp, bài nghị luận xã hội của học sinh thường đạt từ 1-1,5 điểm, nay tăng lên 1,5 đến 1,75 thậm chí có bài đạt điểm tối đa Luận điểm , luận
cứ bài làm rành mạch, lập luận chặt chẽ; dẫn chứng chuẩn xác, mang tính xã hội và tính thời sự cao Tốc độ viết đoạn văn nghị luận xã hội của các em nhanh hơn, hiệu quả hơn, đảm bảo thời gian để các em hoàn thành các phần thi còn lại
4 Các kết quả minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp dụng biện pháp:
Năm học
2019 – 2020
Lớp H/s chưa biết
cách làm tốt bài NLXH
H/s làm tốt NLXH
Năm học
2021 – 2022
Lớp H/s chưa biết cách
làm tốt bài NLXH
H/s làm tốt NLXH
Năm học
2021 – 2022
Lớp H/s chưa biết cách
làm tốt bài NLXH
H/s làm tốt NLXH