1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng trong kiểm tra thường xuyên môn ngữ văn 12 ở trường THPT triệu sơn 4

28 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN 2022) Xây Dựng Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Trong Kiểm Tra Thường Xuyên Môn Ngữ Văn 12 Ở Trường THPT Triệu Sơn 4
Tác giả Nguyễn Thị Dịu
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Triệu Sơn 4
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN TRONG MÔN NGỮ VĂN HIỆN NAY Với đặc thù là một môn học dạy về cái hay cái đẹp, dạy cách làm người,dạy văn hóa, kỹ năng, môn Ngữ Văn đặt ra nhiều vấn đề v

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN MÔN NGỮ VĂN 12

Ở TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4

Người thực hiện: Nguyễn Thị Dịu

Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2022

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

1.5 ĐIỂM MỚI CỦA SKKN 2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2

2.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA MÔN NGỮ VĂN BẬC THPT 2

2.2 THỰC TRẠNG KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN TRONG MÔN NGỮ VĂN HIỆN NAY 3

2.3 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 3

2.3.1 Khảo sát 3

2.3.2 Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng kiểm tra thường xuyên Ngữ Văn 12 qua các dạng bài tập nửa mở và bài tập mở 4

2.3.2.1 Những vấn đề chung về bài tập mở; bài tập nửa mở 4

2.3.2.2 Xây dựng một số dạng bài tập nửa mở và bài tập mở trong kiểm tra thường xuyên Ngữ văn 12 5

2.3.3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN 16

2.3.3.1 Nội dung thực nghiệm 16

2.3.3.2 Kết quả thực nghiệm, đánh giá 16

2.3.4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN 19

2.3.5 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 19

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19

3.1 KẾT LUẬN 19

3.2 KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 4

1 MỞ ĐẦU

1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Namkhóa XI ngày 04/11/2013 đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế Quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục của Nghị quyết 29 là

“Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triểntoàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lí luận gắn vớithực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[1] Tư tưởng này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục trên thếgiới hiện nay

Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 26/12/2018, đã kí Thông tư số32/2018/-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thông với yêu cầu thựchiện chương trình để người học đạt được các yêu cầu về phẩm chất chủ yếu vànăng lực cốt lõi [2] Theo đó, chương trình dạy học mới cần đảm bảo nội dunggiáo dục và áp dụng các phương pháp đánh giá kết quả phù hợp với mục tiêugiáo dục

Ngày 26/8/2020 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 26/2020/TT-BGDDT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếploại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèmtheo thông tư số 58/2021/TT-BGDDT ngày 12/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo, một số điều chỉnh trong kiểm tra, đánh giá cấp trung học [3]

Từ những yêu cầu đổi mới của giáo dục, mỗi giáo viên khi thực hiện nhiệm

vụ luôn trăn trở để tìm ra những cách thức và phương pháp dạy học phù hợp,nhất là việc kiểm tra đánh giá thường xuyên đối với học sinh

Giáo sư Hoàng Như Mai đã từng đưa ra ý kiến khi bàn về cách ra đề kiểm

tra “Ra đề thi phải khơi dậy được những suy nghĩ riêng đồng thời phải rèn cho

học sinh óc phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt Cần tránh kiểu ra đề “suôn sẻ”, dạng “thỏa hiệp” một chiều” Trong công tác giảng dạy, việc kiểm tra,

đánh giá học sinh là một khâu quan trọng trong tiến trình dạy học Đặc biệt, đốivới yêu cầu đổi mới giáo dục, việc kiểm tra đánh giá càng có ý nghĩa hơn bởi đó

là việc làm gắn với sự phát triển năng lực và tư duy của học sinh (HS) Nếutrước đây việc đánh giá HS thường gắn với việc đánh giá mức độ kiến thức, kĩnăng và thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học thìnay trong chương trình đổi mới yêu cầu đánh giá HS gắn với đánh giá năng lựcvận dụng kiến thức và đánh giá trong mọi thời điểm của quá trình dạy học Vìthế, việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên theo hướng phát triển năng lực HS đòihỏi giáo viên (GV) phải tư duy đa chiều từ nền tảng sách giáo khoa, tài liệuhướng dẫn để ra đề kiểm tra mở Tuy nhiên, thực tế việc kiểm tra đánh giáthường xuyên HS ở môn học Ngữ văn của nhiều GV vẫn còn lúng túng và đitheo hướng cũ Vậy làm thế nào để có những bài tập kiểm tra thường xuyên chấtlượng, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực của HS khi tiếp cận tác phẩm văn học

Trang 5

 Xuất phát từ những lí do nêu trên vì thế, tôi đã chọn vấn đề: “Xây dựng

giải pháp nâng cao chất lượng trong kiểm tra thường xuyên môn Ngữ Văn 12

ở trường THPT Triệu Sơn 4” làm đề tài cho sáng kiến dạy học của mình.

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đề tài xây dựng nhằm mục đích nghiên cứu thực tiễn về sự hứng thú,tích cực của học sinh trong hoạt động thực hiện các bài tập theo hướng mở vàảnh hưởng của hoạt động thực hiện bài tập theo hướng mở đến toàn bộ quá trìnhtiếp nhận bài học

- Xây dựng một số dạng bài tập mở; bài tập nửa mở để phát huy tính tíchcực và năng lực nghiên cứu, khám phá, tư duy tổng hợp của HS, tạo tâm lý chủđộng và sáng tạo trong việc học bộ môn

- Thông qua những trải nghiệm thực tế rút ra được những bài học kinhnghiệm cho bản thân để đổi mới có hiệu quả hoạt động dạy học

- Chia sẻ với đồng nghiệp những giải pháp mà bản thân tôi đã thực hiệntrong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Các dạng bài tập theo hướng mở; bài tập theo hướng nửa mở trong

chương trình Ngữ Văn 12 phần Văn bản Văn học Việt Nam

- Đối tượng khảo sát thực nghiệm, đối chứng: Học sinh các lớp 12B2,12B3,12B6, 12B7 trường THPT Triệu Sơn 4 năm học 2021 – 2022 Giáo viêngiảng dạy bộ môn Ngữ Văn của trường THPT Triệu Sơn 4

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các sách về PPDH;

nghiên cứu các văn bản, quy định, hướng dẫn… về đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Dùng phiếu điều tra, khảo sát; So

- GV: + Tránh được lối mòn trong cách kiểm tra đánh giá;

+ Luôn có ý thức tự làm mới mình, làm chủ nội dung, phương pháp,cách thức tổ chức kiểm tra đánh giá giúp HS chủ động, tích cực, sáng tạo trongtiếp cận nội dung bài học

- HS: Chủ động, hào hứng tiếp nhận, tạo hứng thú học tập từ đó có ý thức giảiquyết vấn đề bằng nhiều hình thức khác nhau

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA MÔN NGỮ VĂN BẬC THPT.

Chúng ta đều biết rằng môn Ngữ văn là môn học vô cùng quan trọngtrong việc đào tạo con người, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn và nhân cách cho họcsinh Nhà văn Nga lỗi lạc M.Go – ro – ki đã từng viết : “Văn học là nhân học”.Giáo sư Hà Minh Đức từng khẳng định “Văn học không chỉ là một nguồn tri

Trang 6

thức mà còn là nguồn năng lượng tinh thần lớn lao, có ý nghĩa cổ vũ, tiếp sứccho con người trong cuộc sống” Điều này đã được thực tế chứng minh từ ngànnăm về trước.

Nhận thức về tầm quan trọng của văn học đối với việc hình thành và pháttriển nhân cách cho học sinh nên từ xưa đến nay môn Văn được đưa vào mônbắt buộc và cần có trong tất cả các kỳ thi cuối kỳ, thi Tốt nghiệp và đại học

Là môn chính trong tổ hợp xét tuyển đại học, môn Văn cũng là môn duynhất được chấm tự luận Vì thế, người viết cần phải có những kiến thức thật đầy đủ

và kĩ năng viết văn thật tốt Có như vậy, điểm thi của các em mới đạt kết quả cao

Trong quá trình giảng dạy, kiểm tra, chấm thi giữa kì, cuối kì, thi tốtnghiệp, tôi nhận thấy đa số các em HS đều chưa đáp ứng được các yêu cầu màBGD đưa ra vì thế điểm thi của rất đông HS chỉ đạt trung bình khá, trung bình,yếu, kém Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này

Hiểu được vai trò quan trọng của môn Văn trên con đường phát triển nhâncách và bước chân vào các trường đại học của HS như vậy nên trong quá trìnhgiảng dạy ở nhà trường, mỗi giáo viên dạy văn luôn xác định không chỉ trang bịnhững kiến thức phổ thông, cơ bản, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn họccho HS mà còn rèn luyện cho HS những kĩ năng thực hành các bài thi để đạt kếtquả cao

2.2 THỰC TRẠNG KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN TRONG MÔN NGỮ VĂN HIỆN NAY

Với đặc thù là một môn học dạy về cái hay cái đẹp, dạy cách làm người,dạy văn hóa, kỹ năng, môn Ngữ Văn đặt ra nhiều vấn đề về tiếp cận, phươngpháp giảng dạy và lựa chọn nội dung kiểm tra đánh giá nhằm phát triển các nănglực quan trọng của HS Là bộ môn thi quan trọng trong kì tốt nghiệp THPT mônNgữ Văn vẫn được HS quan tâm và có sự chú ý, đầu tư trong việc học Hơn nữa,

số tiết môn Ngữ Văn trong chương trình THPT nhiều (3 tiết/tuần) cũng tạo điềukiện thuận lợi cho GV trong việc xây dựng các phương pháp dạy học và kiểmtra, đánh giá

Đối với việc xây dựng nội dung kiểm tra thường xuyên, môn Ngữ Văncũng có nhiều thuận lợi bởi kiến thức môn Ngữ Văn rất đa dạng, phong phú, córất nhiều nội dung để giáo viên đưa vào kiểm tra Đặc biệt, hiện nay công nghệthông tin phát triển mạnh đã giúp các em học sinh có điều kiện phát triển cácnăng lực về thuyết trình và sử dụng các phần mềm để làm các bài tập theohướng đề mở

Tuy nhiên, qua khảo sát tôi nhận thấy một số HS mất gốc kiến thức môn

Ngữ Văn nên tỏ ra thờ ơ, lơ là Đa số HS còn lệ thuộc vào sách tham khảo trênthị trường mà chưa tự xây dựng cho bản thân cách tiếp cận môn học Một lí dokhác xuất phát từ phía giáo viên là việc GV khá lúng túng trong việc xây dựngcác dạng câu hỏi, các dạng bài tập trong kiểm tra thường xuyên theo hướng mở

để phát triển tư duy HS Đa số GV vẫn sử dụng câu hỏi, bài tập đóng trongkiểm tra đánh giá Điều này gây ra kết quả HS chán giờ học, kết quả kiểm trakhông đạt cao

2.3 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN GIẢI PHÁP

Trang 7

2.3.1 Khảo sát

Để xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng trong kiểm tra thường xuyêncho HS, tôi đã tiến hành khảo sát cách thức, phương pháp kiểm tra thường xuyên

của các GV trong tổ Văn ( Phụ lục 1) Qua khảo sát, tôi nhận thấy tất cả GVBM

đã thực hiện kiểm tra thường xuyên theo chủ đề, bài học và đa dạng dưới nhiềuhình thức: phát vấn, thuyết trình, bài viết Tuy nhiên các dạng bài tập mà GVBM

áp dụng kiểm tra thường xuyên chủ yếu đều theo dạng theo câu hỏi đóng/ bài tậpđóng Điều này gây ra sự nhàm chán và chưa đáp ứng được nhu cầu tìm tòi,khám phá, phát triển tư duy sâu của học sinh trong học tập bộ môn

Tôi cũng đã tiến hành khảo sát sự hứng thú, say mê, yêu thích môn học Ngữ

Văn của các em HS trước và sau khi áp dụng giải pháp kiểm tra thường xuyêntheo hướng bài tập nửa mở và bài tập mở( Phụ lục 2) mục đích là nắm bắt đượctình hình học tập và thái độ tiếp nhận dạng đề mở mang tính tư duy của HS Và

để đánh giá chính xác kết quả của việc áp dụng giải pháp tôi tiến hành kiểm trachất lượng trước và sau tác động của giải pháp ở các lớp thực nghiệm và đốichứng Đây là cơ sở để tôi phân loại HS trong quá trình giảng dạy nhằm giúp đỡnhững HS học chậm và nâng cao cho những HS khá giỏi tạo cho các em một thóiquen tư duy trước mọi vấn đề và tự tin bước vào kì thi tốt nghiệp THPT sắp tới

2.3.2 Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng kiểm tra thường xuyên Ngữ Văn 12 qua các dạng bài tập nửa mở và bài tập mở

2.3.2.1 Những vấn đề chung về bài tập mở; bài tập nửa mở

* Bài tập nửa mở là các bài tập mà phần thông tin đã được đưa ra nhưng

phần trả lời là do người làm tự trình bày, không có câu trả lời trước để lựa chọn.Bài tập này có câu trả lời xác định , GV biết câu trả lời còn HS thì chưa biết

* Bài tập mở là những bài tập không có lời giải cố định, HS được trả lời tự

do theo suy nghĩ cá nhân và cho phép các cách tiếp cận khác nhau Bài tập mởdành không gian cho sự tự quyết định của người học Tính độc lập và sáng tạođược đề cao và chú trọng trong bài tập này

Mục đích xây dựng bài tập mở trong kiểm tra thường xuyên là để rèn luyệnnăng lực sáng tạo của HS khi tiếp cận tác phẩm văn học GV trong quá trìnhgiảng dạy nên dùng dạng bài tập mở để phân hóa học sinh trong kiểm tra đánhgiá Câu hỏi mở thường rất hữu ích trong những cuộc thảo luận khám phá bài họcbởi nó có giá trị khuyến khích những câu trả lời, những ý kiến và giải pháp khácnhau Hơn thế, nó còn khuyến khích cả cách suy nghĩ sáng tạo của mọi người

Bài tâp mở hoặc câu hỏi mở sử dụng trong kiểm tra đánh giá thườngxuyên còn khuyến khích HS phát triển kĩ năng ngôn ngữ một cách tinh tế Mộttrong những kết quả mà câu hỏi mở mang lại là sự sáng tạo

Điểm kiểm tra đánh giá thường xuyên của HS được tổ chức đa dạng trongsuốt quá trình dạy học nên GV cần linh hoạt trong khâu xây dựng câu hỏi và bàitập Để đạt kết quả GV cần chú ý những vấn đề sau:

Thứ 1: GV cần lựa chọn ngôn từ khi xây dựng câu hỏi mở

Để đảm bảo thực sự có thể đưa ra câu hỏi mở, GV cần phải sử dụng được

từ ngữ mang tính gợi Câu hỏi mở khi cho HS khai thác những đặc sắc về nội

dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học GV nên bắt đầu bằng những từ sau: tại

Trang 8

sao, làm cách nào, cái gì, giải thích,

Thứ 2: GV sử dụng phương pháp “Đặt câu hỏi phễu”.

Phương pháp “Đặt câu hỏi phễu” là GV hãy bắt đầu bằng câu hỏi có nội

dung hẹp, sau đó chuyển dần sang nội dung rộng và mở hơn Phương pháp này

có tác dụng thu hút sự hứng thú của HS vào chủ đề cần khám phá và khiến HScảm thấy tự tin hơn

Thứ 3: Đối với dạng bài kiểm tra thường xuyên viết bài nghị luận

Viết bài văn nghị luận là một cách để HS thực hành các kĩ năng về thaotác lập luận và bày tỏ những hiểu biết, nhận thức, quan điểm cá nhân về vấn đềđặt ra Để phát huy năng lực của HS đồng thời rèn cho HS cách làm chủ kiếnthức, làm chủ ngôn ngữ, làm chủ quan điểm cá nhân GV cần chú ý và cân nhắckhi đặt vấn đề cần bàn luận Đối với dạng đề mở GV chỉ nêu vấn đề cần bànluận, không nêu mệnh lệnh gì về thao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh,hãy giải thích, hãy phân tích,

2.3.2.2 Xây dựng một số dạng bài tập nửa mở và bài tập mở trong kiểm tra thường xuyên Ngữ văn 12

Trong quá trình dạy học, tôi linh hoạt các hình thức kiểm tra đánh giáthường xuyên đối với nhiều kiểu bài Các bài kiểm tra thường xuyên có thể đượcthực hiện trong nhiều thời điểm và nhiều hình thức khác nhau

Các hình thức kiểm tra, đánh giá thường xuyên tôi đã vận dụng: 2.3.2.2.1 Dạng bài tập nửa mở

* Sử dụng dạng bài tập trả lời tự do

Hoạt động sử dụng trong bài học: Hoạt động khởi động

Dạng bài tập trả lời tự do này tôi sử dụng trong việc tổ chức các hoạt độngtrò chơi: giải ô chữ

Ví dụ minh họa:

Khi dạy văn bản “Tây Tiến” (Quang Dũng), tôi sử dụng bài tập này để tổchức trò chơi ô chữ như sau

Bước 1: GV chia lớp thành 4 đội chơi và phổ biến luật chơi: Có 7 ô chữ hàng

ngang, 1 ô chữ hàng dọc HS lựa chọn ô số bất kì, trả lời câu hỏi bằng hình thứcgiơ bảng hoặc hình thức nói miệng

Bước 2: Học sinh lựa chọn ô số và trả lời câu hỏi.

Bước 3: Khi bạn trả lời câu hỏi, số học sinh còn lại ngồi dưới lắng nghe, quan

sát để nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn (nếu cần)

Bước 4: Ứng với mỗi câu trả lời, giáo viên chốt đáp án; tặng quà hoặc cho điểm

học sinh ( tùy theo từng trường hợp)

Đáp án ô chữ

Trang 9

* Gợi ý về ô chữ hàng dọc: (có 7 chữ cái) Từ diễn tả Vẻ đẹp nổi bật của

hình tượng người lính Tây Tiến cũng như cảm hứng sáng tác của Quang Dũngtrong bài thơ

* Gợi ý về ô chữ hàng ngang:

– Ô chữ số 1 (có 6 chữ cái): Tên địa bàn in dấu những chặng đường hành

quân của binh đoàn Tây Tiến

– Ô chữ số 2: (có 5 chữ cái) Nét riêng của thiên nhiên nơi người lính Tây

Tiến hành quân, được thể hiện qua những câu thơ:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

– Ô chữ số 3: (có 6 chữ cái) Vẻ đẹp độc đáo của người lính Tây Tiến

được thể hiện qua những câu thơ: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ/ Đêm mơ Hà

Nội dáng kiều thơm

– Ô chữ số 4: (có 7 chữ cái) Những câu thơ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Thể hiện nét đẹp nào nữa của thiên nhiên nơi

đơn vị Tây Tiến hành quân qua

– Ô chữ số 5: (có 8 chữ cái) Địa danh xuất hiện trong câu thơ

……… hoa về trong đêm hơi

– Ô chữ số 6: (có 6 chữ cái): Hai câu thơ: Anh bạn dãi dầu không bước

nữa/ Rải rác biên cương mồ viễn xứ” Nói lên hiện thực gì?

– Ô chữ số 7: (7 chữ cái) Vẻ đẹp tinh thần của người lính thể hiện qua câu

thơ: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Ví dụ minh họa 2:

Khi dạy văn bản “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), giáo viên có thể linh hoạt tổchức trò chơi ô chữ

Bước 1: GV chia lớp thành 4 đội chơi và phổ biến luật chơi: Ô chữ có từ

khóa hàng dọc gồm 6 chữ cái Đây là một yếu tố không được nhắc đến nhiềutrong tác phẩm nhưng lại được bàn đến nhiều khi nói về ý nghĩa của truyện Có

8 câu hỏi tương ứng với 8 từ hàng ngang Trả lời được một câu hỏi hàng ngang

sẽ được 10 điểm Trả lời từ khóa khi câu hỏi hàng ngang được trả lời chưa quá 2câu sẽ được 30 điểm

Bước 2: Học sinh lựa chọn ô số và trả lời câu hỏi.

Bước 3: Khi bạn trả lời câu hỏi, số học sinh còn lại ngồi dưới lắng nghe,

quan sát để nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn (nếu cần)

Trang 10

Bước 4: Ứng với mỗi câu trả lời, giáo viên chốt đáp án; tặng quà hoặc cho

điểm học sinh ( tùy theo từng trường hợp)

Đáp án ô chữ

Câu hỏi:

Câu 1 Nỗi khổ của nhân vật Mị khi làm dâu được nhà văn Tô Hoài so sánh với con vật nào ?

Câu 2 Khi bị A Sử bắt cóc về nhà thống lí Mị mang thân phận gì ?

Câu 3 Hành động nào của Mị với A Phủ chứng tỏ lòng thương người và tinh thần phản kháng mạnh mẽ ở Mị?

Câu 4 Điều gì biểu hiện rõ nhất trong tính cách của Mị ?

Câu 5 Mị và A Phủ điển hình cho nỗi thống khổ và khát vọng tự do của người dân vùng nào trước cách mạng ?

Câu 6 Một trong những tác nhân quan trọng làm Mị thức tỉnh là gì ? Câu 7 Cảnh tượng nào góp phần tô đậm giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” ?

Câu 8 Đâu là miền đất hứa- giúp Mị và A Phủ tìm thấy cuộc sống tự do, hạnh phúc?

* Sử dụng dạng bài tập liên kết

Hoạt động sử dụng trong bài học: Hoạt động hình thành kiến thức

Dạng bài tập liên kết này tôi sử dụng trong việc tổ chức cho HS tìm liên kếtthông tin đã cho và rút ra ý nghĩa của sự xuất hiện các thông tin này trong văn bản

Ví dụ minh họa 1: Khi dạy bài Tây Tiến- Quang Dũng tôi xây dựng bài

HS tự do tìm và điền thông tin liên kết với các địa danh đưa ra, từ đó nhận

xét: Sự xuất hiện của các địa danh xa lạ dày đặc trong trang thơ đã đem đến cho

người đọc hình dung được không gian hoạt động rộng lớn của đoàn binh Tây Tiến Không gian rộng lớn ấy như in dấu ấn của những bước chân hành quân, in dấu kỉ niệm của những năm tháng “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” mà những chàng trai Hà Thành đã thề nguyện khi lên đường Không gian ấy cũng chứng minh cho sự kiên cường, bền bỉ trong ý chí và tinh thần người lính….

Ví dụ minh họa 2: Khi dạy bài Việt Bắc ở phần xây dựng cách thức cho

HS tìm hiểu Việt Bắc khúc hùng ca tôi cũng sử dụng dạng bài tập liên kết thông

tin này như sau:

Trang 11

Em hãy điền tên tỉnh của các địa danh sau và nêu ý nghĩa của sự xuất hiện các địa danh ấy trong văn bản:

Đèo De…… Núi Hồng…………; Nhị Hà……… ; sông Lô……….; phố Ràng…… ; Đồng Tháp…… ; An Khê…………; Cao- Lạng…………

HS tìm và điền thông tin liên kết với các địa danh đưa ra, từ đó nhận xét:

Sự xuất hiện của các địa danh thể hiện niềm vui sướng, hồ hởi của nhà thơ khi viết về chiến thắng vang dội của quân ta Chiến thắng dồn dập, liên tiếp, từ miền xuôi đến miền ngược đã khiến cho không khí cuộc kháng chiến trở nên thật hào hùng Chiến thắng ấy chẳng phải là sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của tinh thần quật khởi trước mọi kẻ thù xâm lược hay sao Đó là sự chiến thắng vang dội trước kẻ thù tàn bạo, chiến thắng cùng niềm tin sắt đá “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” …

* Sử dụng dạng bài tập điền khuyết

Dạng bài tập này HS cần tìm thông tin để điền vào chỗ trống

Ví dụ minh họa: Khi dạy bài Việt Bắc (phần I Tác giả), tôi xây dựng dạng bài tập điền khuyết này qua trò chơi Ai nhanh hơn

Các bước thực hiện như sau:

Bước 1: GV phổ biến luật chơi: Hai đội cử người lên điền từ, cụm từ còn

thiếu vào có thể lần lượt thay nhau lên điền Mỗi đáp án đúng được 10 điểm

Bước 2: HS điền nhanh vào dấu …

Bước 3: Ứng với câu trả lời, giáo viên chốt đáp án; tặng quà hoặc cho

điểm học sinh ( tùy theo từng trường hợp)

Các câu hỏi được xây dựng như sau:

Câu 1 Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình (chính trị)

Câu 2 Niềm vui trong thơ Tố Hữu không nhỏ bé tầm thường mà là (niềmvui lớn)

Câu 3 Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính (dân tộc) rấtđậm đà

Câu 4 Tố Hữu đặc biệt thành công khi vận dụng thể thơ (truyền thống)

Câu 5 Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng đến cái (ta chung) với những lẽ

- What: Thể loại tác phẩm là gì? Đặc điểm phong cách sáng tác là gì?

- Who: Nhân vật văn học ở đây là ai? Có đặc điểm nổi bật gì?

- When: Nhân vật văn học xuất hiện trong thời gian nào? Hoàn cảnh ra đờitác phẩm

- Where: Nhân vật xuất hiện trong những hoàn cảnh nào?

- Why: Trong tình huống, hoàn cảnh đó, tại sao nhân vật lại có suy nghĩhành động như vậy?

- How: Cách thức xây dựng hình tượng nhân vật, thủ pháp nghệ thuật ngôn từ?

Trang 12

Ví dụ minh họa sản phẩm HS (Phụ Lục)

2.3.2.2.2 Dạng bài tập mở

* Dạng câu hỏi mở

Đối với dạng bài tập mở tôi sử dụng dạng câu hỏi mở có vấn đề, kích thích

tư duy và khả năng suy luận của học sinh ngay trong giờ dạy, thưởng điểm caocho những học sinh có phát hiện bất ngờ, thú vị

Ví dụ minh họa 1: Khi dạy đoạn trích Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), tôi

đặt câu hỏi mở: Từ việc tìm hiểu những câu thơ “ Em ơi em Đất Nước là máu

xương của mình/ Phải biết gắn bó và san sẻ/ Phải biết hóa thân cho dáng hình

xứ sở/ Làm nên Đất Nước muôn đời”, hãy nêu lên trách nhiệm của em đối với đất nước hôm nay?

Ví dụ minh họa 2: Khi dạy văn bản “Sóng” (Xuân Quỳnh), tôi đặt câu hỏi

mở như sau: Sau khi học bài thơ “Sóng”, trình bày suy nghĩ của em về một tìnhyêu hạnh phúc

Riêng với dạng câu hỏi này, tôi áp dụng trong hoạt động hình thành kiếnthức hoặc sau khi đã học xong văn bản Trong đề tài này, người viết có sử dụng

dạng câu hỏi này trong quá trình dạy nhiều văn bản (Phụ lục 2)

Trên đây là một số dạng câu hỏi kiểm tra mức độ chuẩn bị bài và khơi gợihứng thú cho học sinh Trong quá trình tổ chức dạy học, người dạy có thể linhhoạt để tạo ra hiệu quả tối ưu trong đánh giá năng lực học sinh

Học sinh suy nghĩ trả lời câu hỏi, giáo viên cho các bạn khác nhận xét, bổsung ý kiến; sau đó, giáo viên dự kiến câu trả lời, định hướng kiến thức

Những kiểu, dạng câu hỏi như trên sẽ kích thích khả năng suy luận cũngnhư tư duy của học sinh, làm cho học sinh muốn khám phá kiến thức Đồngthời, với những câu hỏi này,

Tiêu chí đánh giá: dựa vào khả năng tư duy, sự suy luận cũng như cảm

nhận của các em về vấn đề đặt ra; câu trả lời phải có sự mới mẻ, sâu sắc, thuyếtphục

Lưu ý: sau khi học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên cho các học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn ( Nếu phần nhận xét của học sinh xác đáng, sâu

sắc, có những phát hiện mới mẻ thì giáo viên sẽ thưởng điểm cho học sinh)

* Dạng bài tập mở dưới hình thức thuyết trình

- Đánh giá học sinh qua bài thuyết trình (có thể bằng sản phẩm thiết kế

PowerPoint)

- Cách thức đánh giá: Giáo viên giao nhiệm vụ, tùy theo hình thức hoạtđộng (cá nhân hay nhóm), thời gian hoạt động (ở nhà hay trên lớp), học sinhhoàn thành sản phẩm và tiến hành báo cáo sản phẩm Học sinh báo cáo sảnphẩm xong, giáo viên cho các nhóm nhận xét, đánh giá lẫn nhau (dựa vào cáctiêu chí cụ thể)

Ví dụ minh họa 1: học về Tây Tiến-Quang Dũng, tôi cho HS chọn vấn đề

để chuẩn bị thuyết trình HS tìm hiểu và chuẩn bị ở nhà để thuyết trình tại lớpVấn đề 1: Thiên nhiên trong Tây Tiến

Vấn đề 2: Tây Tiến- tượng đài chiến thắng, tượng đài vinh quang

Vấn đề 3: Tây Tiến trong mạch nguồn (hiện thực và lãng mạn) của thơ ca

Trang 13

kháng chiến chống Pháp

Vấn đề 4: Về cách dùng từ “ nhớ” trong bài thơ Tây Tiến

Ví dụ minh họa 2: Khi dạy bài “ Đất Nước”( Trích trường ca “Mặt đường

khát vọng”) Nguyễn Khoa Điềm tôi cho học sinh lựa chọn một số vấn đề mởnhư sau:

Vấn đề 1: Sự gắn bó chặt chẽ giữa “ Đất Nước” và “ Nhân dân”- qua cảmnhận của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn trích Đất Nước

Vấn đề 2: Quan niệm về lịch sử của đất nước trong đoạn trích Đất Nướccủa Nguyễn Khoa Điềm

Vấn đề 3: Thiên nhiên trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa ĐiềmVấn đề 4: Sự kết hợp giữa cảm xúc và suy tưởng trong đoạn trích Đất Nướccủa Nguyễn Khoa Điềm

Vấn đề 5: Sự kết hợp giữa chính luận và trữ tình trong đoạn trích Đất Nướccủa Nguyễn Khoa Điềm

Ví dụ minh họa 3: Khi dạy bài “ Người lái đò sông Đà”- Nguyễn Tuân

tôi xây dựng một số vấn đề mở như sau:

Vấn đề 1: Sông Đà và người lái đò sông Đà: hai nhân vật tương xứngkhông thể tách rời nhau

Vấn đề 2: Đá và nước trong Người lái đò sông Đà

Vấn đề 3: Âm thanh, hình khối “động” trong Người lái đò sông Đà

Vấn đề 4: Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân từ Chữ người tử tù đến

Người lái đò sông Đà

Tiêu chí đánh giá bài thuyết trình của HS dựa vào các gợi ý sau: Tiêu chí đánh giá Yêu cầu đánh giá Điểm (10)

Nội dung thuyết trình Đầy đủ, chính xác, phong phú, sinh động 4,0

Kỹ năng thuyết trình Rõ ràng, lưu loát, thuyết phục 2,0

* Dạng bài tập mở dưới hình thức viết - kiểm tra tự luận:

- Có 2 hình thức:

+ Giáo viên có thể tổ chức kiểm tra viết 5 phút, 7 phút hoặc 10 phút vào bất

kì thời điểm nào của tiết học

+ Giáo viên tổ chức kiểm tra viết 15 phút, 45 phút, 90 phút

- Nội dung: linh hoạt dựa theo các hoạt động của bài học, tiết học hay liên

hệ mở rộng vấn đề từ bài học

- Ví dụ minh họa hình thức kiểm tra viết 5 phút, 7 phút hoặc 15 phút

 Dạng 1: Kiểm tra dạng đề mở lấy ngữ liệu ngoài chương trình

Ví dụ minh họa 1: Sau khi dạy xong văn bản “Vợ chồng A Phủ” (Tô

Hoài), có thể đưa ra yêu cầu sau để kiểm tra khả năng hiểu bài và phát huy nănglực giải quyết vấn đề của học sinh:

EM GÁI H’MÔNG XUỐNG CHỢ

Nguyễn Thị Mai

Em mười lăm tuổi địu con Yêu chồng chẳng phải ai xui

Trang 14

Má hồng như trái đào giòn trên cây

Mẹ trẻ dại, con thơ ngây

Lội ra từ những vũng mây bản nghèo

Đưa chồng mười sáu đi theo

Tay không thủng thẳng, hồn treo đỉnh rừng

Len qua ngũ sắc tưng bừng

Mắt vương quán rượu là dừng bước chân

Chợ phiên tháng họp đôi lần

Cứ tờ lịch đỏ cuối tuần là đi

Có phiên chẳng bận mua gì

Chồng đi giữ vợ, vợ vì thích vui

Mái trường nội trú bỏ vùi tháng năm Đất nghèo ngỡ chẳng đủ ăn

Đành ngồi xếp đá mà ngăn bờ rào Buồn thì xuống chợ lao xao Giấu piềnh*, rượu hát nghêu ngao rừng chiều Buồn thì lại đẻ cho nhiều

Dắt con xuống chợ mà tiêu nỗi buồn Lưng mười lăm tuổi địu con

Giá em khoác cặp chân son tới trường.

Câu chuyện của Mị, cô gái trong văn bản trên gợi cho em suy nghĩ gì về tục “cướp vợ”; nạn tảo hôn của đồng bào vùng cao?

Ví dụ minh họa 2: Với bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, sau khi học xong

bài, để củng cố và mở rộng kiến thức; tôi cho học sinh câu hỏi: So sánh quan

niệm tình yêu của Xuân Quỳnh với quan niệm tình yêu của giới trẻ ngày nay ?

Dự kiến phần học sinh sẽ trả lời:

Quan niệm tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh:

- Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách

- Tình yêu gắn liền với sự chung thủy, tin tưởng ,vừa nồng nàn vừa say đắm

- Tình yêu gắn với khát vọng về một mái ấm gia đình hạnh phúc

- Trong tình yêu người phụ nữ không cam chịu, nhẫn nhục mà luôn chủđộng, khao khát kiếm tìm một tình yêu mãnh liệt, đồng cảm, bao dung

- Dám sống hết mình cho tình yêu, hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêurộng lớn của cuộc đời

Quan niệm tình yêu của giới trẻ ngày nay:

- Tuổi trẻ hôm nay vẫn phát huy được những vẻ đẹp của tình yêu như :

+ Sự thuỷ chung trong tình yêu

+ Niềm khát khao, tin tưởng vào một tình yêu đích thực

+ Chủ động vươn tới một tình yêu tốt đẹp

- Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ các bạn trẻ có quan niệm sai lầm trong tìnhyêu Họ sống thực dụng, không trân trọng những giá trị truyền thống đẹp đẽ củatình yêu Cần phải phê phán hiện tượng này

- Rút ra được bài học cho bản thân

Hoặc sử dụng câu hỏi sau: Chỉ ra những biểu hiện về quan niệm tình yêu

của con người trong xã hội ngày nay?

Dự kiến phần học sinh sẽ trả lời:

- Những biểu hiện về quan niệm tình yêu của con người trong xã hội ngày nay:+ Tình yêu chân chính

+ Tình yêu gắn với hôn nhân

+ Tình yêu thủy chung

+ Tình yêu vụ lợi

+ Tình yêu chớp nhoáng

+ Tình yêu thỏa mãn nhu cầu

Ngày đăng: 06/06/2022, 07:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trong quá trình dạy học, tôi linh hoạt các hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên đối với nhiều kiểu bài - (SKKN 2022) xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng trong kiểm tra thường xuyên môn ngữ văn 12 ở trường THPT triệu sơn 4
rong quá trình dạy học, tôi linh hoạt các hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên đối với nhiều kiểu bài (Trang 9)
- Bài kiểm tra số 1 (bằng hình thức viết tự luận 45p) thực hiện sau tác động 2 tháng. (Kì 1) - (SKKN 2022) xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng trong kiểm tra thường xuyên môn ngữ văn 12 ở trường THPT triệu sơn 4
i kiểm tra số 1 (bằng hình thức viết tự luận 45p) thực hiện sau tác động 2 tháng. (Kì 1) (Trang 21)
4 Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược   trong   dạy   học   văn   bản “Chiếc   thuyền   ngoài   xa”   của Nguyễn  Minh   Châu  –  Ngữ  văn 12. - (SKKN 2022) xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng trong kiểm tra thường xuyên môn ngữ văn 12 ở trường THPT triệu sơn 4
4 Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu – Ngữ văn 12 (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w