Phong cách nghệ thuật thể hiện trong những nét riêng, cái mới lạ trong tác phẩm, tức là những cái nhìn độc đáo đối với hiện thực cuộc sống thể hiện chiều sâu của sự cảm nhận và khám phá
Trang 1-**** -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ” CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN
TỪ GÓC NHÌN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
Người thực hiện: Nguyễn Văn Hào
Chức vụ: Tổ trưởng tổ Văn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 2TT NỘI DUNG TRANG
2.3.2 Nguyễn Tuân, bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ 6
2.3.3.1 Ngôn ngữ Nguyễn Tuân – sự giàu có vô biên 7 2.3.3.2 Ngôn ngữ Nguyễn Tuân – chính xác tạo hình, gợi cảm 9
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Nghệ thuật là lĩnh vực của những cái độc đáo, bởi vậy nó rất cần
những nét riêng của các nhà văn để làm nên sự độc đáo, đa dạng và phong phú Phong cách nghệ thuật thể hiện trong những nét riêng, cái mới lạ trong tác phẩm, tức là những cái nhìn độc đáo đối với hiện thực cuộc sống thể hiện chiều sâu của
sự cảm nhận và khám phá cuộc sống của nhà văn Từ đó, nhà văn sáng tạo nên
Trang 3phương tiện hình thức nghệ thuật như lời văn, câu văn, giọng điệu, ngôn từ
1.1.2 Phong cách là vậy nhưng không phải muốn là có thể có phong cách
cũng như tất cả những người sáng tác nghệ thuật đều có phong cách Phong cách đòi hỏi một quá trình rèn luyện bền bỉ, lâu dài và công phu cùng với sự sáng tạo
và tìm tòi không ngừng nghỉ Nó phải là sự phát hiện, đổi mới trên cái nền đã ổn định để nhìn vào hàng loạt các tác phẩm, người ta vẫn nhận ra đó là tác phẩm của
ai ở cái giọng điệu rất riêng nhưng lại không hề cảm thây sự lặp lại và nhàm chán trong từng tác phẩm riêng biệt Nói như thế cũng đủ thấy để có được phong cách
và lưu giữ được phong cách của bản thân người nghệ sĩ là một việc không hề đơn giản Phong cách, do vậy, xét đến cùng chính là bản lĩnh và tài nghệ xuất chúng của nhà văn
1.1.3 Đối với nhà văn, phong cách là vấn đề sinh tử Phải chăng vì thế mà
Hoàng Phủ Ngọc Tường trong kí “Người ham chơi” đã lấy lại đầy ẩn ý trong hình
tượng con chim bách thanh, loài chim có khả năng bắt chước như thật tiếng của muôn loài, nhưng đáng thương thay, một giọng hót cho riêng mình, nó không bao giờ có được Trót nợ với văn chương để dấn thân vào công việc “khổ hạnh” (chữ dùng của Nguyễn Tuân), điều quan trọng không phải anh viết được bao nhiêu trang văn, để lại được bao nhiêu chữ nghĩa Sự đánh dấu tên tuổi của một nhà văn thực thụ, ngoài những đóng góp về tư tưởng cũng như nghệ thuật, phải kể đến nét độc đáo, làm nên một cá tính văn chương, một gương mặt nghệ thuật Chừng nào còn phong cách, chừng ấy gió thời gian, mưa thời đại chưa thể và không thể xóa nhòa tên tuổi người nghệ sĩ
Trang 41.1.4 Cái nhìn mang tính khám phá về con người và đời sống được biểu
hiện bằng hệ thống các phương thức, phương tiện nghệ thuật đặc thù mang tính mới mẻ, tất cả lại được soi chiếu dưới góc độ thẩm mĩ và quan niệm nghệ thuật
của cá nhân người sáng tạo, làm nên một dạng vân chữ (ý thơ Lê Đạt) mà người
nghệ sĩ chân chính không thể không có Tổng hòa các phương diện của thi pháp học, bên cạnh việc lựa chọn và xử lí đề tài, xây dựng hình tượng, ngôn ngữ chính
là một trong những phương tiện đắc lực để truyền tải tư tưởng và tạo dựng phong cách
1.1.5 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, có nhiều nhà văn đã tạo cho
mình một phong cách riêng, độc đáo Trong giới hạn một sáng kiến kinh nghiệm,
người viết xin được đi vào một trường hợp cụ thể tiêu biểu cho quá trình tôn tạo
vốn ngôn ngữ dân tộc: Nguyễn Tuân – người thợ kim hoàn của chữ, nhà văn mà
mỗi khi ngôn ngữ “tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện riêng”
(Anh Đức)
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi hẹp, đề tài này đi sâu vào hướng tiếp cận đoạn trích “Người
lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân từ góc nhìn phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Xuất phát từ thực tế dạy văn bản văn học hiện nay, người dạy chỉ định hướng học sinh tiếp nhận theo phương pháp truyền thống: tìm hiểu tác giả, chủ đề tư tưởng của tác phẩm, phân tích nội dung, những biểu hiện nghệ thuật Điều đó dẫn đến cách dạy – học nặng tính công thức, đơn điệu, nhàm chán Giờ dạy - học nặng tính thao tác, thiếu chiều sâu cho những tìm tòi, trải nghiệm, rung cảm nghệ thuật Văn bản văn học nói chung, tùy bút nói riêng có tính mở, đa ngôn, đa nghĩa Người dạy có thể định hướng học sinh cách tiếp cận nhiều chiều, trong đó tiếp cận từ góc nhìn ngôn ngữ nghệ thuật sẽ giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc, đa chiều từ đó khơi dậy ở học sinh những rung cảm thẩm mĩ mãnh liệt
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên của của SKKN là cuộc đời, sáng tác của Nguyễn Tuân, phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn
Trang 5Đối tượng chính là đoạn trích “Người lái đò Sông Đà”: người viết liệt kê, so
sánh, phân tích, bình giá vẻ đẹp ngôn ngữ nghệ thuật, từ đó khẳng định phong cách ngôn ngữ độc đáo của Nguyễn Tuân, đóng góp to lớn của Nguyễn Tuân trong việc làm giàu ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
2 NỘI DUNG
` 2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
Khó có thể kể hết những công trình khoa học nghiên cứu, đánh giá về Nguyễn Tuân Có người đã cạn lời mà khi dừng bút hình như vẫn còn nghi ngại: Liệu đã nói được mấy phần về nhà văn tài hoa, uyên bác này Vương Trí Nhàn đánh giá Nguyễn Tuân và hệ thống tác phẩm trong việc đóng góp cho quá trình
hiện đại hóa nền văn học song song với công cuộc hiện đại hóa đất nước (Nguyễn
Tuân và quá trình hiện đại hoá xã hội) Tô Hoài và Vũ Bằng trong cuốn hồi kí
chủ yếu đi vào tư tưởng của nhà văn Trong khi đó, Tản Đà và Nguyễn Tuân (Hoàng Yến Lưu), Nguyễn Tuân – một phong cách độc đáo (Nguyễn Đăng Mạnh), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan – NXB Tân Dân, 1940) lại nhìn nhận
tác giả, tác phẩm trong mối quan hệ biện chứng với thời đại, giữa nội dung và hình thức biểu hiện
Những công trình nghiên cứu ấy nhìn Nguyễn Tuân và tác phẩm của ông ở góc độ vĩ mô, chưa quan tâm phân tích kĩ lưỡng vẻ đẹp ngôn ngữ trong một tác phẩm cụ thể - một biểu hiện phong cách nghệ thuật độc đáo cụ thể
Giảng dạy một tác giả - tác phẩm văn học có giá trị trong nhà trường THPT, bên cạnh cung cấp cho học sinh những vấn đề chung về phong cách nhà văn, giáo viên cần làm sáng tỏ những biểu hiện cụ thể về đặc sắc phong cách nghệ thuật
Trang 6trong tác phẩm Một trong những biểu hiện ấy là phong cách ngôn ngữ nghệ thuậtt, chất liệu để nhà văn nhào nặn thành hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm
Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân là tác phẩm hay và khó Vì văn
Nguyễn Tuân đạm chật tài hoa, uyên bác Khi dạy đoạn trích “Người lái đó Sông
Đà” giáo viên rất cần sự uyển chuyển, linh hoạt, xuất phát từ nhũng vấn đề hết sức
cụ thể để giúp học sinh lĩnh hội được giá trịn của đoạn trích, vẻ đẹp của hính
tượng nghệ thuật, ví như tiếp cận đoạn trích “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn
Nguyễn Tuân từ góc nhìn phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
2.2 Thực trạng của vấn đề
Thực tế giảng dạy tác phẩm của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ Văn
THPT (Chữ người tử tù – Ngữ văn 11; Người lái đò Sông Đà (Trích) – Ngữ văn
12), giáo viên thường quan tâm phân tích, bình giảng giá trị nội dung của tác phẩm mà chưa thực sự chú ý giúp học sinh hiểu rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn trong tác phẩm Nếu có chỉ giảng rất chung về phong cách nhà văn như chất
“ngông”, chất “tài hoa, uyên bác”, chất “nghệ sĩ”
Sáng kiến kinh nghiệm này do phạm vi nghiên cứu hẹp, người viết xin tổng hợp, đi sâu làm rõ một khía cạnh trong phong cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo của Nguyễn Tuân, đó là vẻ đẹp phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Tuân
qua đoạn trích Người lái đò Sông Đà (trích tùy bút Sông Đà)
2.3 Các giải pháp giải quyết vấn đề
2.3.1 Khái quát tác giả, tác phẩm
2.3.1.1 Từ truyền thống đến hiện đại
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) xuất thân trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn Là con trai của cụ Nguyễn An Lan (tức ông tú Hải Văn) – một nhà Nho bất đắc chí nhưng rất mực tài hoa Sinh thành và lớn lên trong bầu dưỡng khí những tinh hoa văn hóa cổ truyền, dễ hiểu vì sao Nguyễn Tuân nặng lòng với cái
đẹp của một thời vang bóng Đó là những thú vui thanh cao tao nhã: đánh thơ, thả
thơ, thưởng rượu, thưởng trà Đó là những lễ nghi tao nhã trang trọng Đó là những sinh hoạt mang cả cái đẹp của nếp cũ nền xưa Đó còn là một phần trong hương hỏa tổ tiên để lại: gia tài Tiếng Việt
Trang 7Làm sao có thể diễn tả cho hết vẻ đẹp ngôn ngữ như khi tả cái đẹp của sinh thú ông cha? Thì Nguyễn dùng chính cái tài hoa, công phu kĩ lưỡng trong khả năng ngôn ngữ của mình mà thể hiện Với Nguyễn Tuân, việc cần lao tích lũy, chế tạo và sáng tạo ngôn từ để làm nên những tờ hoa, trang hoa cũng chính là biểu hiện của tình yêu nước và tinh thần dân tộc vậy
2.3.1.2 Quá trình hình thành phong cách
Nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Tuân, thiết nghĩ không thể tách rời với việc đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn Sự nghiệp sáng tác kinh qua mấy cuộc chuyển mình của dân tộc, phong cách nhà văn vì thế luôn biến chuyển trong tính nhất quán cao độ Có lẽ Nguyễn sinh ra là để kiếm tìm cái đẹp Kiếm tìm và tôn thờ cái đẹp, ném một lời
thách thức ngạo nghễ với những kẻ ngồi xổm lên cái đẹp Chính tư tưởng ấy soi
chiếu làm nên phong cách nhà văn mà người viết có thể quy về những nét tiêu biểu sau:
- Cách tiếp cận đối tượng: Nhìn con người dưới góc độ tài hoa nghệ sĩ, nhìn nhận sự vật dưới góc độ văn hóa, thẩm mĩ
- Uyên bác trong việc phối trộn nhiều mảng màu tri thức trong một áng kí lạ
- Con người phóng túng tự tìm đến với thể văn phóng túng như một sự cởi giải Ông có sở trường tùy bút
- Nhà văn của những cảm giác, cảm xúc mãnh liệt, những phong cảnh tuyệt
mĩ, con người phi thường
- Ngôn ngữ tạo hình, gợi cảm, câu văn co duỗi nhịp nhàng, uyển chuyển, giàu nhạc điệu
Trong giới hạn của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, người viết chủ yếu đề cập đến Nguyễn Tuân như một bậc thầy về ngôn ngữ
2.3.1.3 Tùy bút Sông Đà – trang hoa mê đắm
Với thú vui “Xê dịch” của mình, sau nhiều lần đến với Tây Bắc, đặc biệt là
chuyến đi thực tế năm 1958, tình yêu và sự gắn bó đã chắp cánh cho ngòi bút
Nguyễn Tuân viết nên tập kí Sông Đà Với khát khao kiếm tìm chất vàng mười
Trang 8của thiên nhiên Tây Bắc và thứ vàng mười đã qua thử lửa của con người nơi đại
ngàn hoang sơ, hùng vĩ, Nguyễn Tuân đã viết nên bài ca cuộc sống của con người
và thiên nhiên nơi đây, thầm kín một lòng yêu với nước non đang từng ngày đổi mới này
Nhưng chưa hết Viết chỉ để mà viết, không phải Nguyễn Tuân Viết chỉ để
mà viết, tên tuổi Nguyễn Tuân cũng không thành một định nghĩa về người nghệ
sĩ Sinh thời, nhà văn từng ao ước khi chết đi sẽ mang theo nguyên cảo của mình
và không để lại bất cứ bản sao nào khác trên cuộc đời Có lẽ, một trong những
điều Nguyễn Tuân sợ mất đi nhất chính là dấu triện riêng (chữ dùng của Anh
Đức) mà ông đã đóng nó lên bằng cả đời văn mình
Con người ông, phong cách ông đẹp một cách độc đáo như chính câu văn ông (Lại Nguyên Ân) Chính Nguyễn Tuân cũng từng tha thiết: Chúng ta vẫn đắm đuối với nghề Iàm văn, ngày càng chuốt thêm văn tự, ngày càng làm óng tốt dẻo bền hơn lên nữa cái tiếng nói Việt cổ truyền của mình Tùy bút Sông Đà mà tiêu
biểu là đoạn kí Người lái đò Sông Đà là minh chứng cho phong cách ngôn ngữ
Nguyễn Tuân
2.3.2 Nguyễn Tuân, bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ
Với vốn hiểu biết phong phú nhiều lĩnh vực, với năng lực thẩm mỹ sắc sảo
và lối viết tài hoa, những bài viết của ông đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng độc giả Với Nguyễn Tuân, ngôn từ không chỉ là chất liệu mà còn là văn
chương và nhà văn đã có ý thức “lạ hóa” nó, để tạo dấu ấn độc đáo cho mình
đồng thời lôi cuốn người đọc
Gần 50 năm hoạt động văn học liên tục, Nguyễn Tuân đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển văn xuôi quốc ngữ Việt Nam hiện đại, với phong cách nghệ thuật độc đáo, trình độ sử dụng tiếng Việt điêu luyện Tùy bút là sở trường và chiếm số lượng lớn nhất trong văn nghiệp của ông cũng là phần in dấu đậm nét và phong phú hơn cả cái “tôi” độc đáo của nhà văn Tùy bút của ông thấm đượm văn hóa Đông Tây, không chỉ thấu hiểu triết lý mà còn thấm cả đạo lý,
dù hấp thụ sâu sắc chủ nghĩa tự do cá nhân vẫn thấy mình nặng nợ với đất nước, với làng xóm, thấy mình có gốc rễ từ lịch sử
Trang 9Xin dẫn ra đây những nhận định của các nhà nghiên cứu về phong cách nghệ thuật độc đáo và sự biến ảo trong ngôn từ của Nguyễn Tuân:
“Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn
Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức”.
(Vũ Ngọc Phan)
“Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì cười cợt bông phèng, khi thì thánh
thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi như ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa.”
(Nguyễn Đăng Mạnh)
“Trong cái vội vàng, cái cẩu thả của những tác phẩm xuất bản gần đây,
những tác phẩm đã hạ thấp văn chương xuống mức giá trị của một sự đua đòi, người ta lấy làm sung sướng khi thấy một nhà văn và yêu mến cái đẹp, coi công việc sáng tạo là công việc quý báu và thiêng liêng.”
(Thạch Lam)
“Đọc xong “Sông Đà” của Nguyễn Tuân, tôi cảm thấy khó lòng nói hết
được tình người, chất thơ và sự sống bao hàm trong bấy nhiêu trang giấy”
(Trương Chính)
“Đọc xong “Sông Đà” thấy trữ lượng cái đẹp – chất vàng mười của đất
nước và con người Việt Nam trong cuộc sống quả là nhiều vô kể”
(Phan Thị Nhài)
2.3.3 Cách sử dụng từ ngữ
2.3.3.1 Ngôn ngữ Nguyễn Tuân – sự giàu có vô biên
Bất kì một nhà văn vĩ đại nào, trước khi trở nên vĩ đại phải là một nhà văn chân chính Và bất kì một nhà văn chân chính nào cũng không có quyền thờ ơ,
ghẻ lạnh với ngôn ngữ dân tộc Hơn thế, anh phải là người đỡ đầu cho ngôn ngữ,
để chữ không chỉ là xác chữ Chữ phải cựa quậy Làm văn mà nghèo chữ, hoặc có chữ mà không biết dùng, có dùng nhưng bất hợp thời, khác nào tay ngắn thích với cao, kẻ khoa trương không biết tự lượng sức Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân được xem như một trong những kho từ vựng phong phú, người tiếp bước trên con đường viết và sáng tạo, làm giàu, làm đẹp, làm sang cho con chữ Sinh
Trang 10thời, nhà văn rất kị lối viết cứng đơ thấp khớp Cái tôi bản thể ưa phóng khoáng, ham cái mới lạ, độc đáo cùng cuộc đời cần lao tích lũy đã trở thành nguồn dưỡng chất cho đời cây văn chương, đời cây chữ nghĩa xanh tươi, cường tráng
Tranh tài với hóa công, đua sánh với Đà giang bạo liệt và ông lái phi thường, nhà văn của chúng ta không ngần ngại dốc hết bầu chữ nghĩa, dàn trận ngôn từ, để con chữ tuôn ra nơi đầu ngọn bút, chữ nọ gọi chữ kia, ào ạt cuộc tiến công chiếm đóng linh hồn tạo vật Chữ nọ gọi chữ kia, mà không lặp, mà không sáo mòn, nhàm tẻ, công đầu phải kể đến vị chỉ huy chữ nghĩa tài ba
Sự giàu có ở ngôn ngữ Nguyễn Tuân trước hết ở vốn từ vựng phong phú của các bộ môn nghệ thuật, thậm chí các ngành khoa học tưởng rất xa nghệ thuật
Đó là ngôn ngữ điện ảnh (thước phim màu, máy lia ngược contre –plongie của người quay phim kí sự); ngôn ngữ thơ ca (áng tóc trữ tình, Đường thi, cổ tích); ngôn ngữ hội họa (xanh ngọc bích, xanh canh hến, lừ lừ chín đỏ ); ngôn ngữ âm
nhạc (thở và kêu, ặc ặc, réo gần, réo to, gằn, rống, hồng hộc tế ); ngôn ngữ quân
sự (quy luật phục kích, binh pháp, boongke chìm, pháo đài đá nổi, thủy quân ải
nước, cửa trận ); ngôn ngữ thể thao (tiền vệ, trung vệ); ngôn ngữ võ thuật (đòn tỉa, đòn âm, hồi lùng, khuýp quật vu hồi ); thậm chí cả ngôn ngữ tả các trận thư
hùng thời cổ (thanh viện, thanh la, não bạt ).
Làm chủ một đội quân Việt ngữ hùng hậu thế, vị tướng Nguyễn Tuân mới
có khả năng tả đột hữu xung, linh hoạt, tài hoa, biến hóa Để ý mà xem, hầu như không bao giờ ông chịu dùng đi dùng lại một từ cho một đối tượng Miêu tả các
trùng vi thạch trận, khi ông gọi hàng tiền vệ, hàng trung vệ, hậu vệ, khi gọi vòng
đầu, vòng thứ nhất, vòng hai khi lại vòng vây thứ hai, trùng vây thứ ba … lúc tả ngạn, hữu ngạn, khi bờ bên phải, bờ bên trái,… khi cửa sinh, cửa tử, lúc luồng sống, luồng chết Cứ làm một phép thử, bỏ tất cả các từ thay thế, chỉ dùng một
cụm từ duy nhất để biểu đạt, sẽ thấy ngay hiệu quả bất ngờ Nhà văn của sông
nước Đà giang, một sự độc đáo đi tìm cái độc đáo, tuyệt nhiên không cho phép mình dễ dãi trong câu chữ, không cho mình cái quyền được hạn định, bó buộc, rập khuôn trong những chữ do chính mình tạo ra trước đó Không bứt mình ra khỏi chính mình, không phong phú trong dòng chảy ngôn ngữ chung, sao được mệnh