TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA C MÁC VÀ PH ĂNGGHEN VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI Loại hình viết Tạp chí Tóm tắt Tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen là hệ thống tri thức đồ sộ với nhiều nội dung và giá trị bền vững đối với nhân loại Việc nghiên cứu, khai thác nội dung, giá trị và hệ thống hóa tư tưởng của C Mác và Ph Ănghen phục vụ cho vận dụng vào phát triển lý luận cũng như chỉ đạo xây dựng CNXH là rất quan trọng; đó là một trong những cơ sở xây dựng CNXH một cách chính xác và khoa học Một.
Trang 1TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN
VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT - GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI
Loại hình viết: Tạp chí
Tóm tắt: Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen là hệ thống tri thức đồ sộ
với nhiều nội dung và giá trị bền vững đối với nhân loại Việc nghiên cứu, khai thác nội dung, giá trị và hệ thống hóa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ănghen phục
vụ cho vận dụng vào phát triển lý luận cũng như chỉ đạo xây dựng CNXH là rất quan trọng; đó là một trong những cơ sở xây dựng CNXH một cách chính xác
và khoa học Một trong những nội dung có vị trí quan trọng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đó là tư tưởng về QHSX Trong các quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, tư tưởng về QHSX tạo thành bước ngoặt cơ bản, quyết định đến hình thành thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Từ khóa: C.Mác, Ph.Ănghen, Quan hệ sản xuất
1 Tư tưởng cơ bản về quan hệ sản xuất của C.Mác và Ph.Ăngghen
Theo quan điểm của các nhà kinh điển có thể thấy QHSX là tổng hợp các quan hệ kinh tế vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất QHSX là hình thức xã hội của sản xuất, nó biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trên ba mặt cơ bản đó là: quan hệ giữa người với người đối với tư liệu sản xuất -quan hệ mặt sở hữu; -quan hệ giữa người với người trong tổ chức, phân công lao động xã hội - quan hệ mặt tổ chức; quan hệ giữa người với người đối với sản phẩm làm ra - quan hệ phân phối Chúng ta có thể khẳng định ba nội dung trên
là ba mặt cơ bản của QHSX, chúng có mối quan hệ hữu cơ và thống nhất có tác động qua lại với nhau Vai trò của từng yếu tố trong QHSX cũng khác nhau, trong đó, quan hệ sở hữu là yếu tố cơ bản, quyết định, nó chi phối đến các mặt
và các yếu tố của QHSX Tuy nhiên, trong sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cấu thành QHSX thì quan hệ về tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm cũng có vai trò rất quan trọng
Về quan hệ giữa người với người đối với tư liệu sản xuất.
Trang 2Sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người về việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội Điều này có nghĩa là khi nói về sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải; mà hết sức quan trọng là nói về quan hệ giữa người với người diễn ra sự chiếm hữu tư liệu sản xuất Trong các tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” và “Bộ tư bản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chia ra hai loại sở hữu: loại thứ nhất là sở hữu mang tính dân
sự như sở hữu nhà ở, sở hữu đồ dùng cá nhân và loại thứ hai là sở hữu tư liệu sản xuất Quan hệ sở hữu mà C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập, với tư cách là nội dung cơ bản mang tính quyết định trong ba nội dung của QHSX, chính là nói loại thứ hai tức là sở hữu về tư liệu sản xuất, trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định người vô sản không có sở hữu là nói về sở hữu tư liệu sản xuất
Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất nói lên rằng trong quá trình sản xuất, người lao động đang sử dụng những tư liệu sản xuất đó, là của ai và ai là người có quyền quyết định, định đoạt tư liệu sản xuất đó Cuộc cách mạng mà C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện trong triết học và kinh tế chính trị chính là nghiên cứu QHSX, làm sáng tỏ việc sở hữu trong mối quan hệ chặt chẽ với tính chất, trình độ của LLSX cũng như kiến trúc thượng tầng xã hội Bởi ở châu Âu, vào đầu thế kỷ XIX, những nhà kinh tế học cổ điển do nhiều nguyên nhân dường như họ không bàn đến vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất Gai cấp tư sản cho rằng quyền sở hữu được cho là quyền tự nhiên, ngay sau Cách mạng tư sản Pháp
1789, giai cấp tư sản khẳng định: sở hữu là quyền không thể xâm phạm và thiêng liêng của con người, con người sinh ra là đã có quyền sở hữu
Lần đầu tiên quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về sở hữu tư liệu sản xuất quyết định bởi trình độ phát triển LLSX được trình bày trong tác phẩm “Hệ
tư tưởng Đức” năm 1846 Nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng tuy QHSX chịu sự quyết định trực tiếp của LLSX, nhưng với tư cách là thành tố quan trọng nhất, quyết định bản chất QHSX, quyết định bản chất chế độ kinh tế, quan hệ sở hữu là tiêu chí để phân biệt các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau
Trang 3Trong QHSX, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định vì
nó quyết định bản chất của QHSX Cho nên người ta nói rằng, quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của QHSX Chính nó quyết định mục đích, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức quản
lý, chi phối việc phân phối sản phẩm làm ra, cũng tức là quyết định địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất của xã hội Trong xã hội có giai cấp thì giai cấp nào nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, giai cấp đó nắm quyền chi phối tổng sản phẩm xã hội, nắm quyền thống trị xã hội Nhìn lại quá trình phát triển của lịch sử, cùng với sự phát triển của LLSX của sự phân công lao động xã hội thì các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất cũng ngày càng trở nên đa dạng
Như vậy, có thể nói xoá bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu, theo C.Mác
là khẳng định sinh hoạt của con người Sự xoá bỏ đó diễn ra một cách có ý thức
và luôn giữ lại tất cả những gì là hợp lý, tiến bộ của sự phát triển trước đó Không những chỉ ra tính chất, nội dung, hình thức của sự xoá bỏ chế độ tư hữu một cách tích cực, C.Mác còn chỉ rõ những điều kiện cần thiết để xoá bỏ nó
Ông viết: “Muốn xoá bỏ tư tưởng về chế độ tư hữu, thì tư tưởng về chủ nghĩa
cộng sản là hoàn toàn đủ rồi Còn muốn xoá bỏ chế độ tư hữu trong hiện thực
thực tế thì phải có hành động cộng sản chủ nghĩa, hiện thực”1
Về quan hệ giữa người và người trong tổ chức, phân công lao động trong
xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen khi phân tích các quan hệ trong lĩnh vực quản lý, thực chất là giải thích bản chất xã hội của chúng Để làm rõ hơn quan điểm này, chúng ta có thể bắt đầu từ quan điểm của C.Mác về lao động nói chung, về hoạt động quản lý nói riêng Theo C.Mác, lao động của con người luôn có hai mặt: mặt vật chất - kỹ thuật và mặt xã hội với hai thuộc tính của lao động là lao động
cụ thể và lao động trừu tượng Phù hợp với sự phân công lao động xã hội, lao động được xem xét một mặt như sự phân công thành các dạng lao động cụ thể
1 C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 42, Nxb.CTQG, Hà Nội.2004, tr 194
Trang 4nhằm thoả mãn những nhu cầu khác nhau của xã hội; mặt khác, nó là lao động
xã hội khi sản phẩm do lao động riêng biệt đó tạo ra được xã hội thừa nhận Vì thế, nếu sản phẩm của lao động không được đem ra trao đổi và không trao đổi được thì nó chỉ là lao động riêng biệt của người đó, chứ không thể trở thành lao động xã hội Chỉ khi nào người lao động sản xuất ra sản phẩm không phải chỉ cho mình, mà còn cho cả xã hội thì lao động đó mới có tính hai mặt mà trên cơ
sở đó, hình thành nên cơ cấu giai cấp - xã hội của xã hội
Trên cơ sở phân tích về lao động, C.Mác đã chia hoạt động quản lý thành mặt tổ chức - kỹ thuật tức là hoạt động có tổ chức hướng đến sự phát triển của LLSX và nội dung xã hội của nó Chính C.Mác đã nói về tính chất hai mặt của quản lý như sau: “Công việc giám sát và điều khiển tất nhiên phải xuất hiện một khi mà quá trình sản xuất trực tiếp đã mang hình thái một quá trình kết hợp có tính chất xã hội… Nhưng nó có một tính chất hai mặt Một mặt, trong tất cả những công việc mà có nhiều người hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung và
sự thống nhất của quá trình tất phải biểu hiện ra ở trong một ý chí điều khiển và… với toàn bộ hoạt động của công xưởng, cũng giống như trường hợp nhạc trưởng của một dàn nhạc vậy… Mặt khác, công việc giám sát đó là cần thiết trong tất cả mọi phương thức sản xuất dựa trên sự đối lập giữa người lao động
về phương diện là người sản xuất trực tiếp, với người sở hữu tư liệu sản xuất Sự đối lập đó càng lớn, thì công việc giám sát đó lại càng đóng một vai trò quan trọng”2
Về quan hệ giữa người với người đối với sản phẩm làm ra.
Phân phối là phạm trù phản ánh quan hệ xã hội trong việc phân chia các nguồn lực, của cải xã hội Phân phối là một mặt cơ bản của QHSX, đồng thời là một khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội: sản xuất phân phối -trao đổi - tiêu dùng Các khâu này có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó sản xuất là khâu cơ bản đóng vai trò quyết định; các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất, nhưng chúng có quan hệ trở lại đối với sản xuất cũng như ảnh hưởng lẫn
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 25, PhI, Nxb.CTQG, Hà Nội.2002, tr 586-587
Trang 5nhau Chính vì có quá trình phân phối mới có sự tác động qua lại giữa sản xuất
và tiêu dùng và từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng quy mô tiêu dùng Ph.Ăngghen cho rằng:“Sự phân phối chừng nào mà còn bị những lý do thuần tuý kinh tế chi phối, thì nó sẽ được điều tiết bởi lợi ích của sản xuất, rằng sản xuất sẽ được thuận lợi trên hết trong mọi phương thức phân phối mà mọi thành viên trong xã hội có thể phát triển, duy trì và thực hiện những năng khiếu của họ một cách toàn diện nhất”3
Tính chất của quan hệ phân phối do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định Khi ta xét về quan hệ giữa người với người thì phân phối do QHSX quyết định Quan hệ trong sản xuất như thế nào thì quan hệ trong phân phối như thế ấy Xã hội luôn tồn tại mối QHSX và sản phẩm; bản thân phân phối là sản phẩm của sản xuất không chỉ về nội dung mà cả về hình thức Phân phối không phải là một lĩnh vực độc lập đứng bên cạnh sản xuất; bản chất của quan hệ phân phối hoàn toàn do QHSX quyết định Mặt khác ta thấy rằng phân phối không chỉ đơn thuần là một kết quả tiêu cực của sản xuất và trao đổi mà nó còn tác động mạnh mẽ ngược trở lại trao đổi và sản xuất Phân phối có tính độc lập tương đối của nó, nó có chức năng cụ thể, có những quy luật đặc thù tác động tích cực đến các khâu của quá trình tái sản xuất Trước khi phân phối sản phẩm thì nó là phân phối những công cụ sản xuất và điều này là một quy định nữa của một mối quan
hệ ấy - phân phối các thành viên xã hội theo những loại sản xuất khác nhau
2 Giá trị tư tưởng về quan hệ sản xuất của C.Mác và Ph.Ăngghen
2.1 Giá trị lịch sử
Tư tưởng về QHSX của C.Mác và Ph.Ăngghen là lần đầu tiên trong lịch
sử tìm ra mối quan hệ cơ bản, phổ biến trong xã hội, có vị trí đặc biệt quan trọng nó là tiền đề trực tiếp cho những phát hiện về chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong xã hội có vô số mối quan hệ liên quan chằng chịt, nếu như trước khi C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra QHSX thì các nhà tư tưởng đương thời vẫn cho rằng các hiện tượng trong xã hội là ngẫu nhiên Chỉ đến khi C.Mác và
3 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb.CTQG, Hà Nội.2004, tr 117
Trang 6Ph.Ăngghen phát hiện ra QHSX với điểm xuất phát từ sản xuất vật chất thì hai ông đã chỉ ra mối quan hệ cơ bản, phổ biến trong mọi thời đại đó là QHSX, đó
là tiền đề để C.Mác phát minh ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Ðể đi tới phát minh
vĩ đại này, trước hết C.Mác đã tiến hành phê phán và cải tạo căn bản phép biện chứng duy tâm của G.Hêghen, chủ nghĩa duy vật siêu hình của L.V.Phoiơbắc; đồng thời kế thừa những thành tựu lịch sử tư tưởng của nhân loại trước đó, xây dựng nên một triết học mới - triết học duy vật biện chứng, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ, đồng thời khẳng định triết học phải lấy sinh khí của mình từ thực tiễn, không chỉ giải thích thế giới mà còn phải cải tạo thế giới
Do đó để hiểu được con người, C.Mác đã đi sâu nghiên cứu quá trình sản xuất vật chất của con người trong xã hội, nghiên cứu tìm ra QHSX, chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX, từ đó đi tới nhận thức về mặt
xã hội của bản chất con người: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”4 C.Mác khẳng định, lịch sử chính là lịch sử hoạt động của những con người hiện thực, nó không phải là thần bí, tự phát mà hoàn toàn có thể nhận thức được Lịch sử vận động một cách có quy luật, dựa trên những tiền đề hiện thực, đó là một quá trình lịch sử, tự nhiên Bằng cách đó, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng triệt để trong triết học, sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, vạch ra quy luật phát triển của xã hội loài người
Tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về QHSX là căn cứ quan trọng nhất để tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất TBCN nói riêng và của nhân loại nói chung.
LLSX đã được nhiều nhà tư tưởng đề cập đến trực tiếp hay gián tiếp ngay
từ thời cổ đại, nhưng QHSX trước C.Mác chưa ai phát hiện ra; cũng chính vì vậy mà sự phát triển của xã hội trước C.Mác thì không một nhà tư tưởng nào tìm
ra nguyên nhân của sự vận động, phát triển; tìm ra những quy luật của sự vận
4 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb.CTQG, Hà Nội.2004, tr 11
Trang 7động và phát triển của lịch sử Chỉ đến khi C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra QHSX đây là mối quan hệ cơ bản xuyên suốt trong mọi xã hội, đồng thời nó luôn có mối quan hệ với LLSX Từ đó hai ông tìm ra quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đây chính là quy luật cơ bản chi phối và xuyên suốt sự phát triển trong lịch sử, cho nên có thể thấy nếu như không phát hiện ra QHSX thì sẽ không phát hiện ra quy luật
C.Mác và Ph.Ăngghen từ nghiên cứu QHSX hai ông chỉ ra mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX LLSX và QHSX là hai mặt
cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó LLSX là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn QHSX là hình thức xã hội của quá trình đó Trong đời sống hiện thực, không có sự kết hợp của các nhân tố trong quá trình sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến các đối tượng vật chất Cho nên không có đối tượng nào tự nhiên có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định Ngược lại, cũng không có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đời sống hiện thực chỉ với những QHSX không có nội dung vật chất của nó Như vậy, LLSX và QHSX quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiện thực của xã hội Tương ứng với trình độ phát triển nhất định của LLSX cũng tất yếu đòi hỏi phải có QHSX phù hợp với trình độ đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất;
tổ chức, quản lý quá trình sản xuất và phân phối kết quả của quá trình sản xuất Chỉ có như vậy, LLSX mới có thể được duy trì, khai thác, sử dụng và không ngừng phát triển Ngược lại, LLSX của một xã hội chỉ có thể được duy trì, khai thác, sử dụng và phát triển trong một hình thức xã hội nhất định
Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về QHSX là nội dung, đồng thời là
cơ sở cho hình thành và hoàn thiện khái niệm hình thái kinh tế - xã hội, là khái niệm thể hiện tính trừu tượng hóa, khái quát cao nhất của CNDVLS
Hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cốt lõi để C.Mác phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong các phạm trù cấu thành phạm trù hình thái kinh tế
Trang 8xã hội thì phạm trù QHSX là đặc trưng nhất thể hiện bản chất hình thái kinh tế
-xã hội Bởi vì -xã hội là tổng thể của nhiều lĩnh vực với những mối quan hệ -xã hội hết sức phức tạp Các yếu tố cấu thành một hình thái kinh tế - xã hội bao gồm: Một là, các LLSX của xã hội ở một trình độ phát triển nhất định, đóng vai trò là cơ sở vật chất, kỹ thuật của xã hội đó Hai là, hệ thống QHSX được hình thành trên cơ sở thực trạng phát triển của LLSX, đóng vai trò là hình thức kinh
tế của các LLSX đó; những QHSX này hợp thành một cơ cấu kinh tế của xã hội, đóng vai trò là cơ sở hạ tầng kinh tế của việc xác lập trên đó một kiến trúc thượng tầng nhất định Ba là, hệ thống kiến trúc thượng tầng được xác lập trên
cơ sở hạ tầng kinh tế, là các hình thức chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá của các QHSX của xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng
để phân tích đời sống xã hội, tiến hành trừu tượng hóa các quan hệ xã hội và phân tách ra những QHSX, Đồng thời phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ phụ thuộc của nó với thực trạng phát triển của LLSX hiện thực Phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ với toàn bộ những quan hệ xã hội khác, tức với những quan hệ thuộc kiến trúc thượng tầng chính trị, xã hội từ đó cho thấy rõ xã hội là một hệ thống cấu trúc các lĩnh vực cơ bản tạo thành Như vậy có thể thấy QHSX là khâu trung tâm để kết nối các yếu tố, các phạm trù của hình thái kinh tế - xã hội QHSX là nội dung cốt lõi, đồng thời QHSX là cơ sở
để hính thành quan niệm hình thái kinh tế - xã hội
2.2 Giá trị thời đại
Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về QHSX là cơ sở khoa học đánh giá sự khác nhau giữa các xã hội qua các thời đại khác nhau, đồng thời cũng xác định trình độ phát triển của một chế độ xã hội trong sự phát triển của lịch
sử
Hình thái kinh tế - xã hội gồm ba mặt cơ bản: LLSX và QHSX, tổng hợp các QHSX hợp thành cơ sở hạ tầng và trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng tương ứng LLSX là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế
Trang 9-xã hội LLSX là yếu tố suy đến cùng quyết định sự hình thành và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội QHSX là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội này với xã hội khác Những QHSX tạo thành “bộ xương” của hình thái kinh
tế - xã hội, nó hợp thành cơ sở hạ tầng của xã hội Trên nền tảng cơ sở hạ tầng hình thành các quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học,… cùng các thiết chế tương ứng gọi là kiến trúc thượng tầng xã hội với chức năng bảo vệ duy trì, phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó
Trong khái niệm hình thái kinh tế - xã hội, các bộ phận luôn có quan hệ biện chứng với nhau: trong đó QHSX là cái cơ bản quyết định tất cả các quan hệ
xã hội khác, trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế, làm nổi bật QHSX là quan hệ
cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả Điều này chỉ rõ phương pháp nhận thức xã hội của hai ông là quy toàn bộ sự phong phú của các quan hệ xã hội vào QHSX, đồng thời xem xét những QHSX để giải thích sự vận động của các hình thái kinh
tế - xã hội - hai mặt này hợp thành phương thức sản xuất nền tảng vật chất của mọi hình thái kinh tế - xã hội Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là mối quan hệ cơ bản để xác định diện mạo của hình thái kinh tế
-xã hội
Như vậy, hình thái kinh tế - xã hội là một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người Tương ứng với một giai đoạn phát triển của xã hội loài người có một hình thái kinh tế - xã hội tương ứng Đó là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Cho nên bất kể một xã hội nào khi gắn với một lãnh thổ nhất định hay trên phạm vi thế giới đều gắn với một hình thái kinh tế - xã hội, do đó
để phân biệt các xã hội khác nhau đều dựa vào căn cứ là QHSX xem sở hữu tư liệu sản xuất là của ai, biểu hiện ra là tư hữu hay công hữu để phân biệt
Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về QHSX là cơ sở khoa học vạch trần bản chất CNTB
Ngày nay, CNTB đã điều chỉnh thích nghi và còn tiềm năng phát triển Các học giả tư sản thường xuyên nói đến một xã hội “hậu tư bản”, một “chủ
Trang 10nghĩa tư bản nhân dân” hay “chủ nghĩa tư bản xã hội”, hay “nền văn minh hậu công nghiệp”… trong đó phúc lợi ngày càng được chia đều cho mỗi người Điều
đó có nghĩa là xã hội hiện nay không còn phân chia ra kẻ bóc lột và người bị bóc lột Để biện minh cho luận điểm của mình các học giả tư sản cho rằng, khoa học ngày nay đã trở thành LLSX trực tiếp, kinh tế hiện đại cũng đang chuyển dần sang kinh tế tri thức Vì vậy, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất không còn đóng vai trò quan trọng như đã có trong các thế kỷ trước; sở hữu trí tuệ đã thay thế vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất trong việc đưa loài người tiến lên; chủ thể của sự phát triển và tiến bộ khoa học là các nhà khoa học chứ không phải các ông chủ
tư sản
Trên thực tế, những sáng chế phát minh khoa học và công nghệ được nảy sinh trong trí não một nhà phát minh nào đó, chỉ anh ta biết và thuộc sở hữu của anh ta, như vậy mới chỉ dừng lại là một tiềm năng sản xuất Để trở thành một LLSX mới, phát minh đó phải trải qua một quá trình ứng dụng, thử nghiệm nhiều lần trước khi có thể sản xuất đại trà Nếu nhà phát minh có tiền, họ tự mình làm thử nghiệm, công bố kết quả, đăng ký sở hữu trí tuệ rồi đứng ra sản xuất theo công nghệ mới thì người đó vừa là nhà tư bản vừa là nhà phát minh Tuy nhiên, thực tế các nhà khoa học, không có tiền để đầu tư, thử nghiệm nên buộc phải bán sản phẩm của mình như một thứ hàng hóa cho nhà tư bản Nhà tư bản sử dụng hàng hóa đó như một công cụ hữu hiệu để tăng năng xuất lao động, tăng giá trị thặng dư cho mình Như vậy, lúc đầu, sáng chế, phát minh, thuộc sở hữu của nhà khoa học nhưng thông qua hành vi mua và bán trên thương trường, những sáng kiến, phát minh sau đó đã thuộc sự sở hữu của các nhà tư bản Điều
đó có nghĩa là những phát minh trong lĩnh vực khoa học và công nghệ chỉ trở thành LLSX trực tiếp dưới hình thức là tư bản
Mặt khác, trong xã hội hiện đại, do đòi hỏi khách quan, trình độ văn hóa
và nghề nghiệp của người công nhân cao hơn trước rất nhiều Cũng có trường hợp do tính chuyên nghiệp đặc thù của một khâu sản xuất do một người công nhân nào đó đảm nhiệm mà anh ta có thể mặc cả với ông chủ Từ đó, các học giả